Thứ Bảy, ngày 04 tháng 07 năm 2020

Những đột phá cần có để nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Ngày phát hành: 29/06/2020 Lượt xem 131

Những đột phá cần có để nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Cho đến giờ phút này sau một thời gian phát triển quá nhanh về số lượng có thể nói chất lượng (CL) là vấn đề quan trọng nhất của giáo dục (GD) đại học (ĐH) Việt Nam, cũng là kỳ vọng của cả một dân tộc, một thế hệ người Việt Nam đối với nền giáo dục đại học nước nhà.

 

 

Trước hết cần thống nhất nhận thức về chất lượng

Chất lượng là gì? Có rất nhiều định nghĩa về CL xuất phát từ góc nhìn khác nhau. Có thể liệt kê ra đây. CL là sự xuất sắc. Tuy nhiên, không phải mọi trường ĐH đều có thể là Havard hay MIT. Không tồn tại một quốc gia nào chỉ có các trường ĐH xuất sắc (kể cả Hoa Kỳ). Một trường ĐH điển hình trong khu vực với sứ mệnh phát triển đất nước của mình sẽ chọn một mục tiêu khác với một trường như Berkeley. Ngoài ra CL còn được định nghĩa là sự hài lòng của khách hàng. CL còn là một ngưỡng. CL là giá trị gia tăng, có nghĩa là giá trị thêm vào người học trong quá trình GD và đào tạo. CL là đáng giá với đồng tiền đã bỏ ra từ người học và từ nhà đầu tư cho dù nhà nước hay tư nhân. Khái niệm CL này tập trung vào hiệu quả. Nó đo lường kết quả đầu ra so với đầu vào. Khái niệm được chấp nhận phổ biến nhất là sự đáp ứng mục tiêu (fitness for purpose) khi mục tiêu là phù hợp (fitness of purpose). Vì thế, chúng ta phải kết luận rằng CL là một khái niệm rất phức tạp. Trường ĐH phải phân biệt và đáp ứng các yêu cầu CL (mục tiêu) do sinh viên, do thế giới học thuật, do thị trường lao động (người sử dụng lao động)/xã hội, và do Đảng và Nhà nước kỳ vọng.

Mặt khác, chúng ta cần một cái nhìn tổng thể (holistic) về CL nhưng chúng ta lại chỉ có thể xác định CL khi xem xét các yếu tố cụ thể. Các Tổ chức xếp hạng các trường ĐH trên thế giới đều phải dựa trên các tiêu chí cụ thể của từng lĩnh vực hoạt động của nhà trường như đào tạo, nghiên cứu, phục vụ cộng đồng và quốc tế hóa. Mỗi bảng xếp hạng có những điểm ưu tiên riêng dựa trên một triết lý riêng về CLGDĐH. Không có trường nào số 1 trên tất cả các tiêu chí xếp hạng của tất cả các bảng xếp hạng CL trên thế giới.

1. Cần thiết phải có các tiêu chuẩn và tiêu chí để có thể đánh giá CL.

 Một trường ĐH có thể tự thiết lập các tiêu chuẩn/mục tiêu riêng của mình, nhưng làm như vậy, họ phải tính đến các tiêu chí và tiêu chuẩn được đặt ra ở thế giới bên ngoài. Vì vậy, VN chúng ta đã đặt ra một Bộ Tiêu chuẩn năm 2014 với 10 tiêu chuẩn và 61 tiêu chí sau đó là Bộ tiêu chuẩn 25 tiêu chuẩn và 111 tiêu chí dựa trên nền tảng của Bộ tiêu chuẩn đánh giá CL nhà trường ĐH của AUN-QA. Về cơ bản Bộ tiêu chuẩn cũ mà 117/122/237 trường ĐH đã được KĐ đạt chuẩn trước tháng 6/2018 là Bộ Tiêu chuẩn đánh giá kết quả. Hai Bộ tiêu chuẩn mới, một là đánh giá CL CTĐT và hai là đánh giá CL cơ sở GD mà chúng ta đang triển khai là hai Bộ tiêu chuẩn đánh giá công việc quản lý của Nhà trường theo nguyên lý PDCA. Tức là với bất kỳ lĩnh vực nào, dù là chiến lược, hệ thống, chức năng hay kết quả thì Nhà trường cũng phải lập kế hoạch (Plan), thực hiện (DO), rà soát đánh giá (CHECK) và cải tiến (ACT). Triết lý của Bộ tiêu chuẩn này là:

- Cải tiến liên tục để bước lên từng bậc thang của sự tiến bộ. Nếu không đổi mới và cải tiến thì trong thời buổi cạnh tranh sẽ bị tụt hậu không chỉ với quốc tế mà còn cả ở trong nước.

- Cần đối sánh để đặt ra những mốc chuẩn cho những bậc thang mà chúng ta cần phải bước tiếp. Đó là best practices - những thực hành tốt nhất trong và ngoài nước cần phải được tham chiếu để xác định bậc thang cho mình (benchmarking), để có thể tiến nhanh hay chậm. Kinh nghiệm kiểm định (KĐ) nhiều trường ĐH Việt Nam cho thấy đây là khâu khó nhất cùng với việc rà soát đánh giá (check) trước khi cải tiến bởi vì chúng ta không quen làm việc này.

- Cần có nguồn lực để tiến lên. Nhân lực, cơ sở vật chất (CSVC) và quan hệ đối ngoại để huy động nguồn lực từ bên trong và ngoài nước (outsourcing). Bản thân Bộ tiêu chuẩn AUN-QA cũng xác định rõ tại Tiêu chí 12.1: Kế hoạch để liên tục nâng cao CL Nhà trường bao gồm các chính sách, hệ thống, các quy trình, thủ tục và nguồn lực để có được các thực tiễn tốt nhất trong GD, nghiên cứu và dịch vụ. Nguồn lực ở đây bao gồm nhân lực, đội ngũ CBGV-NV, cơ sở vật chất, thư viện, tài chính và quan hệ đối ngoại.  

TĐG và KĐ đều công khai, công khai cả câu hỏi, đáp án và thang điểm (như kiểu rubrics). Vì vậy, có thể lí giải tại sao trường nào KĐ cũng đều đạt cả bởi vì sau khi TĐG mà tự thấy chưa đạt các mốc chuẩn thì không trường nào dám đăng ký KĐ. Cho đến thời điểm này mới chỉ có 140/237 trường đại học và cao đẳng sư phạm của nước ta KĐ đạt tiêu chuẩn. 

2. Luận cứ cho giải pháp đột phá

Theo định nghĩa thì đột phá có ba đặc điểm quan trọng: đột (đột ngột) và phá (công phá) và tiêu tốn ít nguồn lực. Thiếu một trong ba yếu tố này không thể được gọi là giải pháp đột phá. Giải pháp đột phá còn có thể được hiểu là phải thành công (công phá được sự cản trở) trong một thời gian ngắn (đột biến) và cần ít nguồn lực nhất so với các giải pháp khác.

Trong giáo dục có những giải pháp đã từng được chọn là đột phá như đổi mới chương trình và sách giáo khoa (CT&SGK). Trên thực tế đổi mới CT&SGK không phải là công việc có thể làm xong sớm, không bao giờ có thể làm xong trong một vài năm, càng không phải là ít tốn kém. Chu kỳ thay đổi CT&SGK GD phổ thông phải là 12+x năm. “x” là để xây dựng CT và biên soạn SGK cho cấp học đầu tiên và vài năm để đánh giá hiệu quả của CT&SGK mới. Vậy nên, đại đa số là chưa thực hiện xong việc đổi mới này thì đã xuất hiện nhu cầu đổi mới tiếp những điều chúng ta vừa đổi mới.  Tuy vậy, lại có những việc lúc triển khai mới nhận ra được tính chất đột phá của nó. Với GDĐH thì cho đến giờ phút này có thể nói 2 giải pháp mà chúng ta đã triển khai có thể được xem là giải pháp đột phá là: công tác đảm bảo (ĐB) và KĐCL ở các trường ĐH và trao quyển tự chủ cho các trường ĐH.    

Thứ nhất là, với công tác TĐG và KĐCLGD lần đầu tiên chúng ta tổng rà soát về công tác quản trị và quản lý ĐH ở quy mô toàn hệ thống. Công tác KĐ tạo điều kiện cho mỗi trường và cả hệ thống nhìn nhận lại mình một cách toàn diện dựa trên một mô hình ĐBCL cụ thể (hiện nay là của AUN-QA). Trước đó, khá nhiều điều các trường ĐH chưa làm được và cũng không biết nên điều chỉnh thế nào ngoài việc dựa trên kinh nghiệm quản lý. Công tác TĐG và KĐCL đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của toàn trường, từ Chủ tịch HĐT đến chị lao công. Trong quá trình quản lý CL tổng thể không ai có thể đứng ngoài cuộc. Cũng chính từ công tác TĐG và KĐCL mà các trường đã có những thay đổi khá cơ bản và bài bản trong công tác quản trị, quản lý và lãnh đạo. Điều này thấy rõ ở hầu hết các trường đã tham gia KĐ, đặc biệt là những trường thuộc nhóm trung bình khá trở xuống chiếm đa số trong các trường ĐH VN. Vì vậy, có thể nói một cách khách quan là việc đưa ra và triển khai thực hiện tự đánh giá và KĐCL các trường ĐH và cao đẳng là một bước tiến/ bước đột phá của GDĐH.

Thứ hai là giao quyền tự chủ cho các trường ĐH. Một giải pháp ít tốn kém nhất. Tuy rằng chưa có kết quả cụ thể nhưng phải xem đây là bước đi tất yếu là xu thế của GDĐH trên thế giới [1]. Trong bối cảnh hiện nay, trao quyền tự chủ cho Nhà trường cũng đồng nghĩa với việc thúc đẩy quá trình đổi mới, phát huy sáng kiến để Nhà trường mở rộng thị trường, tái cơ cấu Nhà trường để tồn tại và phát triển từ đó dẫn đến tái cơ cấu cả hệ thống. Vậy tự chủ ĐH tuy không định trước nhưng đã thiết thực thúc đẩy quá trình tái cơ cấu hệ thống GDĐH trước khi có những chỉ đạo ở tầm vĩ mô. Cũng xin lưu ý, tái cơ cấu hệ thống cũng chính là một trong những giải pháp đột phá mà đề tài “Định hướng chiến lược, giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản và toàn diện GD-đào tạo” do PGS.TS. Phạm Văn Linh làm Chủ nhiệm năm 2013-2015 đã đề xuất.

Cũng là một sự tình cờ không định trước chúng ta đã triển khai gần như song song tự chủ ĐH và kiểm định chất lượng (KĐCL) đại học. Tự chủ (autonomy) phải đi kèm với nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm (accountability) như hai mặt của một đồng xu. Mặt khác, các nhà khoa học đã chứng minh rằng KĐCL còn là công cụ để các trường ĐH giải trình với xã hội và là công cụ để Nhà nước và xã hội giám sát việc thực hiện quyền tự chủ của họ [2].

          Từ thực tiễn triển khai 2 giải pháp có tính đột phá nêu trên có thể rút ra 3 nhận xét sau:

- Để chủ trương giao quyền tự chủ cho các trường ĐH có thể thành công thì những cải cách trong tương lai nên triệt để hơn, tập trung vào tự chủ học thuật giảm bớt các từ “theo quy định”. Cụ thể là nên tạo cho các trường ĐH tự do hơn trong việc đưa ra các tiêu chuẩn nhập học riêng, mở ngành mới ở các trình độ khác nhau sau trung học để đáp ứng những biến động của thị trường nhân lực và việc làm theo xu thế tái cơ cấu chung của GDĐH thế giới hiện nay [3]. Cũng rất quan trọng để tìm sự cân bằng giữa quyền tự chủ và nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm thông qua việc thúc đẩy KĐ cơ sở GD và đánh giá các quy trình ĐBCL nội bộ thay cho việc ban hành các định chế.

- TĐG và KĐCL xuất phát từ triết lý của chính Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng các trường ĐH và CTĐT là tính bài bản và tuần tự nên chỉ là điều kiện cần để ĐBCL, không phải là điều kiện đủ cho sự tăng tốc. Làm đúng quy trình ĐBCL đã đủ chưa? Cần mà chưa đủ. Vấn đề mấu chốt chính là độ cao của các bậc thang liên tục phát triển; là nội dung của những đổi mới, cải tiến từ cơ cấu quản lý đến chính sách, đến kế hoạch và việc thực hiện trong hầu hết các lĩnh vực của Nhà trường như CTĐT, PP dạy học và đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu khoa học và dịch vụ. Bộ tiêu chuẩn chỉ yêu cầu cải tiến còn cải tiến như thế nào là việc của Nhà trường. Chọn đối tác để đối sánh, lấy đó làm chuẩn, vạch kế hoạch để đat tới chuẩn và sau khi đạt chuẩn thì tìm một chuẩn mới để tiếp tục phát triển. Bậc thang càng cao thì cố gắng càng phải lớn. Nhưng bước tiến bộ càng nhanh.

- Không phải tự chủ là cây đũa thần và chìa khóa vạn năng để phát triển GD ĐH. Nguồn lực cho GDĐH là hết sức quan trọng. Như đã phân tích trong [1] số trường ĐH top 500 toàn cầu của một quốc gia phụ thuộc tuyến tính vào nguồn lực quốc gia thể hiện qua tổng sản phẩm quốc nội. Các trường thí điểm tự chủ nếu không có những giải pháp huy động nguồn lực hiệu quả từ các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ và chuyển giao, dịch vụ, các nguồn lực khác huy động từ xã hội (như là các quỹ hiến tặng) v.v.. mà chỉ trông chờ vào nguồn thu học phí thì không thể bứt phá về chất lượng được.

Vì vậy, cần một/vài giải pháp đột phá khác nữa để có thể cộng hưởng với hai giải pháp đang triển khai tạo nên một nhóm giải pháp tăng tốc cho chất lượng GD ĐH Việt Nam.

3. Những yếu tố thực tiễn gợi ý cho các đột phá tiếp theo

Nhìn lại kết quả KĐCL trong thời gian qua (117 trường ĐH cao đẳng đợt 1 theo Bộ tiêu chuẩn 2014 và 23 trường đợt 2 theo Bộ tiêu chuẩn mới - cho đến ngày hôm nay) cũng như theo dõi các bảng xếp hạng quốc tế các trường ĐH có thể thấy bên cạnh những trường duy trì được chất lượng với nhịp điệu tuần tự (normal) truyền thống như các ĐH quốc gia, ĐH bách khoa … có những trường thể hiện được bước phát triển đột phá vượt trội ở từng lĩnh vực như công bố quốc tế, việc làm cho SV và huy động nguồn lực. Những vượt trội này thể hiện không chỉ trong kết quả KĐCL mà còn trong các bảng xếp hạng quốc tế.

Bảng xếp hạng QS University Ranking (Bảng xếp hạng toàn cầu có uy tín nhất theo Wikipedia 2020 và là bảng xếp hạng ĐH được xem xét rộng rãi nhất trên toàn thế giới theo Alexa Internet) cho thấy Việt Nam trong 2 năm 2019 và 2020 có ĐH quốc gia TPHCM đứng vào nhóm 701-750 thế giới và ĐH quốc gia Hà Nội thuộc nhóm 801-1000; có 8 trường lọt vào nhóm 500 Châu Á bao gồm ĐHQG TPHCM xếp hạng 143, ĐHQG HN 147, ĐH Tôn Đức Thắng 207, ĐHBK HN 261-270, ĐH Cần Thơ, ĐH Đà Nẵng 401-450, ĐH Duy Tân, ĐH Huế 451-500 [4]. Dễ thấy rằng trong khu vực công có ĐH Tôn Đức Thắng và trong khu vực tư có ĐH Duy Tân thể hiện bước đột phá khi ĐH Tôn Đức Thắng đứng trên ĐHBK HN và ĐH Duy tân đứng ngang với ĐH Huế. Nguyên nhân là gì?

Nghiên cứu chi tiết Bảng điểm QS có thể thấy rằng Trường Tôn Đức Thắng đã đột phá vào khâu outsourcing - huy động nguồn lực từ bên ngoài vượt trội so với cả 2 ĐHQG trong 4 tiêu chí: i) mạng lưới nghiên cứu quốc tế (79.4 so với 62.3 và 51.1), ii) trao đổi trong nước (84.5 so với 44.1 và 35.3), iii) trao đổi ngoài nước (49.7 so với 28.3 và 3.4), iv) giảng viên quốc tế (78.4 so với 34.3 và 11.7). Từ đó, Trường ĐH Tôn Đức Thắng cũng vượt trội trong 2 tiêu chí về công bố: i) Bài báo quốc tế/GV (7.3 so với 5 và 2.6) và ii) trích dẫn/bài báo (65.5 so với 55.2 và 51.9) [5]. Tuy vậy, uy tín trong các nhà tuyển dụng (18.4 so với 34.4 và 42.1) và trong giới học thuật (9.8 so với 33.7 và 42.9) của ĐH Tôn Đức Thắng vẫn còn thấp hơn hẳn 2 ĐHQG. Trường ĐH Duy Tân cũng được đưa vào bảng xếp hạng do tiêu chí GV quốc tế là khá (17.6) so với 11.7 của ĐHQG-HCM.

Mặt khác, nếu phân tích theo tiêu chí QS Start của 2 trường của VN tham gia đánh giá (FPT được 3* và Nguyến Tất Thành được 4* - Tối đa là 5*+) [6] cũng cho thấy định hướng đột phá của 2 trường này là cơ sở vật chất (5*) và việc làm cho SV tốt nghiệp (5*). Ngoài ra trường Nguyễn Tất Thành còn định hướng tiếp cận bình đẳng vào các cơ hội và nguồn lực cho những người chịu thiệt thòi (inclusiveness 5*) và phát triển học thuật (5*) tốt hơn FPT (3* và 1* tương ứng). Tuy rằng tính điểm chung Trường Nguyễn Tất Thành được 4* theo QS Star nhưng lại không có trong bảng tổng sắp các trường top 500 châu Á theo thang QS[1].

 Bên cạnh các trường có các đột phá vào từng khâu trong nâng cao chất lượng nêu trên cũng cần phải kể đến trường ĐH Phenikaa (Thành Tây cũ) với những đột phá về đầu tư cơ sở vật chất, có chính sách thu hút các nhà khoa học tài năng và phát triển nội lực trong nghiên cứu. Bảng chỉ số Nature [7] đã xếp ĐH Phenikaa ở vị trí khá cao trong top 10 các trường ĐH Việt Nam. Số liệu công bố năm 2020 (ngày 01/06/2020) cho thấy trong năm 2019, các học giả Việt Nam công bố 84 công trình (trên 80 tạp chí đã chọn) với tổng phần góp là 16.19 trong đó đứng đầu là Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ (31 công bố với phần góp 3.23) sau đó là ĐH Phenikaa (5 công bố với phần góp 2.98) đứng trên cả ĐH Duy Tân (14 công bố với phần góp 2.96), xếp trên cả 2 ĐHQG (3/1.06 và 15/0.96)[2].

4. Những bài học đột phá

Từ những phân tích thực tiễn ở trên chúng ta có thể rút ra hai bài học sau đây:

Thứ nhất là đột phá vào nguồn lực, thiếu nguồn lực bên trong thì huy động từ bên ngoài (outsourcing). Nguồn lực không chỉ là đầu tư tiền của mà còn là chất lượng đội ngũ, những người có khả năng mang lại tiền của cho Nhà trường theo các loại hình khác nhau từ việc tạo sức hút đối với người học đến việc chuyển giao công nghệ. Tất cả các trường được trích dẫn và đưa vào các bảng xếp hạng quốc tế nêu trên đều có đầu tư tốt cho cơ sở vật chất, đều có chính sách thỏa đáng về đội ngũ hoặc huy động tốt nguồn lực bên ngoài. ĐH Phenikaa trong một thời gian ngắn nhờ chính sách thu hút nhân tài tốt (khoảng 2 năm sau tái cơ cấu cổ đông) Nhà trường có bước đột phá về NCKH và công bố quốc tế. Ưu thế của giải pháp đột phá này còn là khai thác được Quỹ NAFORSTED của Bộ KH-CN và đề tài các cấp [8]. Bài học huy động nguồn lực bên ngoài thông qua mở rộng hợp tác trong và ngoài nước là của ĐH Tôn Đức Thắng và ĐH Duy Tân.  

Hướng đột phá thứ hai tập trung vào việc làm của SV tốt nghiệp (bài học 5* của FPT và Nguyễn Tất Thành). Rất nhiều thầy cô ở các trường mà chúng tôi đi kiểm định đều nói chỉ cần có đầu ra tốt SV sẽ đam mê học tập. Vậy đào tạo cho doanh nghiệp như FPT là một hướng. Còn hướng nào khác nữa? Không phải tất cả 237 trường đại học đều có thể tìm được doanh nghiệp lớn và chuyên ngành như FPT hoặc xây dựng mô hình liên kết với hơn 100 doanh nghiệp như Nguyễn Tất Thành. Vì vậy, thay cho việc cố gắng cung cấp cho SV một chỗ làm ổn định khi ra trường chúng ta còn có một cách đi khác là tạo cho các em năng lực tồn tại, lập nghiệp và phát triển trong rừng rậm của thị trường lao động. 

Nếu Nhà trường không tiếp cận được theo hướng xuất sắc dạy cho người học những gì cao siêu nhất, khó nhất đòi hỏi nhiều nguồn lực (hàng trăm, nghin tỷ đồng/năm) thì chúng ta tiếp cận GD hiện đại bằng việc khai thác cho được tài năng ẩn giấu trong mỗi con người để họ tự phát triển. Đây là triết lý GD của nền GD được cá thể hóa của Thế kỷ 21 đáp ứng cách mạng công nghiệp 4.0 hay còn được gọi là nền GD may đo [9]. Ai cũng có một tài năng ẩn giấu như mỏ quý nằm sâu trong lòng đất hoặc như nguyên tố hiếm phải chắt lọc kỳ công mới lấy ra được. Trách nhiệm của Nhà trường là giúp cho những tài năng đó phát lộ và giúp cho người học vượt trội từ những tài năng đó. Khi cảm thấy mình vượt trội (cho dù chỉ trong một ngóc ngách rất hẹp của năng lực) thì họ sẽ đam mê và chính từ sự đam mê ấy mà họ sẽ học tập tốt và hệ quả là sẽ có việc làm tốt, sẽ lập nghiệp được và sẽ thành đạt khi ra trường. Sự thành đạt của người học là bằng chứng cho CL của Nhà trường. Bằng chứng này còn cao hơn cả việc Nhà trường được thăng hạng trong các bảng tổng sắp.

 

GS.TSKH. Đặng Ứng Vận,

 Trường đại học Hòa Bình

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Ứng Vận, Nguyễn Thị Huyền Trang (2017) Tự chủ ĐH: nội dung, nguồn lực và trách nhiệm Tạp chí Khoa học GD số 141 tháng 6/2017, trang 1-6

2. Đặng Ứng Vận, Tạ Thị Thu Hiền (2019) KĐCL GD và tự chủ ĐH Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu GD Tập 35 số 1 (1-11).

3. Altbach P.G. Reisberg L, Rumbley L.E. (2009) Trends in Global Higher Education: Tracking an Academic Revolution UNESCO, Boston College Center for International Higher Education.

4. QS University Ranking https://www.topuniversities.com/university-rankings/asian- university-rankings/2020

5. Với thế mạnh này mà trong bảng xếp hạng các trường ĐH toàn cầu của ĐH Giao thông Thượng hải Trường Tôn Đức Thắng là trường duy nhất của Việt Nam lọt top 1000.

6. QS Star https://www.topuniversities.com/universities/nguyen-tat-thanh-university-nttu -hcmc

7. Nature Index https://www.natureindex.com/country-outputs/Vietnam

8. Báo cáo Tự đánh giá của Trường ĐH Phenikaa 2019 theo đó từ 2015 – nay, thực hiện 26 đề tài cấp NN (Nafosted), 03 đề tài cấp Bộ và tương đương, 04 đề tài cấp cơ sở; công bố 278 bài báo quốc tế danh mục ISI, SCOPUS (77 bài công bố cùng đối tác QT) và 40 bài báo trong nước; có 4 bằng sáng chế và 19 đơn đăng ký xin sở hữu trí tuệ được chấp nhận.

9. Đặng Ưng Vận (2019) Bàn về hệ thống GD ĐH đáp ứng cách mạng công nghiệp 4.0 Trang Thông tin điện tử - Hội đồng Lý luận Trung Ương / Nghiên cứu - Trao đổi (ngày 12/06/2019).



[1] Kết quả KĐCL 2017 cho thấy Trường Nguyễn Tất Thành chỉ đạt 80.33% số tiêu chí. Tức là vừa đủ để công nhận đạt chuẩn.

[2] Tuy vậy, lại không thấy có ĐH Tôn Đức Thắng trong top 10 này của Việt Nam.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết