Thứ Bảy, ngày 15 tháng 12 năm 2018

Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập quốc tế

Ngày phát hành: 14/11/2018 Lượt xem 66


1. Truyền thống lịch sử của Phật giáo Việt Nam
Với lịch sử hơn 2000 năm du nhập, Phật giáo đã thấm sâu vào trong đời sống văn hoá của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong quá trình phát triển, Phật giáo với tư cách là một tôn giáo, đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đồng hành cùng dân tộc là một đặc trưng nổi bật trong truyền thống và tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo đã sớm hoà mình với tín ngưỡng và văn hoá bản địa ngay từ những ngày đầu du nhập tạo nền tảng hình thành nên nền Phật giáo dân tộc. Phật giáo càng phát triển và bén rễ sâu trong đời sống trong đời sống xã hội thì sự gắn bó dân tộc càng sâu sắc hơn. Lịch sử 2000 năm Phật giáo Việt Nam đã minh chứng về một nền Phật giáo nhập thế, và là lịch sử của những người Phật tử yêu nước. Lịch sử đã ghi lại rằng trong suốt thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, trong bối cảnh đất nước bị nô dịch và nguy cơ văn hoá bị đồng hoá, Phật giáo dân tộc thực sự trở thành vũ khí tinh thần chống lại sự xâm lược, nô dịch và đồng hoá bằng Hán nho của các triều đại phong kiến phương Bắc. Ngay sau khi lên ngôi, vị vua đầu tiên của nước ta là Lý Nam Đế (544 – 548) đã cho dựng chùa Khai Quốc (chùa Mở nước) ở giữa Kinh đô, qua đó cũng cho chúng ta thất được vai trò của Phật giáo trong việc xây dựng và giành nền độc lập dân tộc.
Trong giai đoạn lịch sử khi nước nhà giành được nền độc lập tự chủ, đầu thế kỷ thứ 10 và trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, nhất là dưới triều Lý, Phật giáo đã trở thành tư tưởng chủ đạo của văn hoá dân tộc với các vị Thiền sư tiêu biểu như Khuông Việt Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn, Nguyễn Minh Không, Từ Đạo Hạnh, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt…các vị Thiền sư cao tăng đồng thời cũng là những nhà chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc của thời đại, là những người có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Thời kỳ này được coi là thời kỳ vàng son của dân tộc và cũng là của Phật giáo. Phật giáo đã được nâng lên một tầm mới, hoà nhập với dân tộc, trở thành một yếu tố tinh thần chủ đạo của xã hội. Đến thời kỳ nhà Trần, tinh thần đó đã được nhà Trần kế tiếp và tạo dựng đất nước ta trong gần 2 thế kỷ trị vì. Phật giáo đã thực sự trở thành Phật giáo dân tộc, trở thành nền tảng tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ đất nước, đồng thời là bộ phận chủ yếu góp phần tạo nên nền văn hoá tinh thần đương thời của dân tộc. Các Thiền sư-các Vua thời Trần đã lập nên Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử, là một thiền phái mang hệ tư tưởng triết học và bản sắc hoàn toàn Việt Nam. Các vị vua như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông đều rất uyên thâm về triết lý Phật giáo và đã ứng dụng Phật giáo trong mối liên kết nhân tâm để xây dựng và bảo vệ đất nước. Lịch sử đã cho thấy, tinh thần của hội nghị Diên Hồng là tiếng nói của ý thức tự chủ và tinh thần tự lực, tự cường của người dân Việt Nam, là đỉnh cao của sự đoàn kết dân tộc, mà chính sự liên kết nhân tâm, tinh thần hoà hợp của đạo Phật đã thấm nhuần sâu sắc trong vua-tôi thời Trần. Tinh thần Phật giáo đã góp phần quan trọng trong chiến thắng vĩ đại chống giặc Nguyên – Mông của quân và dân Đại Việt.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, nhưng dù ở bất kỳ giai đoạn nào thì hình ảnh của Phật giáo, của các vị Thiền sư, Pháp sư, Quốc sư, Phật tử đứng ra hộ trì đất nước đã trở nên rất gần gũi, thân quen với người dân. Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Phật giáo đã có những đóng góp mà lịch sử đã ghi nhận vào chiến thắng hào hùng của dân tộc. Nhiều cơ sở thờ tự của Phật giáo trên khắp mọi miền đất nước đã trở thành những căn cứ che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng; nhiều nhà sư đã nêu cao tinh thần đại sĩ chính nghĩa tham gia phong trào “cởi áo cà sa khoác áo chiến bào” lên đường nhập ngũ, trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận Đó là những minh chứng cho tinh thần yêu nước chân chính của Phật giáo Việt Nam hoà mình trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định về vai trò và những đóng góp của Phật giáo Việt Nam đối với cách mạng và dân tộc trong bài phát biểu tại buổi tiếp đại biểu Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam tại Phủ chủ tịch rằng: “Trong quá khứ, Phật giáo Việt Nam đã gắn chặt với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã xác nhận Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo, từ bản chất, bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình, biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp cao cả của dân tộc ngày nay, Phật giáo đã góp phần xứng đáng. Đối với Việt Nam, nói đến tôn giáo là người ta nghĩ ngay đến Đạo Phật, đến những việc làm quý báu, đẹp đẽ của đông đảo Tăng Ni, Phật tử. Đạo Phật ở Việt Nam đã mang màu sắc dân tộc Việt Nam rõ rệt. Có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng dân tộc, và trưởng thành cùng dân tộc”.
2. Những thành tựu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, giang sơn nối liền một cõi, Bắc Nam sum họp một nhà. Đây là lúc những người Phật tử Việt Nam thực hiện thống nhất Phật giáo trong cả nước. Với tinh thần lục hoà cộng trụ, gắn bó, đoàn kết với dân tộc góp phần làm đẹp cho truyền thống yêu nước của dân tộc và cùng với dân tộc đạt được những kỳ tích vĩ đại. Hơn nữa, đoàn kết thống nhất các hệ phái Phật giáo, thành lập một Giáo Hội để xướng minh Phật pháp và phát triển dân tộc là nguyện vọng và tâm huyết của nhiều thế hệ tiền bối Phật giáo Việt Nam trong lịch sử. 
Kế thừa và tiếp nối xứng đáng truyền thống đó và cũng là đáp ứng tâm nguyện tha thiết và hoài bão lớn của các thế hệ Tăng Ni Phật tử Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) thành lập vào năm 1981. Đây là một mốc son chói lọi trong lịch sử 2000 năm truyền bá giáo lý Phật Đà của lịch đại Tổ sư trên đất nước Việt Nam, là biểu tượng sáng ngời của tinh thần hòa hợp giữa những người con Phật. Lần đầu tiên, tất cả các tổ chức, giáo hội, hệ phái Phật giáo tự nguyện, dân chủ, lấy Tứ chúng đồng tu làm cơ sở để tham gia vào một giáo hội duy nhất – GHPGVN. Việc ra đời GHPGVN đã mở ra con đường phát triển mới của Phật giáo Việt Nam, đó là thống nhất tổ chức, thống nhất ý chí và hành động để hoằng pháp lợi sinh, đem ánh sáng đạo lý vào trong đời sống xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, tạo dựng cuộc sống hòa bình và an lạc.
Với hơn 35 năm trưởng thành và phát triển trải qua 7 nhiệm kỳ, có thể nói GHPGVN đã thành tựu rất nhiều Phật sự quan trọng có tính chất quyết định đối với sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Trước hết, tổ chức của Giáo hội ngày càng hoàn thiện, ổn định, thống nhất và vận hành có hiệu quả với hệ thống tổ chức gồm 13 Ban, Viện Trung ương hoạt động chuyên ngành như Tăng sự, Giáo dục Phật giáo, Hướng dẫn Phật tử, Hoằng pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế Tài chính, Phật giáo Quốc tế, Từ thiện xã hội, Pháp chế, Kiểm soát, Thông tin Truyền thông, Viện Nghiên cứu Phật học. Hệ thống tổ chức Giáo hội thống nhất từ trung ương đến các địa phương. Thành tựu nổi bật sau hơn 35 năm về công tác tổ chức Giáo hội là Giáo hội đã thành lập Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh tại 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Kiện toàn và nâng tầm hệ thống quản lý hành chính Phật giáo cấp quận, huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh. Giáo hội quản lý 12 Hội Phật tử Việt Nam ở nước ngoài. Tất cả đều hoạt động theo Hiến chương GHPGVN. Tính đến nay trong cả nước đã có 54.000 Tăng Ni tu hành trong 18.500 chùa, tự viện do GHPGVN quản lý, điều hành. Số lượng Phật tử thường xuyên thực hành Đạo Phật khoảng 20 triệu và hơn 30 triệu những người yêu mến Đạo Phật tại Việt Nam.
- Thành tựu xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc:
GHPGVN là thành viên tích cực của MTTQVN, luôn đi đầu trong các phong trào của MTTQVN như: Phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, thiết thân cùng xã hội, hiện hữu trong lòng dân tộc, quyết tâm giữ vững tinh thần độc lập dân tộc, phụng sự chúng sinh là cúng dường Chư Phật, đồng thời, để phát huy vai trò thành viên trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện hữu hiệu phương châm hoạt động của Giáo hội “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, các thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp, Tăng Ni và Phật tử cả nước đã tích cực hưởng ứng và tham gia các phong trào ích nước lợi dân, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi sinh, môi trường sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng nếp sống văn hóa trên địa bàn khu dân cư, tham gia tích cực vào phong trào quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu.
Tham gia góp ý dự thảo xây dựng các dự án luật, trong đó đặc biệt là dự án Luật tín ngưỡng tôn giáo; Tham dự các hội nghị quán triệt nội dung Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc; Tham gia phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; ký kết phối hợp công tác với Ủy ban an toàn giao thông Quốc gia trong việc vận động Tăng Ni, Phật tử thực hiện nếp sống văn hóa giao thông; ký kết phối hợp công tác với Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài chăm lo đời sống văn hóa tâm linh cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng lòng yêu quê hương đất nước trở về với cội nguồn dân tộc; phối hợp với Bộ VHTTDL trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo trong các lễ hội tôn giáo tại địa phương... 
Với trách nhiệm và bổn phận của công dân đất nước, Trung ương Giáo hội và Giáo hội Phật giáo các cấp đã vận động Tăng Ni, Phật tử tham gia tích cực công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, đồng thời Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo các cấp đã giới thiệu Tăng Ni, Phật tử ứng cử tham gia Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp qua các kỳ.  
Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các đại diện thành viên của Giáo hội từ Trung ương đến địa phương đều tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. 
Nhìn chung, Tăng Ni và Phật tử luôn giữ vững lập trường, phát huy truyền thống đoàn kết, hòa hợp, độc lập dân tộc, theo hướng đi lên của thời đại, góp phần xây dựng xã hội Việt Nam văn minh, tiến bộ, giàu mạnh. 
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được Đảng Nhà nước trao tặng 2 lần Huân Chương Hồ Chí Minh đây là phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tử trên toàn quốc.
- Thành tựu hoằng dương chính pháp, hướng dẫn và chăm lo đời sống tinh thần, tâm linh cho mọi tầng lớp trong xã hội, xiển dương đạo đức học Phật giáo góp phần xây dựng và làm đẹp nền đạo đức xã hội.
Trong xã hội hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của con người được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Song nó luôn luôn tồn tại một thực tế là các nhu cầu của con người và nhu cầu xã hội phát triển quá nhanh hơn so với sự cung cấp và đảm bảo cho các nhu cầu đó, đồng thời với những thiên tai, dịch bệnh, xung đột…đã đẩy con người luôn phải đối diện với những khổ đau, bất hạnh, phiền muộn. Do đó, ngày càng có nhiều  người cần một nơi nương tựa về tinh thần để tự giải phóng khỏi những khổ đau đó. Ban Hoằng pháp và Ban Hướng dẫn Phật tử của Giáo hội đã làm tốt sứ mệnh của mình giúp cho mọi người tăng trưởng đạo tâm, phát huy chính tín, tạo nguồn an lạc, lạc quan, giải thoát, ổn định trong cuộc sống. 
Tổ chức mở rộng các hình thức sinh hoạt của giới trẻ Thanh, Thiếu niên Phật tử. Phát huy mô hình Câu lạc bộ Thanh niên, Thiếu niên Phật tử và Ban liên lạc Phật tử hải ngoại. Tổ chức những lớp giáo lý và sinh hoạt cho tuổi trẻ tại các chùa, tự viện thường xuyên và rộng khắp với nội dung phong phú. đã tổ chức nhiều hội trại khắp cả nước có hàng chục nghìn thanh thiếu niên đã tham dự các khóa tu mùa hè cho các cháu thanh thiếu niên Phật tử và học sinh đã trở thành một nét đặc sắc đáp ứng nhu cầu giáo dục hè cho các cháu học sinh, và đặc biệt là các hội thi giáo lý, các khóa truyền quy y cho các đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nguyên, Tây Bắc và các vùng miền núi, hải đảo. Phong trào tiếp sức mùa thi được tổ chức tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Ngoài ra là phong trào hiến máu nhân đạo, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn…đã được Ban HDPT các tỉnh, thành phố tổ chức tốt.
- Góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và đội ngũ trí thức trong giáo dục Phật giáo
Sau hơn 35 năm đến nay Giáo hội có 4 Học viện: Học viện Phật giáo tại Hà Nội, tại Huế, tại Tp Hồ Chí Minh và tại Tp Cần Thơ. Đến nay các Học viện đã đào tạo gần 10. 000 Tăng Ni tốt nghiệp cử nhân Phật học, đang đào tạo trên 2000 Tăng Ni sinh.
Hệ Cao đẳng Phật học đã đào tạo hơn 3000 Tăng Ni sinh tốt nghiệp; và đang đào tạo hơn 1000 Tăng Ni sinh. Cả nước có 31 Trường Trung cấp Phật học, đã đào tạo 12.000  Tăng Ni sinh tốt nghiệp Trung cấp Phật học, đang đào tạo gần 5000 Tăng Ni sinh. Hầu hết các tỉnh đều mở lớp Sơ cấp Phật học.
Thành tựu nổi bật sau hơn 35 năm của công tác đào tạo Tăng Ni là việc Giáo hội đã chủ động gửi các Tăng Ni sinh đi du học nước ngoài. Đến nay Giáo hội đã giới thiệu hơn 500  tăng ni đang du học ở nước ngoài: Ấn Độ, vùng lãnh thổ Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Myanma, Thái Lan… Đến nay đã có khoảng 200 tăng ni sinh đã tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ, tiến sĩ về nước phục vụ công tác Giáo hội đây là nguồn nhân lực của hệ thống đào tạo giáo dục Tăng Ni của Giáo hội. 
Với đội ngũ giảng viên hùng hậu, có trình độ ngang bằng các trường Đại học trong nước và Quốc tế, Giáo hội đã được Nhà nước cho phép đào tạo hệ Cao học thạc sĩ, tiến sĩ Phật học tại Học Viện Phật giáo Việt Nam. 
- Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam đảm bảo có sự tiếp nối giữa truyền thống và hiện đại, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại hội nhập quốc tế. 
Công tác trùng tu, kiến tạo hàng nghìn cơ sở chùa, tự viện, danh lam thắng cảnh của Phật giáo cả nước được tiến hành có kết quả, nhất là các cơ sở tại vùng biên giới và hải đảo, góp phần trang nghiêm cơ sở tại địa phương, tạo thêm vẻ mỹ quan cho xã hội. Có nhiều chùa đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, hàng nghìn chùa được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, cấp tỉnh, thành phố là những di sản văn hóa. Giáo hội đã triển khai thực hiện các đề án về kiến trúc Phật giáo Việt Nam, ngôn ngữ Phật giáo Việt Nam và di sản Văn hóa Phật giáo Việt Nam…nhằm gìn giữ những tinh hoa của văn hóa dân tộc theo định hướng phát triển thống nhất trong sự đa dạng, tiên tiến phù hợp với xu thế thời đại.
- Chăm lo công tác từ thiện, an sinh xã hội cho cộng đồng
Là một trong những công tác Phật sự trọng yếu của Giáo hội, công tác từ thiện và sự nghiệp chăm lo an sinh xã hội đã được Giáo hội chỉ đạo Tăng Ni, Phật tử và các chùa, tự viện các thành viên thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời. Hiện nay có trên 1000 lớp học tình thương, 64 cơ sở được cấp phép nuôi dưỡng trẻ mồ côi, lớp bán trú. 20 cơ sở nuôi dưỡng người già cô đơn với hơn 1000 cụ.
Giáo hội hiện có trên 165 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị Y học Dân tộc, 10 phòng khám Đa khoa Tây y đang hoạt động có hiệu quả, khám và phát thuốc miễn phí hàng chục tỷ đồng. 
Hiện có khoảng 10 Trường dạy nghề miễn phí gồm các nghề may, thuê, đan, điện gia dụng, tin học vi tính văn phòng và ngoại ngữ, mộc mỹ nghệ, sửa xe, hớt tóc v.v…
Giáo hội luôn có mặt đúng lúc và kịp thời cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt và tham gia tích cực ủng hộ phong trào xóa đói giảm nghèo, chăm sóc các đối tượng người có công với đất nước. Phát quà từ thiện, xây cầu, làm đường, phát xe lăn, hiến máu nhân đạo, quỹ khuyến học, ủng hộ các chiễn sỹ biển đảo bám biển Hoàng Sa, Trường Sa của tổ quốc…kết quả công tác từ thiện xã hội hàng năm qua đạt số liệu rất cao, ước tính khoảng hơn 1.000 tỷ đồng.
Ngoài những công tác từ thiện nêu trên, những công tác phúc lợi xã hội khác như: xây dựng các trường Mần non, trường nuôi dạy trẻ em, trường nuôi dạy trẻ em bất hạnh, khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc màu da cam cũng được nhân rộng và phát triển đúng hướng, góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho gia đình các em và cho xã hội. Xây cầu bê tông, đắp đường giao thông nông thôn, đóng giếng nước sạch, hiến máu nhân đạo, đóng góp các quỹ từ thiện vì người nghèo, học sinh hiếu học, giúp phụ nữ nghèo vượt khó, tặng xe đạp cho học sinh, xe lăn, xe lắc cho bệnh nhân nghèo, tặng xuồng ghe, hỗ trợ áo quan, hỗ trợ mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân nghèo bị đục thủy tinh thể, bệnh tim nhi, phát quà tết, quà trung thu cho các cháu thiếu nhi, nồi cháo tình thương, bữa ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa v.v… đều được các thành viên Ban Từ thiện xã hội Trung ương, các tỉnh, các cơ sở tự viện, Tăng Ni, Phật tử tích cực tham gia.
- Góp phần phát triển kinh tế xã hội
Song song với các hoạt động về Đạo pháp, các hoạt động lao động sản xuất, góp phần xây dựng đất nước, thực hiện kinh tế tự túc tại các tự viện cũng đã được Ban Trị sự Phật giáo các địa phương quan tâm. Do đó, hầu hết Tăng Ni tại các cơ sở tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường đã tùy theo khả năng của từng chùa, thế mạnh của từng miền, từng vùng để làm kinh tế thích hợp như trồng hoa màu, cây ăn trái các loại, trồng chè, cà phê, hồ tiêu, bạch đàn, làm bánh kẹo, tương chao, phát hành kinh sách, phát triển du lịch v.v... nhằm ổn định cuộc sống bằng sức lao động của chính mình. Việc tu học của Tăng Ni được kết hợp hài hòa với lao động sản xuất, tạo ra những nhu cầu vật chất tối thiểu trong cuộc sống tu hành.
Những danh lam thắng cảnh Phật giáo đã thực sự tạo nên một hệ sinh thái du lịch tâm linh là nguồn phát triển kinh tế xã hội ở một số địa phương, góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế tại địa phương, làm giàu cho cộng đồng và cho địa phương.
- Hoạt động đối ngoại nhân dân, đối ngoại tôn giáo, văn hóa
Ngay từ khi mới thành lập, GHPGVN được thừa hưởng mối bang giao quốc tế của chư vị tiền bối với tư cách là thành viên sáng lập hội Liên hữu Phật giáo Thế giới, thành viên tích cực tham gia vào tổ chức Phật giáo quốc tế như hội Phật giáo Châu Á vì Hòa bình (ABCP), bang giao với các nước Phật giáo Mông Cổ, các nước thuộc Liên Xô cũ, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước Phật bạn Lào, Campuchia anh em. Trong 35 năm qua từ chỗ không chủ động trong các mối quan hệ bang giao Phật giáo quốc tế, GHPGVN đã tích cực thể hiện sự chủ động và khẳng định vai trò của mình trong hội nhập quốc tế. Giáo hội đã trở thành thành viên của các tổ chức Phật giáo lớn trên thế giới: Thành viên sáng lập Liên Minh Phật giáo thế giới (Ấn Độ), Hội Phật giáo Thế giới truyền bá chánh pháp, Hội đệ tử Như Lai tối thượng (Srilanka), Ủy ban Quốc tế Đại lễ Vasak Liên Hợp Quốc (Thái Lan), Ủy ban Đại học và Cao đẳng Phật giáo Thế giới tại Thái Lan, thanh viên Hội Sakyadhita thế giới, cũng như lãnh đạo Hội Phật tử Việt Nam tại Nga, Pháp và Châu Âu.
Thông qua việc tổ chức các đoàn của GHPGVN đi thăm viếng Phật giáo các nước, cũng như đón tiếp các phái đoàn Phật giáo các nước tăng cường tình hữu nghị và làm sâu sắc mối quan hệ quốc tế.
Nhằm trao đổi kiến thức và giao lưu về mặt học thuật trên diễn đàn Phật giáo quốc tế GHPGVN đã cử đoàn tham dự 66 cuộc Hội nghị và hội thảo quốc tế tại các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Trung Quốc, Mỹ, …. Đặc biệt đoàn đại diện GHPGVN đã tham dự 6 lần Đại lễ vesak Liên Hợp Quốc tại Thái Lan và 2 lần Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc tại New York (Hoa Kỳ)
Với quyết tâm và nỗ lực của mình, GHPGVN còn đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc năm 2008 (tại trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội) và năm 2014 (tại Bái Đính, tỉnh Ninh Bình) với sự hiện diện của gần 100 quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới, đạt nhiều thành quả tốt đẹp qua cái nhìn đầy khâm phục của các nước Phật giáo và các tổ chức quốc tế về Việt Nam nói chung, GHPGVN nói riêng. Đây là thành tựu nổi bật nhất trong sứ mệnh hội nhập quốc tế của GHPGVN.
Giáo hội cũng đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Nữ giới Phật giáo Thế giới lần thứ XI tại Nhà truyền thống Văn hóa Phật giáo TP HCM. Thành tựu Phật giáo Quốc tế còn đánh dấu qua việc nhận lời mời của GHPGVN thủ tướng Srilanka đã thăm và tham dự Vasak tại Bái Đính Ninh Bình, năm 2014. Nhận lời mời của GHPGVN, Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narenda Modi đã thăm trụ sở Trung ương GHPGVN tháng 9/2016 và trong tuyên bố chung của Thủ tướng 2 nước đã có điều khoản Ấn Độ cấp học bổng cho Tăng Ni giáo hội Phật giáo Việt Nam học tập và nghiên cứu tại Ấn Độ qua đó khẳng định vai trò của GHPGVN trong hoạt động đối ngoại nhân dân. Chư tôn đức Lãnh đạo GHPGVN đã tham gia đoàn của Chủ tịch nước thăm hữu nghị chính thức Campuchia năm 2014, tham gia đoàn của Tổng Bí Thư thăm chính thức Hợp Chủng quốc Hòa Kỳ năm 2015. 
Cuối cùng, cũng là mục tiêu xuyên suốt trong hoạt động của GHPGVN: Đạo Pháp - Dân Tộc – CNXH. Gắn đạo với đời, phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước hướng tới xây dựng cuộc sống giàu đẹp, văn minh, hiện đại. 



                                                        Thượng tọa-TS Thích Đức Thiện 
                                                        Phó chủ tịch – Tổng Thư ký GHPGVN




Tài liệu tham khảo:
1. Hội thảo 35 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2016.
2. Văn kiện Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, 2017. 




Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết