Thứ Hai, ngày 25 tháng 03 năm 2019

Sự tha hóa quyền lực gắn với sự hủ bại về đạo đức là cội rễ của sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên

Ngày phát hành: 25/12/2018 Lượt xem 234


Trong các văn kiện của Đảng đã khẳng định : Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc nhận thức rõ bản chất, hình thức biểu hiện và nguyên nhân của sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, để trên cơ sở đó ban hành các chế định luật pháp, cơ chế, chính sách và giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục có hiệu quả là một yêu cầu bức thiết. 

I. Nhận thức về bản chất sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên                 
1. Khái niệm “suy thoái” 
Khái niệm suy thoái được hiểu là tình trạng suy giảm - thoái hóa - xuống cấp về chất (và có thể kèm theo cả về lượng) của một hiện tượng hay sự vật nào đó trong một quá trình vận động, làm cho hiện tượng hay sự vật đó không còn giữ được bản chất và chức năng khách quan đã được xác định (hay được xã hội thừa nhận). Khi nói tới sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thường nói tới sự suy thoái về phẩm chất đạo đức và năng lực của cá nhân cán bộ, đảng viên. Nhưng cần nhận thức rõ rằng cán bộ, đảng viên có hai tư cách : một tư cách là một cá nhân con người - một công dân trong xã hội; một tư cách khác quan trọng hơn đó là tư cách của một thành viên trong một tổ chức của đảng chính trị được xã hội trao trao cho trọng trách lãnh đạo nhà nước và xã hội (cầm quyền). Tư cách là một thành viên của tổ chức đảng cầm quyền thường phải có sự đòi hỏi phải cao hơn tư cách của một con người - công dân bình thường ở một số phương diện. Nhưng về nguyên tắc, bản chất tư cách của cán bộ, đảng viên và của người công dân bình thường phải có sự thống nhất về căn bản.
Vì thế, khi xem xét sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên không thể chỉ xem xét theo giác độ cá nhân của cán bộ đảng viên, mà điều quan trọng là phải thấy rõ mối quan hệ sự suy thoái của cán bộ đảng viên so với các giá trị, chuẩn mực của đảng cầm quyền đặt ra để lãnh đạo xã hội và đặt ra cho các thành viên của mình. Đồng thời xem xét sự suy thoái của cán bộ, đảng viên còn phải đối sánh với các yêu cầu khách quan đặt ra trong quá trình phát triển của xã hội đối với đảng cầm quyền, bởi vì khi những giá trị và chuẩn mực mà đảng cầm quyền đặt ra không những không đáp ứng mà còn “lạc hậu” so với đòi hỏi khách quan của sự phát triển cũng có thể coi đó là một dạng suy thoái. Vì thế khi nói tới sự suy thoái trong đội gũ cán bộ, đảng viên cần phải xem xét không chỉ phương diện tư cách cá nhân con người đó, mà còn phải xem xét theo phương diện chức năng xã hội của tổ chức đảng chính trị mà cán bộ, đảng viên đó là một thành viên đại diện; hơn nữa không thể chỉ xenm xét tư cách cá nhân cán bộ đảng viên đó mà phải xem xét trong tính hệ thống của một tổ chức đảng.
Tư cách của một cán bộ, đảng viên thường thể hiện ở hai mặt phẩm chất đạo đức và năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao. Khi nói về suy thoái phẩm chất và năng lực của cán bộ, đảng viên thì cần phải đối sánh phẩm chất - năng lực ấy với những giá trị và chuẩn mực nào (?). Có thể nêu ba cấp độ sau :
-  Những giá trị và chuẩn mực chung về con người và công dân được quy định trong các văn bản pháp lý của Nhà nước và trong các chuẩn mực đạo đức xã hội.
- Những giá trị và chuẩn mực được quy định trong điều lệ và trong các chế định của Đảng về yêu cầu phẩm chất đạo đức và năng lực của người cán bộ, đảng viên (thường có những yêu cầu cao hơn so với giá trị và chuẩn mực chung của xã hội về một số phương diện, như đức hy sinh vì sự nghiệp chung, tính tiền phong gương mẫu của người cán bộ, đảng viên, trách nhiệm xã hội…).
- Những giá trị và chuẩn mực mới do yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển của đất nước, của xã hội, đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải đổi mới, phải tự vượt lên chính mình, nếu không sẽ bị lạc hậu, bị trở thành lực cản đối với sự phát triển, vì những giá trị và chuẩn mực hiện tồn (dù là hợp pháp, đúng quy định, đúng chuẩn mực…) đã không còn thể hiện được tính tiền phong, tính “dẫn đường chỉ lối” của một đảng cầm quyền.
Như vậy, sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên cần phải được xem xét trong tổng thể cả ở ba cấp độ đó, đặt trọng tâm vào hai cấp độ sau (không đáp ứng với những giá trị và chuẩn mực hiện hành, và không có sự đổi mới và phát triển kịp thời những giá trị và chuẩn mực mới do yêu cầu thực tiễn đặt ra) trong đối sánh với việc thực hiện vai trò, chức năng xã hội của một đảng cầm quyền là lãnh đạo nhà nước và xã hội, nhất là trong bối cảnh đất nước đòi hỏi có sự phát triển mang tính đột biến, bước ngoặt, do điều kiện khách quan đặt ra. 
Khái niệm suy thoái phẩm chất và năng lực của cán bộ đảng viên còn cần phải xem xét trong sự khác biệt giữa đảng viên thường với đảng viên là cán bộ; giữa đảng viên là cán bộ cấp thấp, trách nhiệm thấp, quyền lực thấp với đảng viên là cán bộ giữ cương vị cao, trách nhiệm cao, quyền lực cao. 

2. Bản chất của sự suy thoái phẩm chất - năng lực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói : cán bộ, đảng viên phải có cả đức và tài, “vừa hồng vừa chuyên”, và “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của cán bộ, đảng viên về thực chất là sự suy thoái cả về đức và tài, sự suy thoái về hệ giá trị và chuẩn mực trong mỗi cán bộ, đảng viên so với yêu cầu của xã hội. Nhưng do cán bộ, đảng viên là thành viên của đảng cầm quyền, có nghĩa là nắm quyền lực nhà nước (ở những cấp độ khác nhau). Vì thế, sự suy thoái của cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền còn gắn liền với bản chất quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước. 
Cả Mác, Engghen, Lênin, Hồ chí Minh và các nhà lý luận chính trị trên thế giới về nhà nước, và thực tiễn phát triển của các loại nhà nước trên thế giới cho đến nay, cho thấy nhà nước đều chứa đựng trong mình nó bản chất quan liêu, thực thi quyền lực không phải khi nào cũng đúng với tuyên ngôn “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, quyền lực của nhà nước là quyền lực của nhân dân và được nhân dân ủy quyền (ở những mức độ khác nhau). Trong thể chế phong kiến, quyền lực của nhà nước là quyền lực của Vua, “cha truyền con nối”, không phải là quyền lực ủy quyền của thần dân. Việc thực thi quyền lực trong nhà nước phong kiến dựa cơ bản vào mức độ “anh minh” của đấng tối cao là Vua và thông qua bộ máy và đội ngũ quan lại phong kiến. Trong thể chế dân chủ cộng hòa, đại nghị, quyền lực nhà nước về danh nghĩa là quyền lực ủy quyền của nhân dân thông qua bầu cử (trực tiếp hay đại diện). Nhưng về bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực được nhân dân ủy quyền (theo nghĩa qua bầu cử) cho một đảng chính trị nào đó đứng ra lập chính phủ (nếu chiếm được đa số phiếu bẩu theo một tỷ lệ nào đó), hoặc một liên minh chính trị giữa một số đảng để có được đa số cần thiết (nếu không có đảng nào chiến được đa số phiếu theo quy định). Trên thực tế, bản chất quyền lực của nhà nước khi đó là đại diện quyền lợi cho đảng chính trị đó. Quyền lực nhà nước đó đại diện như thế nào (mức độ nào) cho ý chí và lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân và của cả dân tộc chính là phản ánh mức độ “của dân - do dân - vì dân” của nhà nước đó. Sai lệch giữa hệ giá trị và chuẩn mực phát triển mà nhà nước đó chế định và thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ, công chức do đảng cầm quyền cử ra so với những giá trị và chuẩn mực mà đông đảo nhân dân và xã hội kỳ vọng, so với yêu cầu phát triển khách quan, đã nói lên sự “suy thoái” (hay bất cập) về quyền lực của đảng cầm quyền và đội ngũ cán bộ đảng viên của đảng đó so với yêu cầu phát triển.   
Cán bộ, đảng viên là người được đảng cầm quyền trao trực tiếp sử dụng quyền lực của nhà nước để quản lý xã hội cùng với “quyền lực mềm” về quyền lãnh đạo chính trị của Đảng cầm quyền đối với nhà nước và xã hội. Khi đó cán bộ, đảng viên có khuynh hướng thường tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực. Khi đó sự suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đảng cầm quyền không chỉ phản ánh sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của các cá nhân cán bộ đảng viên, mà còn phản ánh thực chất mức độ sự suy thoái quyền lực nhà nước mà đảng đó đang cầm quyền. 
Vì quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, nền hành chính và bằng đội ngũ cán bộ, công chức của đảng cầm quyền làm việc trong hệ thống nhà nước với hệ thống giá trị và chuẩn mực xác định. Cho nên, khi đội ngũ cán bộ, công chức bị suy thoái, tức là hệ giá trị và chuẩn mực thực tế mà đội ngũ cán bộ công chức “thể hiện” cho xã hội thấy (hay được che dấu đi) không còn phù hợp (đáp ứng) với đòi hỏi của thực tiễn, quyền lực của nhà nước bị biến dạng, hay nói đúng hơn quyền lực nhà nước bị tha hóa. Khi đó quyền lực nhà nước với tuyên ngôn là của nhân dân, thực hiện vì lợi ích của nhân dân, trở thành quyền lực của bộ máy đứng trên nhân dân, vì lợi ích của bộ máy, của đội ngũ cán bộ đảng viên của đảng cầm quyền, lợi ích của đảng cầm quyền.
Quyền lực của nhà nước luôn gắn liền với quyền và lợi ích xã hội (theo nghĩa rộng cả về chính trị, kinh tế và xã hội…), do đó việc sử dụng và thực thi quyền lực nhà nước luôn gắn liền với quyền và lợi ích của từng đơn vị, từng cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước. Khi quyền lực nhà nước bị tha hóa, được thiết kế và bị sử dụng sai bản chất của nó sẽ là cội nguồn và gốc rễ dẫn đến sự tha hóa, suy thoái phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời ngược lại, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên bị suy thoái (mà biểu hiện rõ nhất là ở đặt lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình, lợi ích nhóm lên trên lợi ích của nhân dân, lợi ích của đất nước…), nó sẽ tìm mọi cách làm cho quyền lực nhà nước bị tha hóa, hướng vào bảo vệ quyền và lợi ích của bộ máy cầm quyền, của bội ngũ cán bộ, đảng viên cầm quyền bị suy thoái. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ một lần nói : "Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân";  "trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư" . Vì vậy, Người luôn nhấn mạnh rằng những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu.
 Như vậy, có thể thấy rằng:  Sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền có bản chất sâu sa ở sự tha hóa quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước không được kiểm soát có hiệu quả, gắn liền với sự tha hóa năng lực lãnh đạo - cầm quyền của đảng cầm quyền và sự tha hóa phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 
Trên thực tế, tất cả các các nhà nước, các đảng cầm quyền, các cán bộ, đảng viên của đảng đều hoạt động trong một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa hiện thực, với một trình độ phát triển cụ thể; chịu sự tác động qua lại với xã hội (cả những tác động tích cực và những tác động tiêu cực). Mỗi chủ thể trong xã hội đều có xu hướng thiết lập các quan hệ với nhà nước, với cán bộ và đảng viên của đảng cầm quyền để bảo vệ hay mưu cầu lợi ích của mình (có thể là chính đáng, hợp pháp, hay không chính đáng và phi pháp, hợp đạo lý hay phi đạo lý…). Các mối quan hệ tích cực có thể góp phần làm cho quyển lực nhà nước hiệu quả hơn, trong sáng hơn, minh bạch hơn, thúc đẩy sự phất triển của xã hội; nhưng các mối quan hệ tiêu cực sẽ làm cho quyền lực nhà nước bị tha hóa hơn, thúc đẩy sự tha hóa của đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền, kích hoạt mở rộng các quan hệ tiêu cực, “mờ ám” giữa các cơ quan nhà nước với các chủ thể liên quan trong xã hội. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển, thể chế phát triển, thể chế nhà nước pháp quyền, trình độ văn hóa và trình độ phát triển dân chủ của đất nước. Một biểu hiện rõ nhất của những tác động tiêu cực là hình thành mối quan hệ “chủ nghĩa tư bản thân hữu” giữa bộ máy nhà nước, cán bộ công chức nhà nước với các doanh nghiệp và với các “thể lực đen” ở không ít nước. 
Bản chất của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” là mối quan hệ giữa “quyền và tiền”, dùng quyền để mưu cầu tiền và dùng tiền để “mua quyền”, nó có thể làm biến dạng, biến chất quyền lực nhà nước từ tầng nền tảng cơ bản là hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách (được xây dựng có sự “cài cắm” theo lợi ích nhóm, hợp pháp hóa lợi ích nhóm), đến tầng thực thi trong thực tế (như vô hiệu hóa hay làm giảm hiệu lực của các chế định đúng đắn, làm chậm quá trình đưa các chế định đúng đắn vào cuộc sống, thiết lập hệ thống cơ sở “sân sau”…), đến việc đề ra các quy định và thủ tục gây khó khăn, nhũng nhiễu đòi hỏi phải “có đi, có lại” khi giải quyết công việc nhà nước…Sự “tương tác” mang tính “nhân - quả” giữa nhà nước, cán bộ - công chức nhà nước (đồng thời cũng là đảng viên của đảng cầm quyền) với các doanh nhân trong quan hệ “chủ nghĩa tư bản thân hữu” cùng với những tiêu cực khác trong thực thi quyền lực nhà nước trong xã hội đã cho thấy bản chất của nhà nước bị tha hóa ở mức độ nào. Sự tha hóa đó lại được “bảo lãnh” bởi những quy định pháp lý quan liêu, “đúng quy định, đúng quy trình, đúng quy hoạch, đúng sự chỉ đạo”, được “tha bổng, dung dưỡng” bởi thể chế thiếu các thiết chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả, bởi thực trạng xã hội khi mà nhiều người coi có những tiêu cực là đương nhiên, là cần thiết nếu muốn “được việc” (làm khác đi sẽ bị gạt ra ngoài, bị coi là không thức thời, không năng động, là “đạo đức giả”, các thang giá trị bị đảo lộn). Khi quyền lực của nhà nước bị tha hóa, cũng có nghĩa là hệ giá trị và các chuẩn mực làm nền tảng cho sự phát triển xã hội hiệu quả và lành mạnh bị biến dạng, một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể vừa là nạn nhân của sự tha hóa đó (đương nhiên không phải là tất cả). Quyền lực của nhà nước bị tha hóa, kém hiệu lực, hiệu quả luôn song hành với xã hội có nhiều tiêu cực, bất công. 
Trong điều kiện hiện nay, sự suy thoái của một đảng cầm quyền (và do đó là của đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng nói chung và hoạt động trong bộ máy nhà nước nói riêng) còn thể hiện ở một bản chất khác : đó là sự không đáp ứng về phẩm chất và năng lực đối với những đòi hỏi cao và thay đổi nhanh chóng, phức tạp, đa chiều, đầy mâu thuẫn, có tính đột biến - cách mạng của sự phát triển trong nước và quốc tế, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, vấn đề dân tộc, vấn đề con người, vấn đề dân chủ, vấn đề hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa… Điều này thể hiện chủ yếu ở việc các đảng, nhất là đảng cầm quyền không đưa ra được (hay đưa ra sai lệch) đường lối, cương lĩnh, chủ trương, chính sách phát triển, mục tiêu phát triển, các giá trị phát triển đảm bảo phản ánh được đầy đủ ý chí, nguyện vọng, lợi ích của đa số dân chúng - của quốc gia dân tộc, thể hiện được xu thế phát triển khách quan của thời đại. Các đảng cầm quyền rơi vào tình trạng như vậy (cùng với nhà nước mà đảng đó đang cầm quyền) thường đưa ra các chính sách bảo thủ, lạc hậu, chậm trễ, lỡ thời cơ, không tạo được động lực phát triển mạnh mẽ, và đưa đất nước vào tình trạng trì trệ, thậm chí khủng hoảng kinh tế - xã hội. Các đảng cầm quyền như vậy dần mất uy tín lãnh đạo, và khi bầu cử tổng thống hay quốc hội (nghị viện) tất yếu sẽ thất bại và mất quyền lãnh đạo nhả nước và xã hội. Điều này đã được minh chứng rất rõ qua các cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội ở nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây. Điển hình như cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội ở Pháp năm 2017 : cả Đảng Xã hội đã và đang cầm quyền nhiều năm, cả Đảng Cộng hòa đều đã thất bại. Đảng thắng lợi là Đảng Cộng hòa tiến bước, được thành lập từ một phong trào mới có một tuổi đời, chưa hề có kinh nghiệm cầm quyền. Người lãnh đạo của đảng đó là ông Macron mới 40 tuổi, vốn là một bộ trưởng trong chính phủ của Đảng Xã hội cầm quyền mà ông Macron là một đảng viên của đảng này. Khi ra khỏi Đảng Xã hội, ông Macron đã lập Đảng Cộng hòa tiến bước và lãnh đạo đảng này tranh cử, giành được chiến thắng vang dội cả ở bầu tổng thống và bầu quốc hội chỉ sau một năm, trở thành đảng cầm quyền. Bí quyết nào ở đây ? Chẳng có bí quyết nào cả, điều đơn giản và cũng là điều cốt lõi nhất là ông Macron và các đảng viên - cộng sự của ông đã đi sâu tìm hiểu và nắm được chính xác tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của đại đa số dân chúng, nhận thức rõ những vấn đề đặt ra và những yêu cầu khách quan của sự phát triển đất nước trong bối cảnh mới, nhận thức rõ xu thế của thời đại…Từ đó ông và đảng của ông đã đưa ra được cương lĩnh tranh cử với những mục tiêu và giải pháp đúng đắn, đáp ứng được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của đa số dân chúng; đồng thời đưa ra được những “gương mặt” tiêu biểu của đảng ra trang cử, với những giá trị và chuẩn mực mà xã hội tin tưởng. Thắng lợi của Đảng Cộng hòa tiến bước và của cá nhân ông Macron và sự thất bại của Đảng xã hội và các đảng khác, cho thấy, để trở thành đảng cầm quyền và cầm quyền lâu dài trong thể chế dân chủ, thì đảng đó và đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng đó không được để rơi vào tình trạng suy thoái - bất cập về phẩm chất và năng lực, thể hiện ở sự lạc hậu, bảo thủ trong đường lối, cương lĩnh, cơ chế, chính sách phát triển mà đảng đưa ra không đáp ứng với yêu cầu và xu thế khách quan của sự phát triển, không phản ánh được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của đông đảo dân chúng, đưa ra những gương mặt đại diện cho đảng để tranh cử không thể hiện được những phẩm chất và năng lực tiêu biểu được đông đảo quần chúng ủng hộ. Đây là bài học đắt giá cho bất cứ một đảng cầm quyền nào. Những đảng nào với đội ngũ cán bộ, đảng viên tự “ru mình” bằng những thắng lợi rực rỡ của ngày hôm qua, lấy đó làm giá trị và chuẩn mực cho ngày hôm nay, hoặc lấy thắng lợi hôm nay làm giá trị và chuẩn mực cho ngày mai thì sẽ phải nhận lấy những thất bại cay đắng. Sự suy thoái của một đảng nằm chính ngay trong sự suy yếu năng lực tự nhìn nhận về chính mình và nhìn nhận về yêu cầu và xu thế khách quan của sự phát triển. Sự suy thoái về năng lực lãnh đạo - cầm quyền của một đảng là hệ quả trực tiếp của sự suy thoái phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Sự suy thoái của một đảng (hay một tổ chức đảng cụ thể) và đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa mang bản chất của sự tha hóa quyền lực (khi chế định quyền lực không đúng, sử dụng quyền lực không đúng và không kiểm soát được quyền lực một cách hiệu quả), vừa mang bản chất sự suy thoái năng lực định hướng phát triển, “dẫn dắt” sự phát triển xã hội của một đảng chính trị, vừa mang bản chất xã hội khi cán bộ, đảng viên không những không tự “đề kháng” được trước những tiêu cực ngoài xã hội, mà ngược lại lại trở thành chủ thể bao che, “nuôi dưỡng” các tiêu cực xã hội. 
 II. Những biểu hiện chủ yếu của sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên 
Những biểu hiện của sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của một đảng chính trị, nhất là đảng cầm quyền, có thể là biểu hiện chung sự suy thoái của đảng, cũng có thể là biều hiện sự suy thoái chủ yếu của một loại cán bộ đảng viên nào đó, sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên nào đó. Những biểu hiện suy thoái có thể mang tính hệ thống, tính tập thể (nhóm), có thể mang tính cục bộ, cá biệt. Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đã nêu lên 27 biểu hiện suy thoái của cán bộ đảng viên từ thực tiễn của đảng ta. Về phương diện lý luận chung, từ thực tiễn trên thế giới xin nêu khái quát phân loại những biểu hiện suy thoái sau. 

1. Những loại biểu hiện suy thoái 
Có thể khái quát những loại biểu hiện suy thoái sau:
1) Sự suy thoái năng lực định hướng phát triển của đảng, thể hiện ở đảng không có (hoặc yếu) khả năng nắm bắt kịp thời, đúng thực trạng, bản chất và khuynh hướng vận động và phát triển của hiện thực khách quan (trong nước và quốc tế), và do đó đã không đưa ra được (hoặc đưa ra không chính xác) đường lối, cương lĩnh, chủ trương, chính sách phù hợp, kịp thời đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển, thể hiện được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của đa số dân chúng; không kịp thời thay đổi, điều chỉnh đường lối, cương lĩnh, chủ trương, mục tiêu, chính sách khi tình hình thực tế đã thay đổi.  
2) Đảng cầm quyền thiếu năng lực xây dựng và lãnh đạo một thể chế nhà nước pháp quyền mạnh, dân chủ, sáng tạo để thể chế hóa đường lối, cương lĩnh, chủ trương, chính sách của đảng thành các chế định pháp lý của nhà nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của đa số dân chúng, được đa số dân chúng ủng hộ.
3) Đảng cầm quyền và nhà nước không xây dựng và chế định được hệ thống các thiết chế và giải pháp kiển soát quyền lực có hiệu quả, hoặc thực thi các thiết chế, giải pháp kiểm soát quyền lực không nghiêm. Quyền lực của nhà nước do dân ủy quyền bị biến thành quyền lực của bộ máy quan liêu, quyền lực của cá nhân cán bộ, công chức; không thực hiện tốt bản chất “công bộc” và trách nhiệm giải trình trước nhân dân và xã hội.
 4) Tính thượng tôn pháp luật không nghiêm trong hệ thống đảng cầm quyền và nhà nước; tồn tại hiện tượng lạm quyền, coi thường kỷ cương phép nước. Nền hành chính có nhiều tiêu cực, hiệu lực và hiệu quả không cao. Tình trạng làm trái đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật và chính sách của nhà nước gây thiệt hại cho dân và cho đất nước.
5) Tình trạng tham nhũng, nhũng nhiễu, sử dụng lãng phí và làm thất thoát của công không được ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả.
 6) Tình trạng mất dân chủ, quan liêu, độc đoán - chuyên quyền; bệnh thành tích, bệnh hình thức, báo cáo sai sự thật, che dấu khuyết điểm; tình trạng chạy chức, chạy quyền.
 7) Tình trạng suy thoái về chính trị - tư tưởng đi ngược với mục tiêu xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa “Dân giàu - nước mạnh - dân chủ - công bằng - văn minh”.
 8) Tình trạng suy thoái phẩm chất - đạo đức - lối sống trong đội ngũ cán bộ, công chức và đảng viên; suy thoái phẩm chất “công bộc”, liêm chính, đức hy sinh, chí công vô tư; thái độ vô cảm, coi thường dân.
 9) Thiếu ý thức và tinh thần học tập vươn lên không ngừng; thiếu tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; trình độ chuyên môn không đáp ứng yêu cầu, năng lực thực thi nhiệm vụ hạn chế. 
2. Cấp độ biểu hiện suy thoái
Về cấp độ biểu hiện suy thoái cũng cần được làm rõ để thấy mức độ phổ biến, tính liên kết, tính lan tỏa của các hiện tượng suy thoái. Một cách khái quát có thể nêu lên các cấp độ biểu hiện suy thoái sau :
- Những suy thoái mang tính cá nhân, là biểu hiện của từng cá nhân. Đây là những suy thoái không mang tính liên kết nhiều người, nhiều cấp (ví dụ các tham nhũng được gọi là “tham nhũng vặt”).
- Những biểu hiện suy thoái mang tính tập thể liên kết trong các lợi ích nhóm, có thể theo chiều ngang hay chiều dọc, và cũng có thể là hỗn hợp cả theo chiều ngang và chiều dọc.
- Những biểu hiện suy thoái mang tính xã hội dù trái với các quy định hiện hành, trái với “đạo lý” nhưng lại được xã hội “chấp nhận” công khai như một sự đương nhiên (như các hội nghị, hội thảo khoa học làm một buổi tính thành một ngày, làm một ngày tính thành hai ngày để có kinh phí trang trải; hiện tượng phải “bôi trơn”, phong bao, phong bì trong nhiều quan hệ với cơ quan công quyền…).
- Những biểu hiện suy thoái mang tính thể chế, tức là do sơ hở, bất cập của các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách hiện hành, mà các chủ thể trong xã hội ở mọi cấp có thể tìm cách mưu cầu lợi ích riêng cho mình gây tổn hại đối với lợi ích chung hoặc lợi ích của các chủ thể khác một cách hợp pháp (ví dụ những sơ hở, bất cập trong các quy định về đầu tư BOT, BT, trong cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, trong cấp đất, trong đầu tư xây dựng các công trình bằng ngân sách của nhà nước; hay những sơ hở, bất cập trong các quy định và quy trình công tác cán bộ dẫn đến hiện tượng tham nhũng trong công tác cán bộ …).
- Những biểu hiện suy thoái mang tính quyền lực, tức là dùng quyền lực và trong quan hệ “quyền - tiền” để thực hiện các hành vi sai trái. 
Mỗi cấp độ suy thoái đó có những “cơ chế vận hành” khác nhau và có thể liên kết với nhau, một mặt để “che chắn” trước các phản ứng của xã hội và sự phát hiện, xử lý của các cơ quan chức năng của đảng và nhà nước, mặt khác “tạo nền móng” để bảo vệ các lợi ích bất chính của mình. Việc nhận rõ nguyên nhân và cơ chế vận hành của mỗi loại và cấp độ suy thoái, đề từ đó đề ra được các giải pháp phòng - chống phù hợp và hiệu quả là một nhiện vụ quan trọng. 

III. Nguyên nhân của sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên 
Sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ đảng viên có những nguyên nhân rất phức tạp, cả về phương diện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, cả về phương diện cá nhân, phương diện tổ chức cụ thể, và phương diện hệ thống. Xin nêu khái quát các nguyên nhân sau.

1. Các nguyên nhân khách quan 
i). Đất nước đi vào xây dựng chế độ mới từ một nước nông nghiệp, phong kiến nửa thuộc địa; trình độ phát triển của đất nước về nhiều mặt còn tương đối thấp; lại phải trải qua những năm dài chiến tranh…, những mặt hạn chế, tiêu cực phản ánh vào nhận thức, tư duy, lối sống, đạo đức của xã hội nói chung và của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 
ii). Bản chất mô hình và thể chế phát triển “kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp” chứa đựng những những giá trị và thiết chế về bản chất cơ bản không thích ứng với thể chế kinh tế thị trường, nhất là không phù hợp với mô hình tăng trưởng - phát triển theo chiều sâu, không khuyến khích thúc đẩy phát triển mạnh năng lực - phẩm chất tư duy và hành động sáng tạo, trách nhiệm gắn với lợi ích của từng cá nhân trong xã hội, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên; nhưng vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ trong giai đoạn hiện nay.
iii). Đất nước đi vào phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với xuất phát điểm trình độ nhiều mặt còn thấp, chưa hình thành được đầy đủ môi trường văn hóa với những giá trị phổ biến cao về đạo đức công vụ gắn với trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân.
iv). Trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển mạng mẽ, đa dạng, đa khuynh hướng của thế giới về mọi mặt, tác động sâu sắc đến sự phát triển của đất nước (cả tích cực và tiêu cực) về nhận thức, tư tưởng, về các giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội, giá trị phát triển, về thể chế phát triển, cùng với đó là sự tác động của các thế lực thù địch… dẫn đến sự phân hóa trong nhận thức tư tưởng, trong định hướng giá trị và định hướng hành động của mọi thành viên trong xã hội, của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
2. Nguyên nhân chủ quan
i). Đảng ra đời, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng giành được chính quyền, đi vào xây dựng chế độ mới, nhưng đa số cán bộ, đảng viên xuất thân từ giai cấp nông dân với lòng yêu nước nông nàn, nhưng chưa được trải qua thực tiễn của nền sản xuất hàng hóa lớn, nền kinh tế công nghiệp, xã hội công nghiệp, nên nhận thức, tư duy lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều bất cập, dễ rơi vào cả hai thái cực giáo điều, chủ quan, duy ý chí, hoặc bảo thủ trì trệ, ngại đổi mới sáng tạo.
ii). Khi giành được chính quyền và lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước, việc chế định quyền lãnh đạo của đảng và quyền lực nhà nước, việc thực thi quyền lực của nhà nước còn có những vấn đề chưa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn khách quan, dẫn đến tình trạng quyền lực bị tha hóa (lạm dụng quyền lực, “tư hữu hóa quyền lực”, “nhóm hóa quyền lực”, quan liêu, tham nhũng, kém hiệu lực, hiệu quả…). Đặc biệt là thiếu các thể chế và thiết chế kiển soát quyền lực có hiệu quả cả trong bộ máy đảng và nhà nước, và từ ngoài xã hội; để ngăn chặn có hiệu quả mối quan hệ “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, lợi ích nhóm.
iii). Thiếu các thể chế, thiết chế có hiệu quả để giám sát về mặt phẩm chất đạo đức, chủ nghĩa cá nhân của cán bộ, đảng viên (mà Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là giặc nội xâm rất nguy hiểm); đạo đức công vụ - văn hóa công vụ - trách nhiệm công vụ - trách nhiệm giải trình chưa được đề cao và thực thi chặt chẽ; dân chủ và kỷ cương trong đảng, trong bộ máy nhà nước và trong hệ thống chính trị còn những yếu kém và bất cập. Đấu tranh tự phê bình và phê bình còn nhiều yếu kém (hầu hết các vụ tham nhũng, tiêu cực không được chính các tổ chức cơ sở đảng phát hiện và ngăn chặn…).
iv). Công tác cán bộ, đảng viên còn nhiều yếu kém và bất cập; tiêu chuẩn, tiêu chí các loại cán bộ, đảng viên còn mang nhiều tính hình thức, nặng về bằng cấp, chưa thể hiện rõ và công khai minh bạch về các tiêu chí phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và năng lực lãnh đạo quản lý. Đặc biệt là thiếu cơ chế đánh giá công khai và đúng về những tiêu chí đặt ra, nhất là từ phía nhân dân và xã hội (ví dụ cơ chế nào để đánh giá sự tín nhiệm của nhân dân, nếu không có sự công khai, minh bạch). Nội dung, cơ chế và quy trình quản lý cán bộ, đảng viên còn nhiều bất cập, “lỗ hổng”, chưa thể hiện rõ “thực đức - thực tài”; tình trạng lợi ích nhóm, dòng họ, người thân “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba đệ tử, bốn quan hệ, năm trí tuệ” trong công tác cán bộ không phải là cá biệt.
v). Công tác nghiên cứu lý luận cũng như tổng kết thực tiễn còn nhiều bất cập, chưa luận giải có sức thuyết phục cao về bản chất và xu hướng vận động của không ít những vấn đề thực tiễn đặt ra; công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều yếu kém, nhiều khi xa rời thực tiễn, chưa sát và đáp ứng thiết thực các yêu cầu cuộc sống đặt ra, chạy theo bằng cấp. Đặc biệt ngày càng thiếu vắng yêu cầu cao về “đức hy sinh”, “công bộc” với dân và đất nước; sinh hoạt đảng ở không ít nơi mang tính hình thức, thiếu tính chiến đấu, thiếu tính tiền phong và chưa thể hiện rõ “là đạo đức - là văn minh” như Chủ tích Hồ Chí Minh nói.
vi). Trong điều kiện sự phát triển rất nhanh, đa dạng, phức tạp trên thế giới, sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã thay đổi chế độ và con đường phát triển, một số ít nước tiếp tục đi theo con đường phát triển XHCN nhưng cũng phải thay đổi thể chế phát triển - phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng; do đó cuộc đấu tranh về lý luận, tư tưởng và mô hình phát triền trên thế giới trở nên phức tạp hơn. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy giảm (thậm chí mất) lòng tin vào con đường phát triển XHCN, cho rằng cần phải đi theo mô hình CNXH dân chủ hoặc một con đường khác nào đó.
vii). Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở mọi cấp thiếu ý thức học tập, rèn luyện, tu dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo quản lý và phẩm chất đạo đức; có tư tưởng tự mãn, tự coi mình là “chân lý”, không thấu hiểu sâu sắc được yêu cầu, bản chất và xu thế phát triển của đất nước cũng như của thế gới. Do đó, các cơ chế, chính sách và giải pháp đưa ra có khi không phù hợp, lạc hậu, “chạy theo sau” sự phát triển, mang tính “chữa cháy”, ngắn hạn, thiếu tầm nhìn định hướng trung và dài hạn.
viii). Chế độ và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức chưa thể hiện rõ gắn cống hiến với hưởng thụ theo cơ chế thực đức - thực tài, chưa thể hiện rõ yêu cầu “dưỡng liêm”, thúc đẩy tinh thần dám chịu trách nhiệm, đổi mới - sáng tạo, ngược lại đang khuyến khích chạy theo chức quyền.
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, để từ đó đề ra những giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn và khắc phục có hiệu quả tình trạng suy thoái là rất quan trọng. Trong đó quan trọng nhất là phải hoàn thiện thể chế đề ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực và sự hủ bại về đạo đức trong đội ngũ cán bộ đảng viên.  


PGS.TS Trần Quốc Toản

 

   


Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết