Thứ Ba, ngày 12 tháng 11 năm 2019

Một số kinh nghiệm của CHLB Đức về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ xã hội (phần 3)

Ngày phát hành: 27/09/2019 Lượt xem 163

 

VI. NHỮNG BÍ QUYẾT VỀ VĂN HOÁ TRONG PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÁC NHÀ KINH DOANH ĐỨC

Là một đất nước có nền kinh tế hùng mạnh và dựa nhiều vào thương mại, ngoại thương, Đức luôn được đánh giá là có văn hóa doanh nghiệp rất chuyên nghiệp và hiệu quả. Bài toán kinh doanh để thu được lợi nhuận cao nhất luôn là vấn đề ưu tiên hàng đầu của các doanh nhân và những nhà nghiên cứu thị trường. Nhưng ở Đức, họ luôn coi trọng việc tuân thủ nghiêm ngặt đạo đức nghề nghiệp và không ngừng tìm cách để nâng cao hiệu quả công việc. Một số bí quyết văn hoá trong kinh doanh có thể tổng hơp được:

1. Đàm phán kinh doanh cũng phải ngay thẳng

Ngoại thương trở thành thành phần tất yếu mang tính sống còn trong nền kinh tế Đức nên người Đức có bề dày hàng trăm năm kinh nghiệm, kỹ năng về đàm phán quốc tế. Trước khi đàm phán với đối tác Đức cần có sự chuẩn bị thật kỹ về mọi mặt, và đưa ra nhiều phương án lựa chọn. Đừng quá cố tìm cách để đạt được mục tiêu nào đó "trên bàn đàm phán" trừ khi bạn muốn ra về tay không. Những "chiêu trò" nhằm thu được lợi ích ngắn hạn, xâm hại đến lợi ích của người khác, chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà bỏ qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ sẽ chỉ dẫn tới thất bại thôi. Các doanh nghiệp Đức rất thận trọng. Vì thế bài thuyết trình của một nhà đầu tư vào Đức nên thật chi tiết và đừng quá cường điệu. Hãy đi thẳng vào những điểm chính và trình bày thật rõ ràng. Người Đức thích các kế hoạch và quan hệ đối tác dài hạn. Nếu đối tác Đức tin và hiểu bạn, họ sẽ hợp tác và cùng phát triển, kể cả khi bạn gặp khó khăn.

2. Bất kể một hành vi phi đạo đức nào cũng sẽ là nguyên nhân dẫn tới sự thất bại

Các doanh nghiệp Đức không cạnh tranh nhau bằng giá rẻ mà chỉ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. Họ tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh với một mức độ cần phải có và sẵn sàng chuyển phần lớn lợi nhuận để đầu tư vào chất lượng sản phẩm, phục vụ hậu mãi, nhằm đảm bảo phát triển doanh nghiệp bền vững. Những trường dạy nghề ở Đức luôn có môn học về đạo đức kinh doanh. Một trong hai trường dạy nghề đầu tiên nổi tiếng ở Berlin đã lấy lời của chính trị gia Christian Beuth để làm khẩu hiệu: Trường này chỉ dành cho những người có khả năng, chăm chỉ, có tư cách đàng hoàng và có đạo đức. Được học tập tại trường là một sự khích lệ lớn. Sự siêng năng trong kinh doanh không thể không đi kèm với đạo đức. Nhà trường không có hình phạt nào khác ngoài việc buộc thôi học những người đạo đức kém.

3. Hối lộ và tham nhũng không nằm trong văn hóa kinh doanh của người Đức

Theo như trang đánh giá www.transparency.org, Đức đạt 79/100 điểm về việc chống tham nhũng và chỉ số tham nhũng là 13/176. Lĩnh vực xây dựng và đấu thầu được chính phủ Đức đặc biệt quan tâm nhằm cắt giảm nạn tham nhũng trong và ngoài nước.

Các luật chống tham nhũng áp dụng nghiêm ngặt cho các hoạt động kinh tế trong nước. Đức đã phê chuẩn Công ước về chống hối lộ năm 1998 qua đó làm giảm việc hối lộ của các quan chức nước ngoài của công dân Đức và các công ty ở nước ngoài.

Cán bộ Chính phủ bị cấm nhận quà tặng liên quan đến công việc của họ. Vì thế khi làm ăn, giao thương với người Đức, nếu có ý định “đi cửa sau” hoặc “bôi trơn” thì bạn sẽ có nhiều khả năng đánh mất niềm tin của họ vì đó không phải là hành vi được ủng hộ trong kinh doanh ở đất nước này.

4. Bảo vệ môi trường là chìa khóa trong kinh doanh

Chính phủ Đức nhìn nhận vô cùng nghiêm túc về vấn đề môi trường, việc thúc đẩy liên minh hợp tác giữa các Đảng, giữa doanh nghiệp và chính phủ trong những năm qua đã tác động to lớn đến mục tiêu chính sách về năng lượng và môi trường. Những hoạt động kinh doanh có yếu tố bảo vệ hoặc gây ít tác hại tới môi trường sẽ được cộng thêm điểm trong thứ tự ưu tiên của đối tác Đức.

5. Vạch rõ giới hạn và tuân thủ theo các nguyên tắc, quy định

Xét về nhiều góc độ thì người Đức được đánh giá là bậc thầy trong việc lập kế hoạch. Người Đức suy nghĩ rất thấu đáo, mỗi một khía cạnh của một dự án đều có một phương án chi tiết, kĩ càng. Thận trọng trong việc lập kế hoạch giúp cho người Đức luôn có phương án tối ưu nhất trong cả kinh doanh và cuộc sống, họ luôn đặt mình vào trong một giới hạn an toàn. Mọi việc trong cuộc sống và công việc của người Đức hầu hết đều được vạch rõ và điều chỉnh bởi những quy định, thông qua luật pháp, nguyên tắc và thủ tục. Trong văn hóa kinh doanh của người Đức thì điều này được phản ánh trong việc tuân thủ các nguyên tắc kinh doanh, làm giảm đi các phương án dự phòng hay hạn chế các tình huống tự phát trong quá trình diễn biến sự việc. Người Đức không thích sự bất ngờ. Những thay đổi đột xuất trong các thương vụ kinh doanh thường không được chào đón mặc dù họ có thể đưa ra phương án giải quyết ngay lúc đó.

6. Nguyên tắc đúng giờ là bước đầu dẫn tới thành công

Đức là một xã hội có trật tự và chính xác về giờ giấc. Người Đức quan niệm rằng người lịch sự bao giờ cũng đến đúng giờ. Nếu chủ ý đến muộn để thể hiện cấp bậc của mình, hay quan niệm người quan trọng thì phải xuất hiện sau cùng sẽ phản tác dụng đối với người Đức.Việc bạn đến muộn dù chỉ là vài phút khi gặp gỡ với người Đức cũng thể hiện ra sự thiếu tôn trọng đối với đối phương, do vậy bạn đừng trễ hẹn khi có cuộc gặp với họ. Nếu vì một lí do nào đó mà bạn đến trễ, hãy gọi điện và giải thích cho họ về tình huống khiến bạn trễ hẹn. Để có một cuộc hẹn thể hiện sự tôn trọng với đối tác, bạn hãy đến sớm 5 đến 10 phút.

7. Trang phục công sở cũng phải đẹp mắt và lịch sự

Diện mạo và khả năng thuyết trình là những điểm quan trọng của người Đức, đặc biệt là trong môi trường kinh doanh thực tế. Trang phục được làm bằng những chất liệu tốt là rất quan trọng, ăn mặc tùy tiện và cẩu thả trong cả trang điểm đối với nữ giới đều không được đánh giá cao. Khi làm việc với người Đức, bạn không nên cởi áo choàng hay tháo cà vạt trước họ. Phụ nữ được quy định là không trang điểm đậm hoặc đeo những bộ trang sức lớn lộng lẫy. Tuy nhiên bạn cũng đừng ngạc nhiên khi thấy một người mang tất trắng với giầy và trang phục tối màu.

VII. MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH GẮN KẾT PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI VĂN HOÁ XÃ HỘI

1. Cần phải có sự thống nhất từ lý luận đến thực tiễn trong việc xây dựng chính sách gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội

Từ nghiên cứu thực tế ở Đức, cho thấy: mô hình kinh tế thị trường xã hội có thể thấy “chất xã hội” rất rõ. Mà chất xã hội này dường như rất gần với “chất xã hội chủ nghĩa” Mác-Lênin ít nhất ở các nội dung đảm bảo phúc lợi cao nhất cho người dân. Vậy phải chăng cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình phát triển xã hội Việt Nam chính là luận thuyết về nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với truyền thống của một đất nước luôn biết đoàn kết một lòng đấu tranh thoát ra khỏi sự lệ thuộc giành độc lập dân tộc? Các mô hình phúc lợi xã hội  của CHLB Đức mang đặc điểm chung là sự lo toan và bảo đảm mức phúc lợi tối đa cho mỗi người dân tuỳ theo hoàn cảnh mỗi nước. Các nước thực hiện điều này theo những cách khác nhau nhưng điểm chung là phải bảo đảm đạt được mức tăng trưởng kinh tế đủ cao để tạo cơ sở vật chất cho phân phối công bằng của cải đã sản xuất ra. Đương nhiên sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết quan trọng nhất nhưng điều đó không có nghĩa phát triển xã hội là khía cạnh phụ thuộc hoàn toàn thụ động trước các yêu cầu phát triển kinh tế.

2. Sự nhất quán trong các chính sách xã hội có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Ở Đức người ta quan niệm chính sách xã hội không phải là “sản phẩm phụ” của tăng trưởng kinh tế mà là một nhân tố sinh lợi (productive factor). Cơ sở của các nhà nước phúc lợi ở Đức là sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và các nhu cầu xã hội, sự cân bằng giữa các mục tiêu về phồn vinh kinh tế và phồn thịnh trong đời sống xã hội. Chính vì thế người ta đã đưa nội dung tạo việc làm đầy đủ vào chính sách xã hội như một trụ cột quan trọng của phát triển xã hội bên cạnh việc phát triển hệ thống giáo dục-đào tạo phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động theo hàm nghĩa rộng nhất.Và bài học quan trọng có thể nhắc lại ở đây chính là mối quan hệ giữa "cái" kinh tế và "cái" xã hội:  CHLB Đức thực hiện chính sách xã hội hào phóng nhờ kinh tế tăng trưởng cao nhưng việc tăng liên tục mức thuế của dân cư đã làm mất động lực làm việc của người lao động trong khi tiền thuế được dùng cho các chính sách xã hội hào phóng đã tạo ra một lớp người lười biếng sống dựa dẫm vào các phúc lợi xã hội. Như vậy "cái" xã hội đã "phản lại "cái" kinh tế. Khi xác định đi theo mô hình kinh tế thị trường xã hội các nước Châu Âu nói chung và CHLB Đức nói riêng ở những mức độ khác nhau đã thực hiện chính sách phát triển khu vực công trong bảo đảm phúc lợi xã hội trong khi để lĩnh vực kinh tế-sản xuất chủ yếu cho khu vực tư nhân hoạt động (trừ một số lĩnh vực bắt buộc nhà nước phải nắm). Ở các nước EU, trong đó CHLB Đức là một tấm gương lớn thì tư nhân được xem là lực lượng có hiệu quả nhất trong việc làm ra của cải vật chất cho xã hội, vì thế để cho họ đảm trách công việc này xã hội mới có thể ngày càng có nhiều sản phẩm hơn cho mở rộng phúc lợi chung. Nhưng để đảm bảo công bằng thì nhà nước phải làm chủ lĩnh vực xã hội với việc thực hiện chính sách phân phối lại thích hợp theo từng thời kỳ lịch sử (thường thông qua hệ thống thuế).

3. Cần tạo sân chơi thích hợp cho khu vực tư nhân cả lĩnh vực kinh tế và xã hội, văn hoá

Cần có chính sách thích hợp để phát huy được tối đa năng lực của khu vực tư nhân theo với sự mở rộng từng bước lĩnh vực kinh tế-sản xuất cho khu vực này nắm. Những lĩnh vực xã hội từ chăm sóc sức khoẻ cho đến giáo dục đào tạo về cơ bản phải do nhà nước chi phối và chỉ nên giành một lãnh địa nhất định cho tư nhân theo mục tiêu thu lợi đi liền với nâng cao chất lượng phục vụ. Ở Đức hiện nay người ta vẫn rất thận trọng và còn bàn cãi khá nhiều về mức độ "thị trường hóa" trong các lĩnh vực này vì mối lo sợ việc làm bị đe dọa và chất lượng bị sói mòn cũng như sự hỗn loạn khi việc điều phối lỏng lẻo.

4. Cần xác định rõ sân chơi của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong các chính sách phát triển kinh tế và văn hoá, xã hội

Cần xác định làm sao cho “hợp lý” vai trò và chức năng của nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội. Trên thế giới, các mô hình phát triển hiện nay đều theo mô hình hỗn hợp với nghĩa có cả ‘bàn tay hữu hình’ và ‘bàn tay vô hình’ nhưng vấn đề khó khăn là việc xác định nhà nước can thiệp nền kinh tế mức độ như thế nào là tốt nhất thì dường như chưa quốc gia nào làm tốt việc này. Vì thế, trên thế giới vẫn có những cuộc khủng hoảng diễn ra mà người ta cho rằng do sự nơi lỏng của nhà nước hay đối nghịch lại sự can thiệp quá sâu của nhà nước gây ra sự trì trệ và xơ cứng hệ thống. Qua nghiên cứu các mô hình phát triển xã hội ở  Đức,  chúng tôi cho rằng họ là  một quốc gia làm tốt việc này hơn cả. Trong thời gian gần đây,  Đức vẫn có sự điều chỉnh mô hình phát triển của mình cho phù hợp với thực tiễn phát triển. Trong cải cách, CHLB Đức đều có hướng giảm “tính phúc lợi” của nhà nước để tăng sự năng động của xã hội. Sự điều chỉnh này không phải lớn, điều đó cho thấy họ đã “tiến gần tới điểm tối ưu” trong việc xác định vai trò và chức năng của nhà nước, và tất nhiên mỗi nước có những đặc trưng riêng.

Việt Nam nên xem xét kỹ kinh nghiệm này của Đức để xác định đúng việc mà nhà nước cần phải làm. Tức là phải rành mạch, rõ ràng giữa vai trò chức năng của nhà nước với vai trò chức năng của thị trường. Việt Nam cần phải xem xét kỹ cái gì nhà nước đáng làm thì tập trung làm thật tốt còn những cái gì không đáng làm thì hãy để hoàn toàn cho thị trường làm, tránh can thiệp vào gây méo mó thị trường. Mặt khác, cũng không được tuyệt đối hóa vai trò của thị trường, phải thấy những thất bại của thị trường, và nhà nước phải ra tay để khắc phục các khiếm khuyết, thất bại  này.

5. Nhân tố quốc tế rất cần được lưu ý khi hoàn thiện hệ thống chính sách gắn kết kinh tế với văn hoá xã hội

 Tăng trưởng kinh tế của  Đức trong các thập niên qua luôn ở tình trạng chậm hơn Mỹ và thường được biện hộ rằng để bù lại  Đức lại "xã hội" hơn. Điều đó có thể là đúng và cũng có thể là sự so sánh "khập khiễng" nhưng dù thế nào thì mô hình kinh tế thị trường xã hội của  Đức đang cần "tái cơ cấu" để tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Chính sách Thuế cao của CHLB Đức tạo ngân sách cho phúc lợi dồi dào nhưng điều đó dần dần làm thui chột động lực làm việc của người lao động, không khuyến khích người dân đóng góp có năng suất cho xã hội, còn phúc lợi hào phóng đến mức mọi người dường như được "bao cấp" kể từ khi lọt lòng cho đến khi xuống mồ lại làm cho người dân thấy không thoải mái bởi quá ít tự do trong lựa chọn. Mô hình nhà nước phúc lợi chung của  Đức cũng như các mô hình xã hội Châu Âu khác đang cần "kết cấu lại" và đáng lưu ý là tiến trình này đang chịu tác động mạnh của trào lưu "tân tự do" theo hướng cần nhiều "chất Mỹ" hơn. Chính toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy việc tổ chức lại nhà nước phúc lợi theo hướng thị trường hơn trong khi hội nhập  của CHLB Đức cũng đòi hỏi phải cân bằng được liên kết kinh tế và điều tiết siêu quốc gia với hệ thống luật pháp và chính sách xã hội của các quốc gia. Từ đây cho thấy, khi xem xét các nhân tố tác động đến việc định hình "mô hình xã hội" Việt Nam cần hết sức chú ý đến nhân tố quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa nói chung và tiến trình hội nhập tạo lập các cộng đồng khu vực của Việt Nam. 

6. Các chính sách xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế

 Nếu theo quan niệm phát triển xã hội do Hội nghị thượng đỉnh thế giới về xã hội ở Copenhagen (năm 1995) đưa ra gồm 3 trụ cột: xóa nghèo, việc làm đầy đủ và gắn kết xã hội thì dường như tất cả các nước, kể cả  Đức cũng đang có nhiều vấn đề nổi cộm ở cả 3 trụ cột này.

a. Chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội

Tuy việc xóa nghèo không còn là vấn đề lớn của Đức (dù không phải đã hết người nghèo) nhưng thuộc trụ cột này đối với  nước này là phúc lợi xã hội. Các vấn đề đang nổi lên là sự mất cân đối cung-cầu theo hướng quá tải về cầu trong khi ngân khoản cung ứng có chiều hướng ngày càng eo hẹp, còn sự dung hòa giữa các nhóm lợi ích đang đòi hỏi tăng cường đối thoại giữa các đối tác xã hội. Bài học kinh nghiệm ở đây tạo cơ sở cho một đề xuất kiến nghị là làm sao phát triển rộng hệ thống an sinh xã hội trong khi vẫn nuôi dưỡng được nguồn cung bền vững và tạo được hài hòa lợi ích giữa các đối tác xã hội.

b. Chính sách việc làm

Trụ cột việc làm đầy đủ đã là điểm nóng của  Đức từ nhiều năm nay. Vấn đề ở đây không phải là bảo hiểm thất nghiệp như các nước đang phát triển mà ở tính linh hoạt của thị trường lao động đối với cả việc người lao động gia nhập và rút khỏi thị trường này. Việc phát triển hệ thống giáo dục đào tạo có quan hệ trực tiếp đến trụ cột này. Mọi công dân đều có quyền học tập nhưng việc đào tạo gắn với thị trường lao động như thế nào luôn là vấn đề cần quan tâm trong việc giải quyết tình trạng mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước của Việt Nam. Phải chăng có thể làm theo cách của CHLB Đức: nhà nước có biện pháp giúp học sinh định hướng nghề nghiệp từ sớm thông qua các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng bên cạnh việc phát triển hệ thống các trường dạy nghề tiêu chuẩn trong đó quan trọng nhất là xây dựng hệ thống đào tạo ở các doanh nghiệp, khuyến khích sự gắn kết giữa các trường dạy nghề và các công ty. Trước mắt, Nhà nước có thể yêu cầu các công ty nhà nước, các công ty lớn có trách nhiệm đào tạo nghề cho người lao động theo hình thức song song nhà trường đào tạo lý thuyết, doanh nghiệp đào tạo thực hành.

c. Về công bằng trong phúc lợi xã hội

Trụ cột thứ ba là sự gắn kết xã hội bao hàm nội dung tạo bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, giảm thiểu việc bị loại trừ xã hội. Quá trình đàm phán giữa các đối tác xã hội và khả năng cân đối và hài hoà lợi ích giữa các nhóm đối tác xã hội cũng là gợi ý đáng chú ý từ nghiên cứu của Đức. Các đối tác xã hội này bao gồm 3 nhóm chủ yếu: (a) Các tổ chức công đoàn; (b) Các tổ chức của giới chủ sử dụng lao động và (c) Nhà nước với đại diện là các cấp chính quyền trung ương, chính quyền địa phương.Vấn đề phúc lợi xã hội và đàm phán giữa các đối tác xã hội đã nêu ở trên là điều đáng quan tâm mà Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi được từ cách làm của Tây Ban Nha. Sự hài hoà về lợi ích giữa các bên góp phần quan trọng làm ổn định xã hội, cải thiện khả năng làm việc và mong muốn đóng góp của người lao động vào hệ thống an sinh xã hội, tạo tác động tích cực tới sự chuyển biến của cả mô hình phát triển. Cho tới nay, Việt Nam chưa có quan tâm nhiều tới các chủ thể liên quan tới quá trình phát triển của đất nước và đặc biệt chưa có nhận thức thực sự rõ ràng rằng đó là các đối tác xã hộicần được xem xét và có chính sách điều tiết. Quá trình đàm phán giữa các đối tác xã hội để đi tới điểm cân bằng về lợi ích là rất cần thiết và giúp cho xã hội ổn định, tạo dựng lòng tin và cải thiện hiệu quả hoạt động của toàn bộ cơ cấu kinh tế - xã hội quốc gia.

Ở Đức, quản lý phát triển xã hội được xem là tiến trình theo dõi giám sát việc thực hiện các chính sách phát triển xã hội căn cứ vào các chỉ số  có thể giúp đo lường được các đầu ra, các kết quả và những tác động. Điều rất đáng chú ý là việc quản lý được thực hiện trên cơ sở một xã hội công dân có sự giúp sức của nhà nước. Bài học ở đây là làm sao vừa phát triển kinh tế nâng cao tính cạnh tranh phát huy quyền tự do cá nhân quyền tự quản xã hội vừa kết hợp được với vai trò điều tiết của nhà nước phát huy được sức mạnh cộng hưởng của mọi nguồn lực trong phát triển xã hội. Đây cũng chính là phương hướng cải cách mô hình xã hội  của CHLB Đức và châu Âu nói chung trong những năm trước mắt.

Đức luôn đi đầu trong vấn đề bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu. Thuật ngữ “kinh tế thị trường xã hội và sinh thái-SEME” ngày càng trở nên quen thuộc đối với người Đức. Việt Nam phải chăng học tập  ở đây về vấn đề này: sớm coi trọng môi trường và chống biến đổi khí hậu - mà Việt Nam là một nước bị ảnh hưởng nặng nề nếu vấn đề này trầm trọng hơn; mặc dù nền kinh tế thuộc nhóm các nước đang phát triển nhưng Việt Nam cần khẳng định quan điểm rõ ràng là ưu tiên tối cao bảo vệ môi trường ngay từ đầu trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Qua đó, các hoạt động kinh tế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài chú trọng hơn đến các vấn đề ô nhiễm môi trường, sẵn sàng nói “không” với những dự án có công nghệ cũ lạc hậu có hại đến môi trường.

Với các chính sách bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế, Việt Nam nên học tập kinh nghiệm của CHLB Đức với nguyên tắc là ‘gây ô nhiễm – trả tiền’. Theo nguyên tắc này có rất nhiều biện pháp có thể được thực hiện. Từ kinh nghiệm của Đức, Việt Nam nên phát triển dịch vụ bảo hiểm tài chính môi trường. Tức là bắt buộc các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường phải đóng một mức phí bảo hiểm nhất định nào đó. Nếu cơ sở đó chứng minh được là họ đạt một mục tiêu môi trường nhất định thì sẽ được trả lại. Nếu doanh nghiệp không đạt mục tiêu này, chính phủ có thể sử dụng khoản bảo hiểm này để chi phí cho việc khắc phục hậu quả môi trường hoặc tài trợ cho những người dân bị ảnh hưởng. Ngoài ra Việt Nam cũng cần sớm đưa thuế môi trường vào cuộc sống. Thuế này được áp dụng cho cả những cơ sở khai khác tài nguyên và những cơ sở sản xuất có khả năng gây hại môi trường. Thuế này còn có khả năng định hướng thị trường theo xu hướng phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường hơn.

(Hết)

 

PV. Nguồn: Báo cáo khảo sát tại CHLB Đức của Đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, vấn đề và định hướng chính sách” (mã số KX.04.17/16-20)

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết