Thứ Bảy, ngày 15 tháng 12 năm 2018

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ và những vấn đề đặt ra với công nghiệp hóa theo hướng hiện đại ở nước ta

Ngày phát hành: 17/10/2018 Lượt xem 105

 

1. Một số nét về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và dự báo những ảnh hưởng của nó đối với thế giới
Lịch sử nhân loại là một quá trình phát triển đi lên không ngừng từ thấp đến cao, nền tảng của toàn bộ sự phát triển đó là sự phát triển kinh tế. Nhu cầu của con người, lợi ích và cạnh tranh là những động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình lao động và khoa học công nghệ đã giúp con người không ngừng cải tiến công cụ lao động, sáng tạo ra những công cụ lao động mới, vượt qua những giới hạn tự nhiên về thể lực của con người để nâng lên sức mạnh, mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động, tạo ra những sản phẩm mới không có sẵn trong tự nhiên. Một nhà kinh tế học nổi tiếng đã từng nói các thời đại khác nhau không phải ở chỗ sản xuất cái gì mà là sản xuất bằng cái gì, sản xuất như thế nào. Nếu không kể tới những cuộc cách mạng diễn ra trong thời cổ đại dẫn đến việc chuyển từ thời đại đồ đá cũ sang thời đại đồ đá mới, từ thời đại đồ đá sang thời đại đồ đồng, đồ sắt và cuộc cách mạng trong nông nghiệp khi con người chuyển từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, mà chỉ tính từ lịch sử cận đại đến nay, thì thấy rằng nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển là các cuộc cách mạng công nghiệp. Trong hơn 2 thế kỷ qua, thế giới đã diễn ra 3 cuộc cách mạng công nghiệp và hiện nay đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra cuối thế kỷ XVIII, bắt đầu tư nước Anh rồi lan rộng sang các nước khác ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Tâm điểm của cuộc cách mạng công nghiệp này là sự ra đời động cơ hơi nước, dẫn đến sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp, khi động cơ hơi nước trở thành nguồn động lực cho nhiều loại máy móc, phương tiện hoạt động; tiêu biểu là cuộc cách mạng trong ngành vận tải với việc phát triển ngành đóng tầu biển, tầu hỏa chạy bằng động cơ hơi nước; cuộc cách mạng trong ngành dệt với việc ra đời các máy kéo sợi, máy dệt chạy bằng hơi nước; ngành cơ khí chế tạo ra bằng động cơ hơi nước và máy móc cho các ngành sản xuất; ngành luyện kim để tạo ra nguyên liệu cho ngành cơ khí. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào cuối thế kỷ XIX với sự ra đời của động cơ đốt trong, động cơ điện, từ đó tạo ra sự phát triển bùng nổ của nhiều ngành công nghiệp như ngành điện, các nhà máy điện, các công cụ, thiết bị điện; ngành cơ khí chế tạo, sản xuất ôtô, vận tải. Các phương tiện vận tải; luyện kim bằng lò điện; hoát chất; ra đời công nghệ sản xuất theo dây chuyền, sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra vào cuối thế kỷ XX, với sự ra đời, phát triển các ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp thông tin, công nghệ viễn thông, tự động hóa sản xuất, máy tính, Internet, điện thoại di động… Ngày nay, thế giới đang bước vào cuộc cách mạng lần thứ tư (hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0). 
Thuật ngữ cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hay cách mạng công nghiệp 4.0) lần đầu tiên được đưa ra ở Cộng hòa Liên Bang Đức năm 2011 tại cuộc Hội chợ công nghệ ở Hannover. Năm 2012, thuật ngữ này được sử dụng để đặt tên cho một chương trình hỗ trợ phát triển công nghệ cao của Chính phủ Đức. Năm 2016, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được lựa chọn làm chủ đề của Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Đovos, Thụy Sỹ. Sau đó, khái niệm (thuật ngữ) này được sử dụng phổ biến để chỉ cuộc cách mạng công nghiệp mới dù mới bắt đầu nhưng đã có những bước tiến mạnh mẽ, những thành tựu to lớn, có những ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực.
Trong khoảng 2 năm gần đây, ở nước ta, đã có nhiều hội thảo, diễn đàn được tổ chức, nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết về cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã được công bố. Tổng hợp những kết quả nghiên cứu đó, có thể thấy rằng: cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hình thành trên nền tảng những thành tựu cuộc cách mạnh công nghiệp lần thứ ba và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ; là sự tích hợp của nhiều loại hình công nghệ và thành tựu của nhiều lĩnh vực nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh học… Trong đó, công nghệ nền tảng, đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là công nghệ số; các lĩnh vực mũi nhọn, đặc trưng của cách mạng công nghiệp 4.0 là trí tuệ nhân tạo; công nghệ thông tin, Internet kết nối vạn vật, điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn, Blockchain; công nghệ nanô, công nghệ gen, tạo ra những vật liệu mới, thuốc mới, giống cây, con mới; công nghệ in 3D trong lĩnh vực chế tạo…
- Công nghiệp thông tin có sự phát triển mạnh mẽ, đột phá. Các máy tính, các cảm biến, Internet kết nối vạn vật cho phép kết nối, chia sẻ thông tin giữa hàng tỷ đối tượng; chuyển tải thông tin trên phạm vi toàn cầu với quy mô lớn, tốc độ nhanh chưa từng có. Công nghệ điện toán đám mây cơ sở dữ liệu lớn, cho phép lưu trữ và chia sẻ thông tin không giới hạn. Các công nghệ này cho phép kết nối các vật dụng sinh hoạt, các thiết bị làm việc ở nhà, ở cơ quan, công sở, các cơ sở hạ tầng giao thông, các dịch vụ công cộng; làm cho các vật dụng, thiết bị, hệ thống hạ tầng… trở nên thông minh, hoạt động theo ý muốn và sự điều khiển từ xa của con người, phục vụ con người; làm cho con người có thể kiểm soát, điều khiển từ xa được các phương tiện, thiết bị, vật dụng cần thiết cho sinh hoạt và làm việc. Đây là công nghệ nền tảng thúc đẩy phát triển các hệ thống sản xuất thông minh, tạo nên những ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh…
- Trí tuệ nhân tạo hoạt động như bộ não của con người, cho phép truy tìm, phân loại, phân tích, đánh giá các dữ liệu để đưa ra các kết luận đúng đắn. Trí tuệ nhân tạo gắn vào các robot tạo thành những người máy thông minh, các rôbốt thế hệ mới có thể thay thế ngày càng nhiều công việc của con người, giúp việc ở gia đình, ở công sở, bệnh viện, trường học, nhà hàng, khách sạn… ở các khâu công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trí tuệ nhân tạo được áp dụng rộng rãi trong nhiều loại máy móc, thiết bị, làm xuất hiện ngày càng nhiều các loại máy móc thông minh tự điều khiển, ô tô tự lái, máy bay tự lái, tầu biển, tầu ngầm tự lái; có thể dự báo thời tiết, chuẩn đoán bệnh, thiết kế sản phẩm với độ chính xác cao…
- Công nghệ in 3D cho phép “in” ra được những công cụ, máy móc, thiết bị có kết cấu phức tạp, đòi hỏi sự chính xác cao, từ những vật dụng hàng ngày, như bàn, ghế, đến ô tô, máy bay, các ngôi nhà…; cho phép sản xuất ra những sản phẩm khác nhau, cá biệt ngay trên các dây chuyền sản xuất hàng loạt.
- Công nghệ nano cho phép con người khám phá ra những cấu trúc siêu nhỏ của vật chất, từ đó sáng tạo ra nhiều phương pháp mới, sản phẩm mới để sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, sinh học (như sản xuất phân bón, sơn, các chế phẩm sinh học…) phục vụ cho nhiều lĩnh vực, nhiều mục đích khác nhau.
- Vật liệu mới: Nhiều loại vật liệu mới có những tính chất mà trước đây tưởng như là viễn tưởng đã có mặt trên thị trường, như những vật liệu nhẹ hơn, cứng hơn, bền hơn, có thể tự làm sạch, tự phục hồi hình dáng ban đầu, có thể biến áp lực thành năng lượng…, đã được áp dụng trong các ngành công nghệ cao, công nghệ hàng không vũ trụ.
- Công nghệ sinh học và y tế cũng là những lĩnh vực có nhiều thay đổi lớn. Công nghệ gien tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao, có những đặc tính như mong muốn, những chế phẩm sinh học được dùng trong nhiều lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghệ môi trường… Bằng công nghệ gien, công nghệ nano, đã chế tạo ra nhiều thiết bị y tế siêu nhỏ, thực hiện nhân bản, thụ tinh trong ống nghiệm, nuôi cấy các bộ phận cơ thể con người.v.v…
Mặc dù cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mới ở giai đoạn đầu tiên, chưa thể hiện hết những khả năng phát triển; tuy nhiên những đánh giá, dự báo trên thế giới hiện nay đều cho rằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ có những tác động mạnh mẽ, sâu sắc, làm thay đổi căn bản từ phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, đến chính trị và an ninh thế giới, tổ chức và sinh hoạt xã hội của con người trong từng gia đình, từng quốc gia tới toàn cầu.
Trí tuệ nhân tạo, những phần mềm thiết kế theo thuật toán, kết hợp với in 3D đã tạo ra cuộc các mạng trong thiết kế sản phẩm; có khả năng thiết kế những sản phẩm phức tạp một cách chính xác trong thời gian ngắn. Người máy thông minh, công nghệ in 3D làm cho việc chế tạo, lắp ráp sản phẩm được thực hiện hoàn toàn tự động, cực kỳ chính xác, tiết kiệm tối đa nguyên liệu, hầu như không có sản phẩm hỏng. Toàn bộ quy trình sản xuất được theo dõi, kiểm soát chặt chẽ, tất cả các vật tư, linh kiện được cung ứng chính xác, hoàn toàn tự động nhờ hệ thống mạng kết nối vạn vật. Công nghệ mới cho phép có thể thiết kế, chế tạo những sản phẩm đơn chiếc theo yêu cầu của người sử dụng một cách nhanh chóng, chính xác với giá rẻ (trước đây phải sản xuất hàng loạt để hạ giá sản phẩm). Các công nghệ mới này làm thay đổi căn bản phương thức phân phối, tiêu dùng, cách thức tổ chức làm việc của con người. Công nghệ mới cho phép có thể cung cấp mọi hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho những người cần đến chúng vào đúng thời gian, địa điểm cần thiết. Thương mại điện tử sẽ dần thay thế cho thương mại truyền thống. Tất cả các hoạt động, mua, bán hàng hóa, dịch dụ, đặt phòng khách sạn, vé máy bay, gọi xe taxi… đều có thể thực hiện qua mạng; các giao dịch được thực hiện sau cái nhấp chuột máy tính của những người cách nhau hàng nghìn km. Hàng hóa có thể đưa trực tiếp từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng, kho chứa hàng của doanh nghiệp sản xuất cũng như doanh nghiệp thương mại được thu hẹp đáng kể.
Các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, tới lần thứ hai, lần thứ ba là để thay thế, khắc phục những giới hạn thể lực, cơ bắp của con người, tiến tới thay thế, khắc phục một phần giới hạn của trí tuệ con người, thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đột phá vào trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, Internet kết nối vạn vật là sự thay thế hoàn toàn trí tuệ, hệ thống thần kinh của con người. Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo nên những hệ thống sản xuất tự động hóa, đưa nền kinh tế bước vào ngưỡng cửa của nền kinh tế tri thức (tri thức là nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển), thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đưa đến những hệ thống  sản xuất thông minh với các máy móc, thiết bị thông minh, dây chuyền sản xuất thông minh, hệ thống quản trị thông minh; có nền công nghiệp thông minh, hệ thống kết cấu hạ tầng điện, giao thông, cấp, thoát nước thông minh, các phương tiện vận tải thông minh, hệ thống thương mại, dịch vụ thông minh, tiêu dùng thông minh. Nền kinh tế thật sự là nền kinh tế tri thức. Tri thức, thành tựu khoa học công nghệ, các ý tưởng đổi mới, sáng tạo trở thành động lực chính cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế. Nền kinh tế thông minh đưa tới sự ra đời những ngôi nhà thông minh, quốc gia thông minh, xã hội thông minh. Đây sẽ là bước ngoặt, bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời, tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng xã hội, trên nhiều lĩnh vực. Các thành tựu khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mất lợi thế. Đây là thách thức lớn đối với các quốc gia, phương thức phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động giá rẻ, chất lượng thấp. Điều này làm cho sự chênh lệch về trình độ phát triển, khoảng cách giầu nghèo giữa các quốc gia trên thế giới có xu hướng mở rộng thêm. Các dây chuyền sản xuất tự động, các rôbốt thay thế con người trong nhiều công đoạn sản xuất, các hoạt động thương mại, dịch vụ; trong nhiều công việc trong gia đình, trong cơ quan, công sở, bệnh viện, trường học… tạo ra nguy cơ thất nghiệp cho những lao động phổ thông, không được đào tạo; làm cho sự phân hóa giầu nghèo, sự chênh lệch về thu nhập và mứu sống giữa các tầng lớp xã hội trong một số nước có xu hướng ngày càng tăng, làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định xã hội. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm xuất hiện nhiều vấn đề đổi mới, tác động tới từng cá nhân, tới chính trị, an ninh của các quốc gia và trên toàn cầu. Trong môi trường có sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, viễn thông, Internet, quyền riêng tư, bí mật của nhiều người, nhất là những người nổi tiếng, người của công chúng, bị vi phạm; một khối lượng thông tin khổng lồ, đa dạng, đa chiều, nhiều quan điểm, khuynh hướng tư tưởng khác nhau đưa tới từng cá nhân ở mọi lúc, mọi nơi có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến dư luận, tư tưởng xã hội, đến tình hình an ninh kinh tế, văn hóa, an ninh tư tưởng, an ninh chính trị của đất nước; làm xuất hiện nhiều hình thức tội phạm mới, cách thức phạm tội mới mà trước kia chưa từng có gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng khó phát hiện, kiểm soát, ngăn chặn. Những tiến bộ khoa học, công nghệ được ứng dụng các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tạo ra những vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh mới hiện đại hơn, chính xác hơn, sức công phá mạnh hơn, sức hủy diệt lớn hơn, nguy hiểm hơn, đưa chiến tranh lên vũ trụ, không gian mạng, làm thay đổi hình thức chiến tranh… tạo ra cuộc chạy đua vũ trang mới, vô cùng tốn kém, đe dọa sự hủy diệt của nhân loại.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo cơ hội phát triển cho mọi quốc gia khi biết tận dụng và tận dụng được những thành tựu khoa học công nghệ mới, các nước đi sau có thể rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước; nhưng, đồng thời cũng làm cho sự cạnh tranh giữa các nước trên thế giới gay gắt, quyết liệt hơn, tương quan sức mạnh giữa các nước sẽ có những thay đổi, làm gia tăng khoảng cách phát triển, phân hóa giàu nghèo trong từng nước cũng như giữa các nước trên thế giới. Việt Nam cũng đứng trước những thời cơ, thách thức như vậy.


2. Một số kết quả và hạn chế trong phát triển công nghiệp ở nước ta nhiều năm qua
a- Về chủ trương,chính sách

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp, miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất để đi lên chủ nghĩa xã hội. Khi đó, nước ta vẫn còn là nước nông nghiệp lạc hậu, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chưa qua cuộc cách mạng công nghiệp thật sự nào. Vì vậy, phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa đất nước là nhiệm vụ cấp bách, tất yếu để phát triển đất nước. Đại hội III của Đảng, năm 1960, đã đề ra đường lối công nghiệp hóa để phát triển đất nước. Tuy nhiên, sau đó hoàn cảnh chiến tranh ác liệt diễn ra ở cả hai miền Nam, Bắc, đường lối đó đã không thể thực hiện được. Năm 1975, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, nhưng hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, sự bao vây cấm vận của kẻ thù làm nước ta rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Năm 1986, đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, nhưng tình hình đất nước còn rất khó khăn. Chỉ đến sau Đại hội Đảng lần thứ VII, đất nước ta mới ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở lại trạng thái phát triển bình thường, do đó, tại Hội nghị Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, năm 1994, Đảng ta lại đề ra nhiệm vụ công nghiệp hóa đất nước. Sau đó, từ Đại hội Đảng lần thứ VIII, 1996 đến nay, “công nghiệp hóa”, sau đó được bổ sung thêm “hiện đại hóa” cho phù hợp với bối cảnh của thời đại, luôn là một nội dung lớn, một nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm trong đường lối phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta. Nội dung của đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội để phù hợp với tình hình đất nước và thế giới. Nội dung đó bao gồm nhiều vấn đề, liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong đó phát triển công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng đầu. Liên tục qua nhiều Đại hội Đảng từ Đại hội IX đến nay, Đảng, Nhà nước ta đều đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 chúng ta cơ bản xây dựng được nền tảng để nước ta trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. 
Quan điểm, đường lối của Đảng được Nhà nước thể chế hóa thành Luật pháp, Cơ chế, Chính sách ngày càng đầy đủ để triển khai thực hiện. Theo tổng hợp của Ban Kinh tế Trung ương, chỉ tính từ năm 2005 đến nay, đã có khoảng 300 văn bản quy phạm pháp luật, từ luật do Quốc hội ban hành đến nghị định, nghị quyết của Chính phủ, liên quan đến nhiệm vụ phát triển công nghiệp. Các văn bản quy phạm pháp luật đó tập trung vào các nội dung:
(1) Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử, thông thoáng, thuận lợi, giảm đi những rào cản, thủ tục hành chính phiền hà cho doanh nghiệp, người sản xuất kinh doanh;
(2) Các chính sách về thương mại và hội nhập: Trong nhiều năm trước, Nhà nước sử dụng thuế nhập khẩu và thuế nội địa để bảo hộ ngành công nghiệp trong nước, sử dụng tín dụng xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất, thưởng xuất khẩu… để hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm công nghiệp. Những năm gần đây, khi Việt Nam hội nhập vào kinh tế quốc tế, phải thực hiện các cam kết hội nhập, những biện pháp bảo hộ sản xuất công nghiệp và hỗ trợ xuất khẩu trước đây bị bãi bỏ, Nhà nước có chính sách sử dụng các hàng rào kỹ thuật thương mại (không trái với các cam kết quốc tế) để bảo vệ, hỗ trợ sản xuất công nghiệp trong nước (như chống bán phá giá, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ nền văn hóa…). 
(3) Chính sách khoa học công nghệ: bao gồm các chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực, trọng điểm quốc gia, mang thương hiệu Việt Nam; chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao (chế tạo, năng lượng, luyện kim, hóa chất, thông tin viễn thông, chế biến thực phẩm), phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao; chính sách đầu tư phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước, phát triển các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, các doanh nghiệp khoa học công nghệ, phát triển thị trường khoa học công nghệ…
(4) Chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm các chính sách xây dựng, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân trên cả nước, từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, trên đại học, dạy nghề; chính sách tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo; chính sách đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các cấp học, ngành học, đặc biệt là giáo dục đại học và dạy nghề…
(5) Nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp đã được xây dựng, từ chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Việt Nam tới chiến lược và quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp quan trọng, như: dầu khí, than và khoáng sản, điện, cơ khí, đóng tầu, ôtô, dệt may, hóa chất, thép… Các chiến lược, quy hoạch này được điều chỉnh, bổ sung khi cần thiết đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và sự phát triển khoa học, công nghệ trên thế giới.
(6) Chính sách phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm liên kết ngành và chính sách ưu đãi đối với các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên. Việc cấp đất cho xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được ưu tiên. Doanh nghiệp đầu tư trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp được hưởng các ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất, thuế xuất, nhập khẩu… Doanh nghiệp đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, ngành công nghiệp nhà nước ưu tiên phát triển được ưu đãi về tín dụng, tiếp cận vốn vay, bảo lãnh vay, ưu đãi về thuế, được hỗ trợ phát triển thị trường, phát triển khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực…
b- Việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển công nghiệp trong những năm qua
(1) Vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp tăng nhanh, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài với vốn đầu tư tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, đóng góp ngày càng nhiều vào phát triển công nghiệp đất nước. Tỷ trọng vốn đầu tư vào công nghiệp trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 38,7% năm 2007 lên 40,8% năm 2015. Tổng vốn đầu tư vào công nghiệp từ năm 2007 đến năm 2015 tăng gần 3 lần (từ 205.667 tỷ lên 557.273 tỷ). Trong đó, vốn đầu tư từ kinh tế nhà nước tăng 2 lần, vốn đầu tư từ kinh tế tư nhân trong nước tăng 3,5 lần, vốn đầu tư từ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5 lần. Tổng vốn đầu tư của kinh tế tư nhân trong nước và vốn đầu tư của nước ngoài chiếm khoảng 65% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
(2) Nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp liên kết ngành hình thành, tạo ra các điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và thủ tục hành chính cho nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài. Cả nước hiện nay có 321 khu công nghiệp, trong đó 220 khu đã đi vào hoạt động, ở 59 tỉnh, thành phố và 16 khu kinh tế ven biển. Các khu công nghiệp cả nước đã thu hút được 6258 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đã ký 693 nghìn tỷ đồng, thực hiện 345 nghìn tỷ, bằng 50% vốn đăng ký và có 6610 dự án đầu tư nước ngoài, tổng vốn đầu tư đăng ký 105 tỷ USD, vốn thực hiện 64,8 tỷ USD, bằng 62% tổng vốn đã ký,… Những dự án này đóng góp lớn vào phát triển công nghiệp đất nước.
(3) Ngành công nghiệp ngày càng phát triển. Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh, cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành công nghiệp và các sản phẩm công nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa. Công nghiệp đã sản xuất, cung ứng được nhiều mặt hành thiết yếu cho sản xuất của các ngành kinh tế khác, cho tiêu dùng của nhân dân và hàng hóa cho xuất khẩu. Trong 10 năm, từ 2006-2015, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 3,42 lần (từ 0,3402 triệu tỷ lên 1,166 triệu tỷ). Năm 2015, ngành công nghiệp chiếm 32% GDP cả nước, đóng góp hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Công nghiệp cũng là ngành đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước.
(4) Một số ngành sản xuất công nghiệp đổi mới công nghệ nhanh; hình thành một số ngành sản xuất công nghiệp công nghệ cao, hiện đại, đóng góp tích cực vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tốc độ đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp trung bình 10,68%/năm; trong đó một số ngành như công nghiệp điện tử, thông tin, viễn thông, dầu khí… tốc độ đổi mới công nghệ cao hơn. Tỷ trọng các doanh nghiệp có trình độ cao ngày càng tăng, doanh nghiệp có trình độ công nghệ thấp ngày càng giảm. Trong đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò rất lớn trong việc nâng cao tỷ trọng công nghệ cao của ngành công nghiệp đất nước nước những năm qua.
(5) Công nghiệp phát triển đã tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội và đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Đến năm 2015, lực lượng lao động trong ngành công nghiệp gần 12 triệu người, chiếm khoảng 22,5% tổng số người có việc làm cả nước. Lao động dịch chuyển từ nông nghiệp, nông thôn sang công nghiệp và các đô thị ngày càng nhiều, mở rộng nhanh các đô thị cũ và hình thành ngày càng nhiều đô thị mới gắn với các khu kinh tế, khu công nghiệp, kéo theo sự phát triển của rất nhiều lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước, nhiều loại dịch vụ khác như thương mại, y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường…
c- Những hạn chế, bất cập
(1) Tăng trưởng sản xuất công nghiệp không ổn định, thiếu bền vững; chất lượng tăng trưởng thấp, chậm được cải thiện, nội lực của nền công nghiệp còn yếu. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006-2010 là 16,2%/năm, thì giai đoạn 2011-2015 giảm xuống còn 10%/năm. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chất lượng tăng trưởng sản xuất công nghiệp còn thấp, cải thiện chậm. Công nghiệp gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp còn chiếm tỷ lệ lớn; các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phần lớn cũng có công nghệ trung bình và thấp; do đó, năng suất lao động của ngành công nghiệp nói chung còn thấp. Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao nhưng không kết nối chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nước, mức độ lan tỏa công nghệ hạn chế; các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển đầu tư chưa đạt được mục tiêu đề ra.
(2) Hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân trong trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, vốn ít, chủ yếu hoạt động nhờ vốn vay, công nghệ thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Doanh nghiệp nhà nước trong công nghiệp, ngoài một số doanh nghiệp trong các ngành có tính độc quyền, còn phần lớn cũng có hiệu quả kinh doanh thấp. Hơn nữa, nhiều tổng công ty, Tập đoàn kinh tế nhà nước lỗ và nợ rất lớn. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm 50% giá trị sản lượng công nghiệp, 70% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp; trong đó, có mặt hàng, như điện thoại di động, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 100% kim ngạch xuất khẩu.
(3) Năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn thấp. Theo bảng xếp hạng của UNIDO về năng lực cạnh tranh công nghiệp năm 2016, Việt Nam xếp thứ 50, kém xa Singapore (thứ 7), Malaixia (thứ 20), Thái Lan (thứ 26), Rudobexia (thứ 40), chỉ hơn Philipin (thứ 53), Campuchia (thứ 90) (Lào và Mianma không tham gia xếp hạng). Các doanh nghiệp trong nước tham gia được rất ít vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam cũng nhập khẩu 90% linh kiện, thậm chí đến 100% linh kiện, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ tham gia được vào công đoạn sản xuất bao bì cho sản phẩm.
(4) Các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển chưa đạt mục tiêu đề ra. Hiệu quả vốn đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp thấp. Trong số các ngành được Chính phủ xác định ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2011-2015, chỉ có ngành điện tử, máy tính, sản phẩm quang học là những ngành công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng cao; còn nhiều ngành, như dệt, may, da giầy, chế biến thủy, hải sản… tăng trưởng là nhờ mở rộng quy mô, sử dụng nhiều lao động, tận dụng các ưu đãi vì chính sách (đất đai, tài chính, cơ sở hạ tầng), còn trình độ công nghệ chủ yếu vẫn là công nghệ trung bình và thấp, hiệu quả hoạt động thấp. Các ngành công nghệ cao phát triển nhanh, như điện tử, máy tính, điện thoại di động, chủ yếu là do các doanh nghiệp FDI sản xuất. Về hiệu quả vốn đầu tư phát triển công nghiệp, các số liệu về ICOR trong lĩnh vực công nghiệp cho thấy ICOR có xu hướng tăng nhanh thể hiện hiệu quả đầu tư ngày càng giảm. Giai đoạn 1991-1995, ICOR là 2,85; giai đoạn 1996-2000, ICOR là 3,78; giai đoạn 2001-2005, ICOR là 4,3; giai đoạn 2006-2013, ICOR tăng nhanh lên 8,3. Đáng chú ý là hệ số ICOR của khu vực Nhà nước thường cao hơn nhiều so với khu vực FDI và khu vực tư nhân.
(5) Ô nhiễm môi trường do phát triển công nghiệp ngày càng cao, đe dọa sự phát triển bền vững của nền kinh tế và cuộc sống của nhân dân. Nhiều doanh nghiệp, cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trình độ công nghệ thấp, hoạt động trong các lĩnh vực dễ gây ô nhiễm môi trường như luyện kim, hóa chất, sản xuất giấy, bột giấy, nhiệt điện than, chế biến nông sản… nhưng đầu tư cho việc xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn không được quan tâm (chỉ có khoảng 3-5% cụm doanh nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại tự xử lý hay xả trực tiếp ra môi trường). Tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề, các cụm công nghiệp, khu công nghiệp, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí có xu hướng ngày càng tăng, rất đáng lo ngại.


3. Một số nhiệm vụ phát triển công nghiệp trong những năm tới
Trong những năm tới, kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều khó khăn, nhiều nền kinh tế lớn vẫn ở trong trạng thái trì trệ, phục hồi chậm, như Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Braxin,… mặc dù toàn cầu hóa vẫn tiếp tục được thúc đẩy, nhưng xu hướng bảo hộ, cản trợ tự do đầu tư, thương mại nổi lên ở một số nước gây ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế thế giới. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những biến đổi sâu sắc tới công nghiệp thế giới nói riêng, kinh tế thế giới nói chung, cả về trình độ công nghệ, cơ cấu ngành, sản phẩm, tạo ra nhiều cơ hội, mở ra những xu hướng phát triển mới của công nghiệp và kinh tế thế giới, nhưng cũng đặt tất cả các nước, nhất là những nước kinh tế phát triển thấp, trước nhiều thách thức to lớn khi lao động và tài nguyên thiên nhiên ngày càng mất lợi thế, sản xuất công nghiệp có xu hướng chuyển đến những nơi có tiềm lực khoa học công nghệ và thị trường lớn, cạnh tranh giữa các nền kinh tế sẽ diễn ra gay gắt, quyết liệt hơn.
Trong khi đó, nền kinh tế nước ta còn nhỏ, trình độ khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống kết cấu hạ tầng, năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh kinh tế còn thấp; doanh nghiệp trong nước yếu, công nghiệp phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp FDI; các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, người lao động đông, giá rẻ, đang ở giai đoạn “dân số vàng”, ngày càng suy giảm. Nước ta lại là một trong những nước bị ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu toàn cầu…
Trong bối cảnh đó, để tận dụng được thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển công nghiệp phải là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất nước. Để thực hiện có kết quả nhiệm vụ quan trọng này, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ, mạnh mẽ nhiều nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, trong đó có những nhiệm vụ và giải pháp sau:
(1) Đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, cho nền kinh tế và công nghiệp phát triển. Để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô cần phải duy trì được những cân đối lớn của nền kinh tế, giữa phát triển kinh tế, tích lũy và tiêu dùng, giữa thu và chi ngân sách nhà nước, giữa quy mô nền kinh tế và lượng tiền trong lưu thông, kiềm chế lạm phát…
Để tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng cho công nghiệp phát triển, cần phải tiếp tục hoàn thiện luật pháp, cơ chế chính sách để bảo vệ quyền sở hữu tài sản, sở hữu trí tuệ; thúc đẩy phát triển, vận hành thông suốt các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường, các yếu tố sản xuất (đất đai, tài nguyên, vốn, khoa học công nghệ, lao động); thực hiện đầy đủ quyền tự do kinh doanh, người dân và doanh nghiệp được tự do kinh doanh ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; thu hẹp những ngành, lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, những ngành, lĩnh vực độc quyền nhà nước. Hạn chế sự can thiệp bằng biện pháp hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước vào thị trường và hoạt động của doanh nghiệp, xóa bỏ cơ chế xin – cho, phát huy vai trò của thị trường để phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Tiếp tục chuyển giá một số dịch vụ công cơ bản: điện, nước, vệ sinh môi trường, dịch vụ y tế, giáo dục… và giá các yếu tố sản xuất: giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lãi suất ngân hàng, tiền lương… sang cơ chế thị trường. Xóa bỏ những phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp theo thành phần kinh tế trong việc tiếp cận các nguồn lực, cạnh tranh trên thị trường và trong xử lý các tranh chấp. Đồng thời, đẩy mạnh việc thực hiện cải cách hành chính. Bãi bỏ các thủ tục hành chính, các quy định về điều kiện kinh doanh không còn phù hợp, hoặc ban hành trái thẩm quyền. Cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt giấy tờ, rút ngắn thời gian, chi phí liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, nộp thuế, xuất nhập khẩu hàng hóa, thanh tra, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp…
Thực hiện những giải pháp này sẽ tạo ra môi trường thuận lợi, hấp dẫn thu hút đầu tư, phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Đây là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung, lĩnh vực công nghiệp nói riêng.
(2) Nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia, năng lực quản trị của nhà nước. Chính sách công nghiệp quốc gia và năng lực quản trị của nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nền công nghiệp của đất nước. Chính sách công nghiệp quốc gia phải được xây dựng có cơ sở, căn cứ khoa học, thực tiễn vững chắc, phù hợp với đặc điểm tình hình, tiềm năng, thế mạnh, định hướng, mục tiêu phát triển của đất nước và tình hình kinh tế, khoa học công nghệ trên thế giới, bối cảnh của thời đại. Kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Vì vậy, chính sách công nghiệp và việc thực hiện chính sách công nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu của kinh tế thị trường; việc xác định, lựa chọn các lợi thế của Việt Nam, những lĩnh vực công nghiệp Việt Nam cần ưu tiên phát triển phải tính đến tình hình thị trường và xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới; chính sách công nghiệp phải định hướng công nghiệp Việt Nam vừa phát triển theo chiều rộng, tận dụng nguồn lực lao động đông đảo vẫn còn trong giai đoạn “dân số vàng”, vừa phải phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính độc lập, tự chủ kinh tế của đất nước .
Chính sách công nghiệp phải tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích và hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân, thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh trong lĩnh vực công nghiệp, có công nghệ hiện đại, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, cạnh tranh được với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nước ngoài. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp, đẩy mạnh cổ phần hóa, tập trung doanh nghiệp nhà nước vào những lĩnh vực công nghiệp có vai trò quan trọng của nền kinh tế mà kinh tế tư nhân chưa làm được; đổi mới cơ chế quản lý để các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước thực sự có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đổi mới chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển từ gia công, lắp máy sang chế biến, chế tạo; khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực công nghiệp cần ưu tiên phát triển, các lĩnh vực công nghệ cao, tạo sự lan tỏa công nghệ đến các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, chính sách công nghiệp quốc gia phải tạo được sự phân bổ hợp lý sự phát triển công nghiệp trên các vùng lãnh thổ, hình thành nên các cụm ngành công nghiệp trong các vùng và sự liên kết, hợp tác giữa các cùng.
Chính sách công nghiệp phải được cụ thể hóa để tổ chức thực hiện thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp đất nước, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển từng ngành, lĩnh vực công nghiệp trên từng vùng lãnh thổ và hệ thống cơ chế chính sách để thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đó. Nâng cao chất lượng xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; sự đồng bộ và chất lượng các chính sách đất đai, chính sách tài chính, chính sách thương mại, xuất nhập khẩu,…; nâng cao kỷ luật kỷ cương, chất lượng thực hiện các chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch này để đạt kết quả cao nhất có thể.
(3) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển khoa học công nghệ và hệ thống kết cấu hạ tầng tạo nền tảng, tiền đề cơ bản cho công nghiệp, nhất là công nghiệp công nghệ cao phát triển. Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển công nghiệp của đất nước. Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo; sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống giáo dục, đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục đào tạo, chuyển các trường sang cơ chế tự chủ; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo toàn diện, nhất là lĩnh vực giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp.
Xây dựng chiến lược phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước, chiến lược nâng cao trình độ khoa học công nghệ của các ngành, lĩnh vực công nghiệp và nền kinh tế. Tăng cường đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học công nghệ, tập trung cho một số lĩnh vực trọng điểm, quan trọng và có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhất là các Tổng công ty, tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ. Đổi mới quản lý đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển các tổ chức nghiên cứu khoa học của nhà nước sang cơ chế tự chủ. Xây dựng cơ chế liên kết giữa các Trường đại học, Viện nghiên cứu với doanh nghiệp. Tập trung thực hiện tốt một số chương trình phát triển khoa học công nghệ, chương trình phát triển các sản phẩm quốc gia. Có chính sách thu hút, sử dụng các chuyên gia có trình độ cao, chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực khoa học công nghệ.
Tiếp tục thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, thông tin, viễn thông, điện, nước… đáp ứng yêu cầu của chiến lược, quy hoạch phát triển công nghiệp. Đa dạng hóa các nguồn vốn và hình thức đầu tư, ưu tiên thực hiện các dự án phục vụ các dự án công nghiệp lớn, các cụm công nghiệp, các lĩnh vực công nghiệp ưu tiên và bảo đảm kết nối với khu vực, thế giới. Đồng thời, tăng cường quản lý để nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình, hạn chế những thất thoát, lãng phí.
(4) Phát triển công nghiệp trong quan hệ gắn kết và thúc đẩy phát triển nông nghiệp, các ngành kinh tế khác, với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Phát triển công nghiệp gắn bó chặt chẽ với việc đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, từ khâu làm đất, gieo trồng, tưới tiêu, thu hoạch, vận chuyển sản phẩm trong trồng trọt, với sản xuất, chế biến thức ăn, vệ sinh chuồng trại trong chăn nuôi…; thúc đẩy nông nghiệp khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán đi vào sản xuất quy mô lớn, công nghệ cao; gắn với việc bảo quản, chế biến nâng cao chất lượng, giá trị nông sản, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; tạo ra những sản phẩm hàng hóa đa dạng, đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Phát triển công nghiệp gắn bó chặt chẽ, thúc đẩy phát triển các ngành vận tải và nâng cao chất lượng vận tải; phát triển ngành xây dựng và nâng cao chất lượng xây dựng… Thông qua đó, công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế, làm thay đổi phương thức sản xuất và sinh hoạt của xã hội.
Phát triển công nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Điều đó đòi hỏi chiến lược, quy hoạch phát triển công nghiệp nói chung, của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm công nghiệp nói riêng, việc quy hoạch phát triển trên các vùng lãnh thổ đều tính đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm tới việc xây dựng các lĩnh vực công nghiệp, các sản phẩm công nghiệp có tính lưỡng dụng, có thể đáp ứng kịp thời yêu cầu của quốc phòng, an ninh; có cơ chế đặc thù hỗ trợ cho các dự án công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với quốc phòng, an ninh.
Phát triển công nghiệp, đồng thời, phải hết sức quan tâm tới bảo vệ môi trường, đáp ứng nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ môi trường. Phải đánh giá đầy đủ tác động môi trường khi thẩm định, xét duyệt các dự án đầu tư. Không chấp nhận các dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường. Tất cả các dự án đầu tư công nghiệp, các khu công nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn, xử lý không khí trước khi đưa trở lại môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường đối với mỗi dự án, mỗi khu công nghiệp. Khuyến khích các dự án đầu tư công nghệ cao, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường./.

 

PGS. TS Nguyễn Văn Thạo
Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương








Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết