Thứ Hai, ngày 16 tháng 09 năm 2019

Đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển nông nghiệp nông thôn: tạo nguồn lực phát triển trong điều kiện mới

Ngày phát hành: 11/09/2018 Lượt xem 1593

Sau hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh hàng loạt thành tựu to lớn của nền kinh tế, Việt Nam hiện đang đứng trước nhiều thách thức to lớn như tốc độ tăng trưởng chậm lại, môi trường ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, bất bình đẳng tăng, năng suất lao động giảm,... Các chỉ số hiệu quả phát triển yếu kém và thiếu vững bền cho thấy mô hình tăng trưởng hiện nay chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý. Đảng và Nhà nước đã quyết định phải tiến hành tái cơ cấu kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng.Câu hỏi cần được trả lời là chỉ ra những sai sót của mô hình tăng trưởng cũ và quan trọng hơn là hình dung được mô hình tăng trưởng mới sẽ như thế nào.

1. Vấn đề thước đo tăng trưởng
Ở Việt Nam hiện nay, tăng trưởng GDP đang được coi là chỉ tiêu kinh tế- xã hội quan trọng nhất, tạo sức ép chính trị lên tất cả các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương. Đây là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến sự tín nhiệm của cấp trên, chứng tỏ năng lực và hiệu quả thành công của các cấp lãnh đạo và chính quyền ở mỗi địa phương. Về nguyên tắc, chỉ tiêu này là một tiêu chí khái quát để chỉ sức lớn của nền kinh tế hơn là đo lường hiệu quả và mức độ vững bền của nó. 
Người ta giả định rằng một khi nền kinh tế tăng trưởng một cách đều đặn với tốc độ nhanh thì cũng có nghĩa là thu nhập của người dân được cải thiện,tích lũy của quốc gia được tăng cường, phân phối lợi ích sẽ cân bằng, môi trường sẽ được bảo vệ, tài nguyên sẽ được khai thác hợp lý. Thực tế cho thấy những giả định này là quá xa vời. Để chạy theo thành tích tăng tốc độ tăng trưởng GDP, trong thời gian qua người ta đã áp dụng nhiều biện pháp không đem lại những hiệu quả kinh tế thực tế, thậm chí còn gây thiệt hại trước mắt và lâu dài. Cách thường áp dụng nhất là tăng chi tiêu công,xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở to lớn, tăng khai thác tài nguyên thiên nhiên nhất là dầu mỏ và than đá. Để có được ngân sách đổ vào chi tiêu công, chính phủ có thể in thêm tiền, tăng vay nợ nước ngoài, phát hành trái phiếu. Khai thác tài nguyên về thực chất cũng là cách lấy đi của các thế hệ tương lai.
Nếu đánh giá hiệu quả của qúa trình phát triển bằng những thước đo thực tế hơn. Ví dụ như mức tăng thu nhập của nhân dân, việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, phát triển tài nguyên con người, lòng tin,sự hài lòng của nhân dân, hòa đồng và liên kết với quốc tế, công bằng và bình đẳng, ổn định chính trị và an sinh xã hội, môi trường trong sạch và tài nguyên được bảo vệ,...Thì chúng ta mới có được sự đo lường chính xác về hiệu quả của một mô hình tăng trưởng hợp lý.

2. Vấn đề mô hình tăng trưởng:
Vùng kinh tế trọng điểm: 
Mô hình tăng trưởng hiện nay của chúng ta ưu tiên đầu tư cho các vùng kinh tế trọng điểm và các ngành trọng điểm. Theo đó, tài nguyên phải được ưu tiên tập trung đầu tư, chính sách phải tạo điều kiện thuận lợi để đưa một số vùng có tăng lực tăng trưởng tốt vượt lên trước, trở thành các đầu tàu kinh tế dẫn dắt và tạo tác động lan tỏa cho các vùng khác trong cả nước. Trong quá trình đó, thường xuyên giám sát và phân bổ lại cho các địa bàn khó khăn, hỗ trợ các đối tượng không có lợi thế để họ không rơi vào đói nghèo, đảm bảo ổn định xã hội. Trong thực tế, mô hình này tỏ ra rất thành công khi các vùng trọng điểm kinh tế được áp dụng những cơ chế đặc biệt, khác hẳn các địa phương khác trong cả nước và bản thân nó là cánh cửa mở ra, hướng vào các khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới.
Theo mô hình này, Đặng Tiểu Bình tháng 11 năm 1984 tuyên bố: các đặc khu kinh tế phải đóng vai trò “bốn cửa sổ” là kinh tế, kỹ thuật, tri thức và ngoại giao. Trong thực tế, những cánh cửa này đã mở ra,thu hút tài nguyên, vốn đầu tư, tiếp nhận kỹ năng quản lý,tiếp nhận khoa học, công nghệ từ bên ngoài vào Trung Quốc. Đây là những trường hợp hết sức thành công trong kinh nghiệm của Trung Quốc khi xây dựng các “đặc khu” các “khu chế xuất”, trực tiếp hướng vào lãnh thổ và thị trường phát triển:Thẩm Quyến tiếp giáp với Hồng Kông, Chu Hải nằm cạnh Ma Cao, Sán Đầu và Hạ Môn đối diện với Đài Loan. Một thế mạnh khác là các đặc khu được hưởng các chính sách ưu đãi đặc biệt trong việc thu hút đầu tư nước ngoài với mục tiêu “lót ổ để thu hút phượng hoàng về đẻ trứng” như: quản lý xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, những quyền hạn đặc biệt trong quản lý kinh tế, quản lý hành chính. Đường lối này đã đem lại kết quả phát triển kinh tế rất khả quan ở Trung Quốc.
Ở Việt Nam năm 1997 - 1998, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia đến năm 2010 ở Bắc bộ, Trung bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 13 tỉnh/thành phố. Năm 2004, quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm mở rộng thêm 6 tỉnh Bắc bộ, Nam bộ và 1 tỉnh Trung bộ. Năm 2007- 2008, quy mô của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được mở rộng gồm 8 tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ bao gồm 7 tỉnh và thành phố Hà Nội. Năm 2009, Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long được thành lập gồm 4 tỉnh, thành phố. 

 


Tuy nhiên, trong thực tế, hai vùng kinh tế trọng điểm chính ở Việt Nam chỉ tập trung vào ven thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Sức mạnh kinh tế chính của hai khu vực này dựa trên hệ thống cơ sở hạ tầng được tập trung xây dựng chủ yếu bằng đầu tư công, nhất là giao thông đường bộ, đường thuỷ, sân bay, các bến, cảng v.v,và các dịch vụ hỗ trợ quan trọng như viện nghiên cứu, trường đại học, các trường học, bệnh viện chất lượng tốt,… tạo ra nền tảng thuận lợi để thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài. Tính riêng TP.Hồ Chí Minh đã chiếm gần 1/3 tổng số doanh nghiệp cả nước. Cả 6 tỉnh thành Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh chiếm 57,4% tổng vốn FDI cả nước (55,8% dự án 58% vốn đầu tư dành cho lĩnh vực công nghiệp và chế tạo). Nhờ đó hình thành năng lực phát triển sản xuất kinh doanh mạnh hơn hẳn các vùng khác trong cả nước.
Do các vùng kinh tế trọng điểm quanh thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội không có được cả hai điều kiện như các đặc khu ở Trung Quốc về vị trí địa lý thuận lợi, mở ra cánh cửa gắn với thế giới bên ngoài và không được Nhà nước trao cho các thể chế, chính sách đặc biệt ưu đãi, sức mạnh chính chỉ dựa trên từ đầu tư công và các dịch vụ công,nên chúng không tạo được hiệu ứng lan tỏa mà ngược lại, hình thành điều kiện cho cơ chế thị trường hút mạnh nguồn vốn, đất đai, lao động và các tài nguyên khác trong nước dồn về. Kết quả là hai vùng trọng điểm này là hai địa bàn chính trong cả nước sản xuất để đóng góp chính cho ngân sách quốc gia. Thành phố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh thành Đông Nam bộ phải đảm đương 42%, Hà Nội và 11 tỉnh thành đồng bằng Sông Hồng đóng góp 30% tổng thu ngân sách.Năm 2016, trong 63 tỉnh thành cả nước chỉ có 13/63 tỉnh thành có nguồn thu có dư để điều tiết về trung ương. 
Địa bàn chật hẹp TP.Hồ Chí Minh chỉ chiếm 0,63% diện tích với 8,8% dân số và 7,8% lực lượng lao động cả nước,nhưng phải đóng góp bằng số thu của toàn bộ 46 tỉnh thành ngoài 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ. Năng lực sản xuất của toàn quốc tập trung vào hai thành phố tạo nên sự quá tải về nhà ở, giao thông, cấp thoát nước, xử lý môi trường, và các vấn đề xã hội. Sau giai đoạn đầu đạt hiệu quả đầu tư rất cao nhờ các lợi thế về cơ sở hạ tầng và dịch vụ, khi các thành phố trở nên quá tải thì hiệu quả đầu tư tụt xuống nhanh chóng. Chi phí đầu tư trở nên đắt đỏ hơn rất nhiều so với các vùng khác trong cả nước.Các vùng kinh tế trọng điểm chất chồng thêm khó khăn do dồn nén nhân vật, lực trên địa bàn nhỏ hẹp nhưng phải liên tục mở rộng sản xuất, thay đổi kết cấu để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng. 
Mức đầu tư tại chỗ ngày càng tăng, hút mạnh ngân sách nhà nước và phân phối theo cơ chế cũ hơn là tính toán kinh tế.Ngoài vấn đề đóng góp không đều cho ngân sách giữa các vùng trọng điểm, nền kinh tế của đất nước bị chia thành 2 phần: khu vực tập trung quanh hai thành phố lớn nhất trở nên hết sức năng động, nhận phần lớn đầu tư nước ngoài, thu hút phần lớn doanh nghiệp trong nước, tạo ra phần lớn việc làm và thu nhập và kéo về đây đa số dân cư, trong khi phần còn lại của cả nước chủ yếu sống bằng kinh tế nông nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên, có mức thu nhập và điều kiện sống thấp hơn hẳn, đóng góp rất ít cho ngân sách. Trong tổng số hơn 1 triệu tỷ đồng thu ngân sách, thì 14 tỉnh Miền núi phía Bắc và 5 tỉnh Tây Nguyên hoàn toàn không không đóng góp gì, 12/13 tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên nhận bổ sung từ chính phủ.
Mô hình tăng trưởng không đều trên làm xuất hiện hàng loạt bất cập. Thứ nhất, động lực tăng trưởng của vùng trọng điểm không phải do chính sách hoặc cơ chế đổi mới tạo ra, cũng không dựa trên lợi thế so sánh mà chủ yếu nhờ có ưu tiên đầu tư.Quyết định ưu tiên này chưa hợp lý, gắn liền với cơ chế xin - cho, vào mức độ ảnh hưởng chính trị dẫn đến việc chạy chọt, vận động thay cho sáng tạo, đổi mới. Các địa phương đi trước đóng vai trò đầu tàu cảm thấy bị thua thiệt, bị khai thác, sẽ muốn được hưởng những chính sách ưu đãi đặc biệt hơn, muốn được điều tiết với tỉ trọng cao hơn và cũng giảm động lực phấn đấu. Thứ hai, tại các địa phương đóng góp ít cho ngân sách sẽ xuất hiện tư tưởng ỷ lại, trông chờ, thiếu chủ động, sáng tạo trong phát triển kinh tế. Như vậy, cả nước đều trì trệ.

Thành phần kinh tế chủ đạo:
Xét theo thành phần kinh tế thì ba nhóm chính đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam.Năm 2015, khối kinh tế tư nhân đóng góp 41,2% GDP, tạo việc làm cho 85,9% lao động; doanh nghiệp nước ngoài góp 26,3% GDP, 4,2% lao động; và khối kinh tế nhà nước đóng góp 22,8% GDP; 9,8% lao động. Bất chấp thực tế là kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng GDP và tạo ra phần lớn việc làm trong xã hội, dù trong thời gian gần đây công tác cổ phần hóa đã được đẩy mạnh nhưng vẫn chậm so với tiến độ đề ra và về thực chất thành phần kinh tế nhà nước vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Nhà nước giữ đa số cổ phần trong 3.000 doanh nghiệp đã cổ phần hóa; chiếm 1/3 GDP, gần 40% đầu tư nắm độc quyền sản xuất phân bón, khai mỏ, các dịch vụ thiết yếu, ngân hàng, xây dựng... 
Trong giai đoạn 5 năm 2011 - 2015, FDI chiếm đến 25% tổng đầu tư toàn xã hội, chủ yếu trong các lĩnh vực có giá trị gia tăng và thu lợi nhuận cao như kinh doanh, chế biến nông sản, dịch vụ du lịch, công nghiệp chế tác quan trọng… Kết quả là khối kinh tế tư nhân rất non trẻ phải đương đầu với tình trạng cạnh tranh bất lợi.
Trong hoàn cảnh cạnh tranh bất lợi đó, năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh của khối doanh nghiệp tư nhân giảm sút nhanh chóng. Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới,doanh thu trên một đơn vị tài sản của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam từ mức cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc năm 2011, đã sụt giảm mạnh và đến năm 2015, bắt đầu xuống thấp hơn so với nhóm đối tượng này ở Trung Quốc. Thậm trí từ năm 2010 đến nay, mức doanh thu trên một đơn vị tài sản của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã xuống thấp hơn cả kết quả của các doanh nghiệp nhà nước, trong khi ở Trung Quốc vị thế của các doanh nghiệp tư nhân lại trở nên mạnh hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước. 

Lĩnh vực kinh tế động lực:
Xét về các ngành kinh tế, lĩnh vực nông nghiệp 30 năm đổi mới đã chứng tỏ vai trò hết sức quan trọng như lá chắn bảo vệ đất nước trong những giai đoạn khủng hoảng,là động lực quan trọng phát triển kinh tế: duy trì giá lương thực rẻ để ngăn chặn tình trạng lạm phát, tạo ra mức lương cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài, là ngành duy nhất liên tục xuất siêu, duy trì cán cân thương mại ổn định cho kinh tế vĩ mô… Tuy vậy, mức đầu tư công cho nông nghiệp không xứng đáng với sự đóng góp to lớn của ngành, vì thế tạo ra hiệu ứng bất lợi cho việc thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Tỷ trọng đầu tư cho ngành nông nghiệp liên tục giảm, cho đến nay chỉ chiếm khoảng 6% trong tổng đầu tư toàn xã hội trong khi ngành nông nghiệp vẫn đóng góp tới 17% xuất khẩu , 18% GDP và tạo việc làm cho 44% lực lượng lao động của cả nước.
Chạy theo mục tiêu tăng trưởng GDP, cả nước cũng như từng địa phương đều dồn sức thu hút đầu tư phát triển kinh tế đô thị và tăng tỷ trọng công nghiệp.Ngay cả các tỉnh không có lợi thế cũng tập trung bằng mọi cách “trải thảm đỏ” thu hút đầu tư để mở ra các khu công nghiệp các khu du lịch. Kết quả là ở hầu hết các địa phương đều xuất hiện tình trạng khai thác tận thu tài nguyên tự nhiên như (khai thác gỗ,đánh bắt thủy sản, khai thác khoáng sản, làm thủy điện, khai thác cát, đá,…) tác động xấu đến môi trường. Trong các khu công nghiệp áp dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng, lãng phí tài nguyên,gây ô nhiễm. Nông nghiệp sử dụng quá nhiều phân thuốc, nước, làm sói mòn đất dốc, phá rừng, gây ô nhiễm và suy giảm đa dạng sinh học,suy giảm cánh quan.

 


Với mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào công nghiệp và kinh tế đô thị, những địa phương có lợi thế về nông nghiệp, các tỉnh thuần nông đương nhiên trở thành những địa bàn yếu kém nhất trong cả nước, thường xuyên sống lệ thuộc vào trợ cấp về ngân sách của Nhà nước. Hai điển hình tiêu biểu là vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên vốn là 2 vùng sinh thái có điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp trong vùng Đông Nam Á đã trở thành địa bàn kinh tế yếu kém, xã hội lạc hậu, kém vững bền môi trường. Cả 13 tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long chỉ đóng góp được trên 4,5%; còn 5 tỉnh Tây Nguyên góp chưa tới 1,4% ngân sách quốc gia. Tại các địa phương này, bất chấp lợi thế vô giá về nông nghiệp, một số nơi phá đi các vùng đất phì nhiêu, những vùng vườn mầu mỡ để xây dựng các khu công nghiệp hay đô thị kém hiệu quả. 
Dù chấp nhận hi sinh to lớn nhưng hiệu quả đem lại cho quá trình công nghiệp hóa tại các tỉnh rất hạn chế. So sánh giữa những tỉnh “thuần nông” như Thái Bình và An Giang (GDP nông nghiệp chiếm 35 - 36%) với những tỉnh có tỷ lệ công nghiệp hóa cao, như Đồng Nai và Vĩnh Phúc (GDP nông nghiệp chiếm 6 - 7%), nhìn chung GDP bình quân trên đầu người của các tỉnh công nghiệp chỉ cao khoảng gấp đôi so với các tỉnh thuần nông. Mức thu nhập trung trên đầu người cao hơn không đáng kể, ở mức tương đương hay gấp rưỡi giữa các tỉnh công nghiệp và tỉnh nông nghiệp, điều đáng nói là một phần lớn cư dân vẫn tiếp tục sống trên địa bàn nông thôn dù tỉnh đã đạt tới mức độ phát triển công nghiệp rất cao.  
Mô hình phát triển công nghiệp trên cho thấy,cho dù tất cả các tỉnh ở Việt Nam trong tương lai có đạt đến mức độ công nghiệp hóa cao như tỉnh Đồng Nai và Vĩnh Phúc hiện nay thì vẫn chưa cải thiện được một cách căn bản kết cấu xã hội nông thôn và không tăng được một cách căn bản thu nhập của nhân dân. Như vậy Việt Nam khó có thể trở thành một nước công nghiệp hóa được theo mô hình tăng trưởng hiện nay. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều nước trên thế giới và là bẫy thu nhập trung bình mà các nước Đông Nam Á hiện nay đang vướng phải. 

Bài học thất bại của kinh tế Đông Nam Á 
Nóng lòng đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, các quốc gia này không chú trọng tái cấu trúc nông nghiệp với những cuộc cải cách ruộng đất nửa vời, (hay áp dụng tập thể hóa máy móc như Việt Nam), phần lớn áp dụng chính sách lấy đi tài nguyên từ nông thôn và nông sản giá rẻ từ nông nghiệp để hỗ trợ cho công nghiệp và đô thị. Đây chính là ảnh hưởng của mô hình tăng trưởng nền kinh tế thuộc địa trước kia. Thực dân bắt các nước cung cấp thực phẩm rẻ cho lao động giá rẻ của các đồn điền, hầm mỏ. Sau khi dành được độc lập, chính sách ưu ái phát triển công nghiệp và kinh tế đô thị bằng nông sản rẻ, tài nguyên rẻ tiếp tục lấy đi của nông dân. Đường lối giống nhau này được áp dụng ở cả các nền kinh tế dẫn đến cả quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đều nghẽn tắc.
Sự tách biệt giữa nông thôn và thành thị dẫn đến dòng di cư ào ạt tạo ra các “Siêu đô thị” khổng lồ tắc nghẹt vì thiếu chỗ ở, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và mâu thuẫn xã hội. Sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và đô thị khiến cho phần lớn dân số của đất nước sống ở nông thôn có mức thu nhập thấp, không trở thành thị trường cho công nghiệp. Các ngành công nghiệp dư thừa sức sản xuất, chỉ trông cậy vào thị trường đô thị với khoảng 30% dân số. Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á, sau một thời gian tự xem mình là những con rồng, con hổ đang cất cánh bỗng nhận ra rằng cơ hội phát triển kinh tế đang bị đánh mất. 
Trong quá trình công nghiệp hóa, các doanh nghiệp nhà nước được chăm sóc ưu tiên, các công ty sản xuất tư nhân trong nước không bị áp đặt cạnh tranh bằng kỷ luật xuất khẩu, trong khi Nhà nước lại kêu gọi và “trải thảm đó” mời gọi các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã biến các quốc gia này trở thành các thị trường đầu tư “phi công nghệ”, chấp nhận ô nhiễm môi trường và vắt kiệt tài nguyên, đóng vai trò những nhà thầu gia công lắp ráp, hưởng lợi nhuận thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các công ty nội địa ít cạnh tranh và không chịu áp lực sàng lọc kẻ thắng cuộc, không bắt buộc phải xuất khẩu chỉ tập trung làm ra hàng hóa thay thế nhập khẩu cho thị trường nội địa, chủ yếu cho đô thị sẽ thua ngay trên sân nhà trước các đối thủ xuyên quốc gia hùng mạnh. 
Malaysia thất bại trong ngành thép, Indonesia thua trong sản xuất máy bay, Việt Nam đổ vỡ trong ngành đóng tàu,… và như đã từng diễn ra ở Nga hay Mỹ Latin, tầng lớp thống trị kinh tế sẽ là giới doanh nhân không được rèn theo kỷ luật hiệu quả.Hệ thống tài chính cũng được “tự do hóa” một cách sai lầm: mở cửa ở giai đoạn quá sớm và kiểm soát vốn một cách lỏng lẻo. Thị trường tài chính non trẻ đã sinh ra rất nhiều ngân hàng của các công ty gia đình không hỗ trợ sản xuất hướng về sản xuất cho xuất khẩu mà cho vay phi pháp, đầu cơ vào chứng khoán, đất đai và bất động sản, liên kết thành những nhóm lợi ích tư nhân, tách khỏi định hướng phát triển quốc gia. Tình trạng này giống như vấn nạn đã xảy từng ra ở Mỹ Latin, Nga…

Bài học thành công của kinh tế Đông Bắc Á
Ngày nay, trong 196 nước trên thế giới đang chạy đua công nghiệp hóa, tùy theo tiêu chí phân loại khác nhau, chỉ có khoảng 30 - 40 quốc gia đã đạt tới đích phát triển. Những nước này phần lớn đã trải qua hàng trăm năm tích lũy tư bản tàn bạo gắn liền với bóc lột nô lệ da đen, khai thác thuộc địa, phá hoại môi trường và bần cùng hóa nông dân. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc năm 1945 đến nay, chỉ có vài nền kinh tế là có thể vươn từ “thế giới thứ ba” lên “thế giới thứ nhất”, đa số tập trung vào vùng Đông Bắc Á. Vì thế, thành công nổi bật của các mô hình này đã trở thành những gợi ý vô giá cho các nước đang phát triển về giải pháp tiến lên hiện đại.
Ở Đông Bắc Á, Nhật Bản học theo chiến lược hiện đại hóa của Mỹ và châu Âu, sau đó, các kinh nghiệm này lan sang thuộc địa Hàn Quốc và Đài Loan. Các nền kinh tế này tạo ra bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị nhờ mua nông sản giá cao, tăng bảo hộ nông nghiệp, cấm nhập khẩu nông sản và tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp. Nhờ đó, gia đình nông thôn có thu nhập nhiều hơn hay ngang bằng gia đình thành thị. Khác với chính sách tài trợ phúc lợi ở các nước Đông Nam Á, phân phối lại thu nhập cao của đô thị cho nông thôn nghèo đói, cung cách phát triển không bỏ lại đối tượng nào, dựa trên nội lực của nông dân để phát triển nông thôn đã ngăn chặn được tình trạng di cư, đưa công nghiệp và đô thị về nông thôn, kết hợp được chính sách xóa đói giảm nghèo ở nông thôn với quá trình phát triển kinh tế- xã hội chung của cả nước. 
Khác với Việt Nam và các nước Đông Nam Á, Nhật Bản không khuyến khích nước ngoài đầu tư trực tiếp vào kinh tế, cũng không để doanh nghiệp nhà nước lấn át tư nhân.Nhật bán rẻ hầu hết các doanh nghiệp thí điểm của Nhà nước giúp doanh nhân khởi nghiệp, bảo vệ họ bằng độc quyền nhóm, bằng mức lợi nhuận tối thiểu trong các dự án béo bở và chỉ chấp nhận tự do thương mại khi doanh nghiệp trong nước đã phát triển. Với các hình thức đa dạng khác, Hàn Quốc và Đài Loan cũng áp dụng chiến lược tương tự và đem lại thành công trong những lĩnh vực mà các nước gặp nhiều khó khăn hay thất bại như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng đường cao tốc, đóng tàu, sản xuất ô tô, sản xuất thép… 
Trong quá trình phát triển, các nước chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại đều gặp phải những thách thức tương tự như Việt Nam, trong cùng giai đoạn phát triển ban đầu. Đó là xuất phát điểm thấp kém của nền kinh tế, sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, doanh nghiệp trong nước yếu kém, cơ sở hạ tầng lạc hậu, đa số lao động tay nghề thấp, nguồn vốn trong xã hội hạn chế, năng lực nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ yếu, hệ thống pháp luật kém hoàn chỉnh, quản lý nhà nước nhiều bất cập, liên kết giữa các thành phần kinh tế lỏng lẻo. Trong bối cảnh tương tự, một số nền kinh tế Đông Bắc Á đã phát triển rất hiệu quả bằng 3 giải pháp quan trọng sau: 
(1)Thứ nhất, tăng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, tổ chức lại nông dân và trao quyền cho họ ngay từ đầu và suốt quá trình công nghiệp hoá;
(2)Thứ hai, gắn kết phát triển nông thôn với đô thị, liên kết công nghiệp với nông nghiệp,hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trong suốt quá trình công nghiệp hóa.
(3) Thứ ba, kết hợp sức mạnh cộng đồng với cơ chế thị trường để bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên tự nhiên ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa. 
Kinh nghiệm của Nhật Bản và Đài Loan tranh thủ sự ủng hộ bằng cách tổ chức và trao quyền cho nông dân là rất đáng xem xét cả về khía cạnh kinh tế và chính trị. Trong cải cách ruộng đất, chính quyền sử dụng tiền viện trợ của Mỹ để mua lại đất của địa chủ chia cho nông dân, tầng lớp địa chủ sau khi có được nguồn vốn ban đầu đa số đã chuyển ra thành thị để trở thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khởi nghiệp thành công. Sau khi chia đất cho người dân, chính phủ các nước này áp dụng chính sách không để nông dân tích tụ quá nhiều ruộng đất để trở lại thành địa chủ và đồng thời cũng không để nông dân sở hữu đất quá nhỏ để trở thành kinh tế tiểu nông. Nhờ vậy, đa số nông dân có thể trở thành các chủ trang trại trung nông sẵn sàng tham gia sản xuất lớn. 
Bước tiếp theo, chính quyền hỗ trợ nông dân tổ chức và tham gia vào nông hội và hợp tác xã một cách rộng rãi. Các tổ chức này do người dân bầu ra lãnh đạo và tự đóng góp kinh phí hoạt động, có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và lấy nhiệm vụ phục vụ cho nông dân làm mục tiêu hoạt động. Do các tổ chức này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu của nông dân, đại diện cho nguyện vọng của họ, nông dân có tinh thần thực sự làm chủ tổ chức của mình. Nhà nước hỗ trợ nông dân thông qua các tổ chức của họ bằng cách phân cấp, giao trách nhiệm cung cấp dịch vụ công cho các tổ chức của nông dân và tăng sức mạnh cho các tổ chức này.
Ví dụ, nông hội Đài Loan và hợp tác xã Nhật Bản đã hình thành các doanh nghiệp của mình trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp của Nhà nước, đủ sức để được nhà nước giao gần như nắm độc quyền phân phối các vật tư nông nghiệp đầu vào như phân bón, giống, thuốc trừ sâu,… nắm giữ cả nhiệm vụ tiêu thụ nông sản đầu ra cho nông dân. Ở Đài Loan, ngân hàng Nông nghiệp trực thuộc Nông hội đã cung cấp tới 4/5 tổng tín dụng cho nông dân và quản lý 50% số chợ bán buôn trên toàn quốc. Tại Nhật Bản, công tác nghiên cứu khoa học được gắn với hoạt động đào tạo và khuyến nông, nhờ đó duy trì được mức tăng trưởng nông nghiệp 4,5% một năm mà hầu như không tăng khối lượng vật tư nông nghiệp. 
Do các doanh nghiệp làm nhiệm vụ cung ứng vật tư đầu vào và nông sản đầu ra thuộc quyền chỉ đạo của nông hội nên các đơn vị này lấy mục tiêu phục vụ nông dân làm chính, không chạy theo lợi nhuận đơn thuần. Vì thế nông dân ở các nền kinh tế này không phải đương đầu với tình trạng giống giả, phân kém phẩm chất, thuốc độc hại, hay những đợt “sốt nóng, sốt lạnh” về giá trên thị trường vật tư nông nghiệp. Họ cũng không phải lo lắng về biến động trên thị trường đầu ra cho nông sản. Một khi nông dân là người quản lý kinh doanh độc quyền về buôn bán thì không còn lo bị tư thương ép cấp, ép giá, cũng không phải lo thu hút, liên kết với doanh nghiệp kinh doanh đầu ra như ở Việt Nam.
Ở một số nền kinh tế Đông Á, cơ sở hạ tầng đặc biệt là cung cấp điện, giao thông và thủy lợi, được phát triển rất hoàn chỉnh ở vùng nông thôn, nhờ đó thu hút mạnh công nghiệp về xây dựng các doanh nghiệp và nhà máy ở nông thôn. Hàng loạt khu công nghiệp nông thôn được hình thành với mục đích cung cấp dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Nhờ thu hút được số lượng lớn doanh nghiệp đầu tư ở nông thôn nên suốt thời kỳ công nghiệp hóa, lao động nhanh chóng rời khỏi sản xuất nông nghiệp và gia nhập lực lượng lao động sản xuất phi nông nghiệp, tạo điều kiện cho tích tụ đất đai mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. 
Giai đoạn 1956 -1966 ở Đài Loan, lao động công nghiệp làm việc trong các thành phố giảm từ 43% xuống còn 37% nhưng chỉ có 17% lao động nông thôn phải rời khỏi quê hương, đông đảo lao động phi nông nghiệp cùng gia đình mình vẫn tiếp tục sống ở nông thôn theo hình thức “ly nông bất ly hương”. Vì vậy, suốt 20 năm công nghiệp hóa ở Đài Loan, dân số cơ học của 5 thành phố lớn nhất chỉ tăng chậm từ 18 đến 27%. Nhờ đó quá trình đô thị hóa cũng diễn ra hết sức thuận lợi chất lượng cư dân nông thôn và thu nhập của họ tăng lên nhanh chóng thay đổi về cơ bản bộ mặt và kết cấu xã hội của nông thôn. 
Về phát triển công nghiệp, chiến lược công nghiệp của các nước trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đều tập trung vào sản xuất vật tư nông nghiệp và chế biến xuất khẩu nông sản. Trong thập kỷ 1950 ở Đài Loan, 70% nông sản xuất khẩu đều đã qua chế biến. Nhờ phát triển công nghiệp gắn bó với phát triển nông nghiệp, đa số dân cư ở nông thôn chuyển sang tham gia sản xuất công nghiệp dịch vụ nên thu nhập của cư dân nông thôn tăng nhanh. Lúc này, lực lượng 80% dân số đông đảo đang sống ở nông thôn lại trở thành thị trường to lớn cho công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng. Trong giai đoạn 1956 -1966 ở Đài Loan, với dân số 10 triệu người chủ yếu sống ở nông thôn đã đóng góp tới 60% tăng trưởng cho công nghiệp chế tạo.

3. Đề xuất về mô hình tăng trưởng mới
Thứ nhất, trên quy mô cả nước, phải tập trung ưu tiên phát triển lợi thế sản xuất nông nghiệp và lợi thế về tài nguyên con người, trước hết nhắm vào các ngành kinh tế dịch vụ. Trong thời gian 10 – 15 năm còn lại của giai đoạn “cửa sổ vàng” về độ tuổi lao động của dân tộc Việt Nam, cần huy động được những cơ hội mới hình thành của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư và của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Thay thế chính sách phân bổ lại hỗ trợ kinh tế-xã hội cho các vùng, miền, ngành và thành phần kinh tế bằng sự liên kết và lan tỏa giữa các lĩnh vực kinh tế với nhau một cách chủ động theo cơ chế thị trường.
Phải chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào các vùng kinh tế trọng điểm, các ngành kinh tế động lực và các thành phần kinh tế chủ đạo sang mô hình tăng trưởng dựa vào lợi thế so sánh của mọi địa phương, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế để họ chủ động phát triển sản xuất, kinh doanh. Địa phương nào có thế mạnh về phát triển công nghiệp thì phát triển công nghiệp, địa phương nào có thế mạnh để phát triển nông nghiệp thì phát triển nông nghiệp, mở rộng hoạt động dịch vụ trên cả nước để phát huy sức mạnh về tài nguyên con người và sức lao động dồi dào của đất nước. 
Thứ hai, tập trung phát triển các ngành công nghiệp vào các địa bàn thuận lợi phát triển công nghiệp về nền móng, năng lượng, khoáng sản, lao động,… nhưng không gây ảnh hưởng trực tiếp và không làm mất tài nguyên của các địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Điều chỉnh lại quy hoạch để từng bước đưa các khu công nghiệp về các địa bàn thích hợp ở trung du, bán sơn địa, ngoài các đô thị lớn và ngoài các vùng sản xuất nông nghiệp chiến lược (kể cả giảm mật độ công nghiệp trên đồng bằng sông Hồng). 
Thứ ba, di chuyển các trung tâm và trao các chức năng sản xuất, dịch vụ trên quy mô lớn ở các thành phố lớn về các thành phố trung tâm của các vùng sinh thái chính trong cả nước và hệ thống các đô thị cấp dưới. Phân cấp, phân quyền của các đô thị Trung ương, dành cho các đô thị này đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng nhất có giá trị gia tăng cao về quản lý  hành chính, ngoại giao…. Hình thành hệ thống các đô thị vệ tinh xung quanh các hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để giảm tải cho thành phố và đưa các hoạt động kinh tế- xã hội ra các vùng ngoại vi. Tại các vùng nông thôn ven đô, các vùng đã quy hoạch xen kẽ phát triển công nghiệp và phi nông nghiệp cần định hướng phát triển nông thôn thẳng lên đô thị kiểu mới đồng thời kéo giãn các đô thị phát triển về các vùng này, kinh tế nông nghiệp chuyển dần sang kinh tế phi nông nghiệp.  
Thứ tư, tại các địa phương có lợi thế về sản xuất nông nghiệp như đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ phải tập trung đầu tư cao độ về cơ sở hạ tầng và phát triển dịch vụ, tạo nền tảng căn bản phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, trước hết là giao thông,thủy lợi, năng lượng, hình thành hệ thống các viện nghiên cứu, các trường đại học chuyên ngành có chất lượng cao. Tại các vùng chuyên canh nông nghiệp chính hình thành các cụm công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp để bố trí các cơ sở công nghiệp phục vụ nông nghiệp (sản xuất vật tư, thiết bị, phân bón, giống, cung cấp đầu vào và các ngành chế biến nông sản phụ phẩm nâng cao giá trị gia tăng đầu ra); tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và các ngành dịch vụ hậu cần, kho vận, bến bãi để tiêu thụ hiệu quả nông sản.

4. Một số giải pháp chính
Thay đổi lại việc thu thập và tính toán các số liệu thống kê theo hướng chuyển cơ quan thống kê trở thành cơ quan độc lập với cơ quan soạn thảo kế hoạch và điều hành kinh tế, chuyển từ việc đánh giá hiệu quả kinh tế bằng chỉ số tăng trưởng GDP sang sử dụng các chỉ số  đo lường hiệu quả kinh tế- xã hội mang tính trực tiếp như thu nhập đầu người, chỉ số thất nghiệp, mức độ hài lòng và hạnh phúc của người dân, mức độ công bằng xã hội, phát triển con người, các chỉ số bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ cảnh quan, các chỉ số cạnh tranh tinh tế,...
Tiến hành đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội đặc biệt là hội nông dân và liên hiệp các hợp tác xã để các tổ chức này thực sự do nông dân bầu ra, thực sự đóng vai trò đại diện cho nông dân, thực sự do nông dân đóng góp và thực sự bảo vệ quyền lợi chính đáng của nông dân. Tiến hành phân cấp, trao quyền thêm các nhiệm vụ, các dịch vụ công như đào tạo, khuyến nông, tín dụng, bảo hiểm,… các hoạt động kinh doanh cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ nông sản đầu ra cho các tổ chức của nông dân, hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác về kỹ thuật, vốn, đất đai và cơ sở hạ tầng.
Hình thành các chính sách đột phá thực sự đưa kinh tế hợp tác trở thành lực lượng kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp như đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, như xây dựng các trung tâm đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ lương và tạo điều kiện làm việc để đưa trí thức vào phục vụ cho kinh tế hợp tác, cho thuê giá rẻ, hoặc miễn phí cho các hợp tác xã, giúp xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc,… tạo điều kiện cho Liên hiệp hợp tác xã tham gia vào quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, để các hợp tác xã trở thành cổ phần cổ đông chiến lược của các doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp quan trọng 
Chuyển dần ngành sản xuất nông nghiệp từ đối tượng sản xuất vật nuôi, cây trồng sang thành ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm cả phần cung ứng vật tư, thiết bị máy móc, phân bón, hóa chất, giống cây trồng, vật nuôi,… và cả các ngành chế biến, hậu cần, phát triển thị trường,… để thu được ngày càng nhiều giá trị gia tăng từ các ngành ở “đầu, cuối” của chuỗi giá trị. Chuyển dân sản xuất nông nghiệp từ cung ứng lương thực, thực phẩm sang dược phẩm, nguyên liệu sinh học, vật liệu sinh học, năng lượng sinh học, chế biến thức ăn, kể cả các dịch vụ cho đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng để từng bước hình thành một nền kinh tế sinh học từ thế mạnh sản xuất nông nghiệp của đất nước.
Điều chỉnh lại chương trình nông thôn mới từ định hướng phát triển chung theo 19 tiêu chí hiện nay sang các vùng nông thôn có định hướng phát triển đa dạng, phân bố lại dân cư và bố trí kinh tế kết hợp với việc thích ứng biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh, quốc phòng.
- Đối với vùng chuyên canh sản xuất nông sản quy mô lớn, tập trung dân cư vào các cụm, tuyến, hình thành các đô thị nhỏ gắn với các trung tâm công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất lớn. 
- Đối với các vùng nông thôn gắn kết giữa du lịch và phát triển ngành nghề, tiếp tục duy trì các mô hình kiến trúc và kết cấu làng xã cổ truyền theo kiểu vườn - ao - chuồng để bảo vệ cảnh quan và văn hóa truyền thống. 
- Đối với các vùng nông thôn phát triển kinh tế phi nông nghiệp, các vùng ven đô thị lớn, sẽ từng bước phát triển thành kinh tế và xã hội đô thị. 
Đổi mới tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành nông nghiệp.Tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước chính như đàm phán ngoại giao, xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách, cung cấp các dịch vụ công căn bản (nghiên cứu cơ bản, khuyến nông ở những vùng khó khăn, bảo vệ hệ thống đê chính, phòng chống thiên tai, thống kê, thông tin thị trường,…). Tổ chức các hình thức liên kết công tư và phân cấp trao quyền cho các cơ quan sự nghiệp công lập để họ làm dịch vụ trực tiếp phục vụ cho các đối tượng sản xuất (kiểm tra, giám sát thị trường, an toàn thực phẩm,…).
Trao quyền cho các tổ chức cộng đồng tham gia quản lý địa bàn ở cơ sở (tài nguyên đất, nước, rừng, biển, quản lý trật tự xã hội, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường,…). Hình thành các tổ chức quản lý ngành hàng với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, đại diện các tác nhân tham gia chuỗi giá trị để ra những quyết định liên quan đến việc phát triển các ngành hàng (quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, các chương trình phát triển, các chính sách khuyến khích và quản lý, phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, bảo vệ thương mại…) ./.



TS. Đặng Kim Sơn





Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết