Thứ Năm, ngày 12 tháng 12 năm 2019

Nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn (phần 2)

Ngày phát hành: 21/10/2019 Lượt xem 266

2. Kết quả thực hiện các mối quan hệ lớn
(1) Đảng và Nhà nước đã chú trọng hơn trong ban hành các cơ chế, chính sách, giải pháp có khả năng “tích hợp” được vai trò của cả ba nhân tố đổi mới, ổn định, và phát triển. Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển được đặt trọng tâm vào nhân tố con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cả đổi mới, ổn định và phát triển. Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước không ngừng được đổi mới và nâng cao hơn. Đây là một trong những nhân tố trọng yếu nhất đảm bảo cho quá trình đổi mới, ổn định và phát triển đất nước đạt được những thành tựu quan trọng.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển được giải quyết tương đối toàn diện, nhưng chưa coi trọng đúng mức tính đồng bộ giữa các yếu tố nói trên trong tổng thể, và giữa các lĩnh vực cụ thể (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, hội nhập quốc tế…), giữa các vùng, miền, địa phương. Đổi mới, ổn định và phát triển chưa thật sự được gắn kết chặt chẽ với nhau; có những nơi, những lúc quá chú trọng phát triển kinh tế, mất dân chủ đã không chú trọng đúng mức đến đảm bảo ổn định xã hội.
(2) Tư duy mới về kinh tế và chính trị đã làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế và đời sống chính trị, tạo ra bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế và sự ổn định về chính trị của đất nước.
Trong đổi mới kinh tế, Đại hội XII đánh giá: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện. Vai trò, hiệu quả, sức cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế được nâng lên. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và thông thoáng hơn. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã từng bước phù hợp với cơ chế thị trường; hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. 
Đường lối đổi mới kinh tế phù hợp với yêu cầu khách quan của thực tiễn đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất xã hội, thúc đẩy kinh tế của nước ta tăng trưởng vượt bậc, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Nhờ vậy, sau hơn 30 năm đổi mới chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước thoát khỏi khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành nước có thu nhập trung bình; hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế khu vực và thế giới, tạo thế và lực mới cho nền kinh tế.
Trong đổi mới chính trị, Đại hội XII đánh giá: Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo yêu cầu nhiệm vụ mới. Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh phù hợp hơn. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới. Đã ban hành nhiều quy chế, quy định, quy trình công tác để thực hiện, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị nhất là vai trò của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc. Quan điểm và thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan trọng và cơ bản. Vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao. Quốc hội có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt kết quả tích cực. Quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn.
Tuy nhiên, đổi mới chính trị vẫn còn chậm hơn so với đổi mới kinh tế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vẫn còn nhiều chính sách chưa phù hợp với cuộc sống, gây cản trở sự phát triển kinh tế; tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn tồn tại, có nơi có diễn biến phức tạp, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội có xu hướng hành chính hóa và bộ máy cồng kềnh; đổi mới trong bản thân lĩnh vực chính trị cũng còn những hạn chế.   
(3) Mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa được giải quyết, đạt kết quả bước đầu. Từng bước thể chế hóa thành hệ thống chính sách phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất, giải phóng các nguồn lực, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong hoàn thiện quan hệ sản xuất, đã phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, hoàn thiện bước đầu thể chế về phân phối dựa trên nguyên tắc thị trường, đổi mới cơ bản cơ chế quản lý đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực quan trọng. Việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất bước đầu được chú ý trong xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội. 
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện quan hệ sản xuất trong những năm vừa qua vừa chưa bắt nhịp được với tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất, vừa méo mó, thiếu đầy đủ trong nội dung của quan hệ sản xuất. Tư duy về hiện thực hóa yêu cầu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất chưa trở thành thường xuyên trong xây dựng và hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách phát triển. Chưa chú trọng phát triển con người; chất lượng nguồn nhân lực không được cải thiện căn bản. Tiềm lực khoa học - công nghệ chưa được khơi dậy và phát huy tốt, sự kết nối giữa nghiên cứu và triển khai chưa hiệu quả. 
(4) Việc thực hiện mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng từng bước quan hệ sản xuất, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa kịp thời vào các Văn kiện, thể chế trong suốt thời kỳ đổi mới đến này, đặc biệt là sau năm 2011. Nhờ vậy, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể; quan hệ sản xuất thay đổi cơ bản so với trước đổi mới và ngày càng hoàn thiện phù hợp hơn với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam được cải thiện trên nhiều mặt. Tỷ lệ biết chữ của dân số tăng từ 87,3% năm 1989 lên 95,1% năm 2017. Tỷ lệ lao động qua đào tạo (có bằng cấp, chứng chỉ) tăng từ 10,3% năm 2000 lên 21,4% năm 2017. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng dần qua các năm, từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 73,5 tuổi năm 2017. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm liên tục từ 62,2% năm 2000 xuống còn 38,1% năm 2018. Tỷ trọng lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo có công nghệ cao tăng từ 13,8% năm 2010 lên 20,3% năm 2017. 
Môi trường đầu tư liên tục được cải thiện đã thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư cho phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2018 gấp 2,2 lần vốn đầu tư năm 2010. Tính chung cả giai đoạn 2011-2018 tổng vốn đầu tư phát triển đạt 10.630,8 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4% GDP. 
Khoa học và công nghệ đã có sự phát triển đáng kể cả về năng lực và khả năng ứng dụng vào thực tiễn; đã hình thành hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ bao quát trên nhiều lĩnh vực. 
Với việc giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sau 30 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu với trên 80% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo lập môi trường thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho phát triển. 
Các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển tích cực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, giảm dần khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. 
Bên cạnh những thành tựu đạt được thời gian qua, trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, xuất hiện những mâu thuẫn mới, sự không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, làm cản trở sự phát triển của cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đó là:
Chưa bảo đảm được sự tương thích trong xây dựng, hoàn thiện giữa các mặt của quan hệ sản xuất, vẫn tập trung để thay đổi chế độ sở hữu hơn là đổi mới về quan hệ quản lý. Việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực của nền kinh tế còn hạn chế, bất cập; chậm chạp trong việc thay đổi thể chế làm kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất. Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý; kết nối cung cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập. Năng suất lao động thấp xa so với các nước trong khu vực. Việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên chưa hiệu quả, còn lãng phí, hủy hoại môi trường. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, thiếu đồng bộ; quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở hạ tầng còn bất cập. Khoa học và công nghệ chưa tương xứng với vai trò là động lực then chốt và nền tảng cho quá trình phát triển đất nước. Mức độ sẵn sàng trong áp dụng công nghệ và khả năng tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chưa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Trình độ công nghệ lạc hậu, chậm được đổi mới; chất lượng sản phẩm, năng suất lao động ngành công nghiệp còn thấp. Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước chưa được thể hiện rõ nét, không tương xứng với nguồn lực đang nắm giữ. Khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự là động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa tạo được hành lang pháp lý thuận lợi cho sự vận hành của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chế độ phân phối đổi mới chậm, còn nhiều bất hợp lý, chưa thực sự bình đẳng; chính sách tiền lương chưa tạo được động lực thu hút và sử dụng người tài. 
(5) Việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội đạt kết quả bước đầu
Nhà nước đã chú ý đến vai trò "bà đỡ" cho thị trường hình thành và phát triển. Hình thành thể chế về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhà nước đã dần hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính để các hoạt động của thị trường diễn ra chủ yếu theo sự hướng dẫn của các quy luật thị trường, đảm bảo nguyên tắc thị trường “tự điều chỉnh”; thể chế định giá, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ, đã được tự do hóa. Vai trò, chức năng của thị trường cũng càng được coi trọng, thể hiện rõ nét ở những điểm: thị trường đã thực sự từng bước là căn cứ để Nhà nước định hướng phát triển kinh tế thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…; thị trường/doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia cung ứng các dịch vụ xã hội; thị trường là căn cứ để tạo một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc; thị trường tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế. Cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước. Khu vực tư nhân có sự phát triển mạnh trong các lĩnh vực pháp luật không cấm, và tham gia cung ứng dịch vụ công. Phát triển các doanh nghiệp xã hội và các hội tự quản. Có sự gắn bó hơn giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ngay trong quá trình xây dựng và thực thi chủ trương, chính sách. 
Bên cạnh đó, việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội ở nước ta còn nhiều vướng mắc, bất cập, như lẫn lộn vai trò giữa Nhà nước và thị trường. Hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế còn thấp. Kinh tế Nhà nước cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, tập trung vào các vấn đề như: việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản; phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước... Còn tình trạng thiếu bình đẳng, hạn chế tính cạnh tranh và làm suy giảm năng lực kinh doanh của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Thể chế kinh tế thị trường ở nước ta vẫn chưa thực sự tôn trọng vai trò, chức năng của thị trường, chưa thực sự coi thị trường là một thực thể khách quan, các yếu tố thị trường, các loại thị trường trong nền kinh tế chậm được đồng bộ hoá. Vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền và phát triển kinh tế tư nhân chưa có được môi trường thuận lợi. Nhận thức và hoạt động của các tổ chức xã hội còn một số hạn chế. Chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội không rõ ràng. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân còn có những hạn chế, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có mặt còn hình thức….
(6) Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã được tích cực triển khai trên thực tế thông qua việc ban hành và thực hiện các luật, chiến lược, kế hoạch, chương trình và chính sách phát triển về văn hóa; xóa đói, giảm nghèo; giảm bất bình đẳng; tạo việc làm; trao quyền cho phụ nữ; phát triển con người và thúc đẩy đổi mới, sáng tạo…Cùng với quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, Việt Nam đã có nhiều bước phát triển mới, xét trên tất cả các khía cạnh, từ phát triển văn hóa; xóa đói, giảm nghèo; giảm bất bình đẳng; tạo thêm việc làm mới; trao quyền cho phụ nữ; phát triển con người và thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. 
Hàng ngàn di tích văn hóa được trùng tu, tôn tạo; hàng trăm lễ hội truyền thống được phục hồi; nhiều làn điệu dân ca, các huyền thoại, truyền thuyết, các bộ sử thi... di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được công nhận ở cấp quốc gia, quốc tế và thực tế đã trở thành những di sản chung của văn hóa nhân loại. Văn hóa truyền thống, văn hóa của các dân tộc thiểu số được chú trọng, đầu tư phát triển, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo tồn, khẳng định giá trị, bản sắc của văn hóa Việt Nam . Đời sống văn hóa tinh thần, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân cũng được khôi phục, tôn trọng. Một số mô hình, thiết chế, phong trào văn hóa (như Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa), đã được thiết lập, triển khai sâu rộng và đem lại nhiều kết quả tích cực. Bên cạnh đó, Việt Nam chủ trương xây dựng một thị trường văn hóa nhân văn, hiện đại trên cơ sở phát triển ngành công nghiệp văn hóa. Kinh tế tăng trưởng liên tục giúp Việt Nam từ chỗ là một nước kém phát triển trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Mức độ bất bình đẳng tính theo hệ số Gini dựa trên chi tiêu có xu hướng giảm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm được giữ ở mức thấp và cùng có xu hướng giảm dần, đồng thời với việc nhiều việc làm mới được tạo ra. Bình đẳng giới ở Việt Nam cũng ngày càng tiến bộ và được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực từ chính trị cho tới kinh doanh và văn hoá-xã hội với tỷ lệ phụ nữ tham gia quốc hội, các cấp chính quyền và kinh doanh cao. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã liên tục có sự cải thiện cùng với tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học cao và tỷ lệ lao động qua đào tạo liên tục gia tăng. Chỉ số sáng tạo liên tục tăng đã giúp cho nền kinh tế đã vươn lên nhóm nửa trên bảng xếp hạng toàn cầu. 
Tuy nhiên, việc giải quyết mối quan hệ này còn một số hạn chế, bất cập: Thứ nhất, mặc dù liên tục tăng trưởng nhưng tỷ lệ tăng trưởng chưa ổn định và chưa cao, đủ để tạo ra sự đột phá trong phát triển của nền kinh tế; hiệu quả sử dụng các nguồn lực, nhất là nguồn lực nhà nước chưa cao. Thứ hai, bất bình đẳng thu nhập đạt mức cao và có xu hướng gia tăng giữa nhóm người giàu nhất và thấp nhất cũng như giữa thành thị và nông thôn. Thêm vào đó, bất bình đẳng cũng cao hơn ở những tỉnh có mức thu nhập thấp. Thứ ba, tỷ lệ nghèo tính theo cách tiếp cận đa chiều vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Thứ tư, số việc làm mới được tạo ra trong nền kinh tế tuy vẫn tăng nhưng đang có xu hướng chậm dần; tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm được duy trì ổn định ở mức thấp nhưng việc làm nhìn chung vẫn chưa bền vững khi khá nhiều công việc chưa mang tính lâu dài với năng suất và mức thu nhập còn thấp, còn có chênh lệch về thù lao giữa nam và nữ đối với cùng một loại công việc như nhau. Phụ nữ vẫn tập trung nhiều trong các ngành nghề ở khu vực phi chính thức, có thu nhập thấp, môi trường làm việc chưa đảm bảo và thiếu ổn định. Thứ năm, khả năng tiếp cận giáo dục đối với trẻ em thuộc hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhất định; tình trạng bạo lực học đường vẫn thường xuyên xảy ra; thiếu hụt lao động có tay nghề cao và tồn tại sự chênh lệch ngày càng lớn giữa lao động nam và lao động nữ về tiếp cận đào tạo nghề ở một số nhóm dân tộc thiểu số; chất lượng giáo dục đại học chưa đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi cao của nền kinh tế…
(7) Chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong thực hiện mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ý thức về kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược ngày càng được nâng cao. Kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược được tiến hành đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nhĩa.
Tuy nhiên, còn có biểu hiện nhận thức chưa đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở một bộ phận cán bộ, quần chúng nhân dân. Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, chưa đạt hiệu quả cao. 
(8) Việc xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đã thu được những thắng lợi ấn tượng. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã khẳng định “Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, trong thời gian qua, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng. Môi trường hòa bình thuận lợi cho sự phát triển, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững” .
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về chính trị của nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành quả tốt đẹp. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á - Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất các sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.
Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương. Thành công của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài rõ nhất là đã hình thành các cụm sản xuất và phát triển các ngành sản xuất có trình độ công nghệ tiên tiến. Theo Tổng cục Thống kê, tới năm 2018, đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký gần 400 tỷ USD. Việt Nam đã được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương. Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước. 
Hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa - xã hội của nước ta với cộng đồng thế giới đã được đẩy mạnh, đa dạng về hình thức, phương thức, đối tác và có chuyển biến về chất lượng. Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày một nhiều hơn. 
Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng - an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh - quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh - quân sự toàn cầu. 
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. 
Với những tư duy chính trị - pháp lý mới của Cương lĩnh và Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên bộ máy nhà nước có sự phân công quyền lực nhà nước một cách mạch lạc giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và kiểm soát quyền lực trở thành một nguyên tắc Hiến định. Đến nay, bộ máy nhà nước được xây dựng và hoàn thiện thêm một bước theo tinh thần và nội dung của Hiến pháp 2013. 
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt nam năm 2015 giao cho một nhiệm vụ, quyền hạn mới là giám sát, phản biện xă hội. Với nhiệm vụ và quyền hạn mới này đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, chiến lược, đề án, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các địa phương.
Quyền lực chính trị của Đảng cả trong điều lệ của Đảng, và cả trong pháp luật của Nhà nước chưa được thể chế hóa, minh bạch, chặt chẽ, nhất là quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng và cá nhân đứng đầu tổ chức Đảng. Vì thế, cá nhân có trọng trách của Đảng và nhà nước ở các cấp, các ngành có điều kiện thao túng quyền lực. Không ít người đã lợi dụng quy trình, thủ tục và tập thể cấp ủy để hợp thức hóa ý muốn cá nhân mình.
Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước; cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp bao gồm cả cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong của mỗi quyền (tự kiểm soát mình) và cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo luật định, đến nay chưa ra đời đầy đủ và chưa hoàn thiện.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa thực sự trở thành động lực của sự phát triển. Nhiều quyền dân chủ trực tiếp của công dân được Hiến pháp ghi nhận đến nay chưa được thể chế hóa. Các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp còn mang nặng tính hình thức. 
Tóm lại, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Cương lĩnh 2011 đã khái quát thành 8 mối quan hệ lớn. Đại hội XII và một số nghị quyết Trung ương khóa XII đã hoàn chỉnh và phát triển thành 9 mối quan hệ. Đây là bước tiến về tư duy lý luận của Đảng ta. 
Nhận thức về nội hàm, nội dung của từng chủ thể trong từng mối quan hệ cũng như sự tác động tương hỗ, biện chứng của các chủ thể đó được thể hiện ngày càng rõ. 
Việc giải quyết đúng 9 mối quan hệ lớn đã tạo ra cho đất nước ta có được phát triển đi đúng mục tiêu, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể nói chưa bao giờ đất nước ta lại có được cơ đồ, vị thế và uy tín như ngày nay.
Chín mối quan hệ là chỉnh thế thống nhất, đã được thể hiện khá rõ trong tư duy lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trong đường lối, chính sách cụ thể. Mặt khác khi thực hiện các mối quan hệ đã có sự nhận thức và hành động đúng khi giải quyết những mặt đối lập trong sự thống nhất, nên hạn chế được những thiếu sót, hạn chế, sai lầm lớn.
Tuy nhiên, nhận thức và triển khai thực hiện của từng mối quan hệ cũng như tổng thể các mối quan hệ với 8 đặc trưng, 8 phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội như trong Cương lĩnh 2011 đã nêu có lúc, có nơi còn lúng túng, chưa rõ. Sự quán triệt 9 mối quan hệ cơ bản, quan trọng này trong cán bộ, đảng viên chưa thật sự thường xuyên, đúng tầm, nên cán bộ Đảng viên nhân dân chưa quan tâm đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của 9 mối quan hệ này. Nhiều nội dung cụ thể, nội hàm của các mối quan hệ chưa được làm rõ hơn, sâu sắc hơn, về lý luận, thậm chí mới dừng lại ở mức chung chung mang tính phương pháp luận. Nhất là do chưa thật sự làm rõ được tính quy luật trong một số mối quan hệ, tính đặc thù và tính phổ biến ở Việt Nam, nên đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc ban hành những chính sách cụ thể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Còn chậm hoặc chưa cụ thể hóa những biện pháp, cách thức giải quyết một số mối quan hệ cũng như quan hệ nội tại của 9 mối quan hệ này.
3. Kiến nghị
(1) Cương lĩnh 2011 yêu cầu trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản, cần phải chú trọng nắm vững và quan tâm giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn. Từ thực tiễn thực hiện Cương lĩnh 2011, xây dựng và phát triển đất nước trong 10 năm qua cho thấy, việc giải quyết các mối quan hệ lớn có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng, bảo đảm cho sự ổn định chính trị - xã hội, sự phát triển đất nước nhanh, bền vững, hài hòa. Cũng từ thực tiễn ấy cho thấy, cần tiếp tục làm sâu sắc hơn nhận thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mối quan hệ lớn đã đặt ra, đồng thời tiếp tục làm rõ hơn nội hàm và bổ sung những mối quan hệ lớn cần giải quyết trong thời gian tới. Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương khóa XII đã bổ sung mối quan hệ giữa “Nhà nước, thị trường và xã hội”. Thực tế vừa qua cho thấy, tình hình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa rõ về nội dung, thể chế, cách thức tổ chức thực hiện nên còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, có nơi, có lúc trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội chưa nghiêm, dân chủ không gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, gây nên những phức tạp, bức bối trong xã hội. Với tinh thần ấy, đề xuất bổ sung mối quan hệ về “Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Vấn đề môi trường là vấn đề lớn, hệ trọng và đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Vì thế, cần phát triển bổ sung nội dung bảo vệ môi trường vào mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”.
Cần đưa vào Văn kiện Đại hội XIII: “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn cần chú trọng nhiều hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập tự chủ; phát huy quyền làm chủ của nhân dân”.
(2) Tiếp tục tổng kết, nghiên cứu lý luận về 10 mối quan hệ lớn nêu trên.

(hết)

 

PGS.TS Nguyễn Viết Thông


Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết