Chủ Nhật, ngày 27 tháng 09 năm 2020

Một số kiến nghị của Đề tài "Nội dung phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới"

Ngày phát hành: 17/06/2020 Lượt xem 402

Đề tài  "Nội dung phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới", Mã số KX.04.03/16-20, do PGS, TS. Trương Ngọc Nam làm Chủ nhiệm đã bảo vệ thành công xuất sắc. Dưới đây là một số kiến nghị của Đề tài:

 

1. Phát triển tư duy cầm quyền trên cơ sở những nhận thức mới, kinh nghiệm mới, nhất là nhận thức mới về Đảng cầm quyền và những nhiệm vụ cơ bản về xây dựng Đảng trong hệ thống lý luận về xây dựng Đảng

- Bổ sung, phát triển lý luận về đảng cầm quyền trong hệ thống lý luận về Đảng Cộng sản và Chủ nghĩa xã hội.

- Bổ sung một số nhiệm vụ cơ bản của công tác xây dựng Đảng.

- Vấn đề cơ bản, mấu chốt trong lý luận về Đảng cầm quyền là Đảng phải nắm giữ quyền lực nhà nước, nguồn lực kinh tế-xã hội và quyền lực tư tưởng

Thứ nhất, Đảng cầm quyền nhất thiết phải nắm vững quyền lực nhà nước. Đảng phải hóa thân vào Nhà nước, lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Nhà nước để hiện thực hóa mục tiêu chính trị của Đảng. Nắm giữ quyền lực nhà nước thông qua thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, dựa trên hiến pháp và pháp luật để thực hiện vai trò cầm quyền; Đảng nắm giữ quyền lực nhà nước bằng việc bố trí đội ngũ cán bộ nắm giữ các vị trí chủ chốt trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ hai, Đảng nắm giữ quyền lực tư tưởng, tức là nắm quyền xác lập, phát triển, củng cố, đấu tranh bảo vệ vững chắc và truyền bá sâu rộng hệ tư tưởng của Đảng, làm cho nó trở thành yếu tố chủ đạo, chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội, định hướng, thúc đẩy sự phát triển xã hội theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Nắm quyền lực về tư tưởng trong điều kiện hiện nay Đảng nhất thiết phải nắm lấy quyền lãnh đạo và quản lý báo chí, truyền thông, coi đó là vũ khí, công cụ tư tưởng sắc bén xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước vững mạnh.

Thứ ba, nắm giữ nguồn lực kinh tế-xã hội, Đảng phải thông qua Nhà nước nắm giữ, quản lý, phân bổ nguồn tài nguyên, tài chính, tài sản xã hội để thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vì lợi ích của Nhân dân và toàn dân tộc. Đồng thời, việc nắm giữ nguồn lực kinh tế-xã hội đòi hỏi Đảng phải tăng cường sự lãnh đạo, định hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo mục tiêu XHCN và khẳng định, chứng minh trên thực tế vai trò chủ đạo, động lực của kinh tế nhà nước. Tăng cường vai trò, vị thế cầm quyền của Đảng trong các doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Khắc phục tình trạng tổ chức Đảng buông lỏng lãnh đạo, “lép vế” trước chuyên môn trong các doanh nghiệp.

- Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN phải tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với lĩnh vực kinh tế. Hiện nay, quyền lực, sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực kinh tế còn nhiều yếu kém, bất cập. Đặc biệt nguy hiểm là các nhóm lợi ích tiêu cực, một kiểu “tư bản thân hữu”, trong đó các doanh nghiệp, doanh nhân trục lợi bất chính cấu kết với quan chức, công chức nắm quyền lực, nguồn lực tạo thành thế lực “đen” thao túng chính sách để tham nhũng, tiêu cực, gây thiệt hại lớn cho xã hội, làm hư hỏng, tha hóa đội ngũ cán bộ, tạo ra sự phân hóa ngay trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội; hình thành xu hướng chính trị cơ hội, xa rời lý tưởng CNXH, tự diễn biến, tự chuyển hóa, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường, củng cố niềm tin và quyết tâm đấu tranh quyết liệt chống tham nhũng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người nắm quyền lực, nguồn lực trong chính quyền nhà nước.

2. Tiếp tục đẩy mạnh việc kiện toàn, cơ cấu lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phân định rõ chức năng lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và quản lý của Nhà nước theo pháp luật; khắc phục sự chồng chéo, bỏ trống chức năng nhiệm vụ của các tổ chức, các cơ quan lãnh đạo, quản lý trong hệ thống của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội

Một là, hệ thống tổ chức của Đảng vẫn tuân thủ nguyên tắc tổ chức theo hệ thống tổ chức hành chính nhà nước 4 cấp, cấp ủy cùng cấp lãnh đạo trực tiếp các cơ quan nhà nước cùng cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo của cấp ủy cấp trên theo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Theo đó, BCHTW là cơ quan lãnh đạo toàn Đảng, đồng thời thực hiện vai trò cầm quyền đối với các cơ quan nhà nước ở Trung ương, bao gồm Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao. Các cấp ủy địa phương và cơ sở thực hiện sự lãnh đạo và cầm quyền đối với các cơ quan chính quyền nhà nước cấp tỉnh, huyện, xã...

Hai là, phân định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể cầm quyền, lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước. Thống nhất trong mỗi cơ quan, tổ chức nhà nước ở Trung ương và các địa phương chỉ có một cơ quan lãnh đạo cao nhất, chịu trách nhiệm lãnh đạo các tổ chức đảng và các cấp ủy trực thuộc. Thống nhất sự tập trung lãnh đạo của Đảng đoàn trong Quốc hội, Ban cán sự đảng trong Chính phủ, trong Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao cũng như các cơ quan Trung ương khác, xóa bỏ mô hình “song trùng quyền lực”, “song trùng lãnh đạo” trực thuộc hai cơ quan, như các cơ quan đảng trong Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao vừa trực thuộc BCHTW vừa trực thuộc Đảng ủy Khối Cơ quan Trung ương.

3. Nhất thể hóa một số tổ chức có chức năng, nhiệm vụ tương đồng trong bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội, tiếp tục đẩy mạnh kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tính gọn, tuyệt đối đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong các cơ quan nhà nước

- Kiên định phương thức cầm quyền của Đảng thông qua các tổ chức đảng trong bộ máy nhà nước, nhưng cần đổi mới mạnh mẽ và kịp thời khắc phục sự trùng lặp, chồng chéo của các tổ chức đảng và các cơ quan lãnh đạo trong các cơ quan quyền lực nhà nước, chấp hành quyền lực nhà nước ở Trung ương và các địa phương. Đồng thời đổi mới mạnh mẽ phương thức thức hoạt động vừa đảm bảo vai trò lãnh đạo chính trị toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với Nhà nước, vừa đảm bảo sự hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước. Đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng, không để các tổ chức đảng lấn sân, làm thay chức năng, cản trở hoạt động của các cơ quan nhà nước, mặt khác không được buông lỏng sự lãnh đạo chính trị, để các cơ quan nhà nước thoát lý sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng, coi thương kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Hiện nay, ở một số địa phương việc thí điểm sáp nhập các cơ quan Đảng với cơ quan Nhà nước có cùng chức năng chung nhưng khác nhau về nội dung, phương thức, tính chất hoạt động đã bộc lộ những điểm không phù hợp. Việc thí điểm này bước đầu có giảm đầu mối, giảm biên chế, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung hơn, kịp thời hơn, nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, ẩn chứa những vấn đề phức tạp. Cho nên, cần phải nghiên cứu, triển khai thí điểm thận trọng. Trước hết, cần nhất thể hóa chức danh để thiết lập tổ chức lãnh đạo và quản lý tập trung thống nhất các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến các địa phương.

4. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong đánh giá, lựa chọn bổ nhiệm cán bộ gắn với đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ, đảng viên 

- Tiếp tục cụ thể hóa các nghị quyết Trung ương 6, 7, 8 khóa XII, phân loại đội ngũ cán bộ theo tiêu chí khoa học để thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm. Theo đó trong các cơ quan đảng, nhà nước sẽ có ba loại cán bộ: (1) cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược (cấp thứ trưởng và tương đương trở lên); (2) cán bộ quản lý, điều hành (cấp cục, vụ, tương đương); (3) các chuyên gia tư vấn chính sách và đội ngũ công chức, viên chức. Để khắc phục tình trạng hẫng hụt trong công tác cán bộ và thực sự có được những cán bộ kế cận tốt cần đổi mới căn bản công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng. Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực quản lý chuyên nghiệp, năng lực thực thi pháp luật cần hết sức coi trọng giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống để họ thực sự trung thành với Đảng, với chế độ, toàn tâm, toàn ý phục vụ Nhân dân.

- Đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước. Cần chấn chỉnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội. Phải chuẩn hóa các chương trình, phương thức đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập, liên thông, khắc phục sự chồng chéo, máy móc giữa các chương trình, giữa đào tạo cán bộ Đảng và Nhà nước, dù đào tạo trong trường Đảng hay trường đào tạo quản lý nhà nước cũng cần thống nhất Đảng lãnh đạo, quản lý toàn diện công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị. Đưa chế độ học tập, cập nhật kiến thức thường xuyên với mọi loại hình cán bộ các cấp, các ngành. Kiên quyết chống chủ nghĩa hình thức, chạy theo bằng cấp bằng những qui định chặt chẽ trong công tác đào tạo, cấp và sử dụng văn bằng trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ. 

- Đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá cán bộ theo hướng khách quan, khoa học, minh bạch, hiện đại. Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia đánh giá cán bộ sát với từng vị trí công tác, với cơ chế đánh giá khoa học, khách quan, nhất là áp dụng công nghệ thông tin để đảm bảo đánh giá chính xác, khách quan, minh bạch. Cần ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý cán bộ, nhất là khâu đánh giá cán bộ để đảm bảo tính khách quan, minh bạch, chống tiêu cực. Hình thức đánh giá cần phong phú, sử dụng phù hợp từng loại hình cán bộ. Tăng cường và nâng cao chất lượng chế độ kiểm điểm, chất vấn để đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý trong Đảng, nhất là những cán bộ được cử giữ các chức vụ quản lý nhà nước và những vị trí trọng yếu, nhạy cảm trong hệ thống chính trị. Cần xây dựng cơ chế lấy ý kiến rộng rãi về sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, phải coi đây là kênh đánh giá bổ sung, đo lường uy tín của cán bộ trong Nhân dân. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đánh giá cán bộ, một mặt cần mở rộng dân chủ, tăng cường dân chủ trực tiếp, mặt khác, cần hạn chế dân chủ hình thức, tâm lý đám đông, hoặc lợi dụng dân chủ để cản trở, gạt bỏ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, thẳng thắn, không ngại va chạm… ra khỏi guồng máy lãnh đạo, quản lý. Thực hiện dân chủ rộng rãi trong đánh giá cán bộ nói riêng và công tác cán bộ nói chung phải đi đôi với tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, tập thể lãnh đạo và cấp trên. Đồng thời, đồng thời phải qui trách nhiệm đến cùng đối với tổ chức và cá nhân đánh giá, giới thiệu, tiến cử cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ.

- Phát huy dân chủ trong công tác bổ nhiệm, đưa cán bộ ưu tú vào các vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước.

5. Đổi mới mạnh mẽ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, hoàn thiện hệ thống cơ chế, thiết chế kiểm soát quyền lực trong toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo vai trò cầm quyền của Đảng

Đảng, Nhà nước cần đổi mới mạnh mẽ có tính đột phá trong tổ chức và hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực của cả hệ thống chính trị. Về tổ chức, một mặt cần củng cố và hoàn thiện hệ thống kiểm tra, giám sát trong Đảng và trong các tổ chức chính trị-xã hội, hệ thống thanh tra, giám sát trong bộ máy nhà nước, nhằm đảm bảo mỗi thành viên của hệ thống chính trị luôn trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, cần thiết lập một cơ chế cho một cơ quan giám sát chung, có chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền kiểm tra, giám sát, xử lý các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, kỷ cương của cả hệ thống chính trị.

Đối với hệ thống tổ chức của Đảng, cần tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của BCHTW, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng vi phạm Điều lệ và các qui định của Đảng. Cần đưa những người trung thực, liêm chính, bản lĩnh, trung thành tuyệt đối với Đảng và chế độ, có ý thức vì dân, vì nước, có phẩm chất và năng lực chuyên môn tốt, đồng thời thanh lọc và không để các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất, cán bộ “chạy việc” lọt vào các cơ quan kiểm tra, thanh tra của Đảng, Nhà nước.

Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp, hoạt động thanh tra của Chính phủ và UBND các địa phương, hoạt động giám sát của hệ thống Tòa án và Viện Kiểm sát các cấp.

Vì vậy, cần thiết kế lại hệ thống kiểm soát quyền lực đồng bộ, hiệu quả để khắc phục cơ bản những hạn chế bất cập mang tính hệ thống. Kiến nghị Đại hội XIII sắp tới phải quyết định những vấn đề về cơ cấu tổ chức sau đây:

- Thực hiện mô hình Uỷ ban Kiểm tra - Kỷ luật của Đảng do đại hội của các cấp bầu ra, hoạt động song hành, đồng thời thực hiện giám sát cả BCHTW, các cấp ủy đảng, kể cả người đứng đầu các cơ quan lãnh đạo của Đảng.

 - Thành lập Ủy ban Giám sát Quốc gia trên cơ sở thống nhất hành động của các cơ quan chuyên trách kiểm tra, giám sát trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, trong đó nòng cốt là Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban Phòng - Chống tham nhũng, các cơ quan tư pháp, công an…, ngoài ra có đại biểu tiêu biểu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ủy ban Giám sát quốc gia do Quốc hội bầu, kể cả các chức danh chủ tịch và phó chủ tịch, các ủy viên. Chủ tịch Ủy ban Giám sát quốc gia nhất thể hóa chức danh của Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ủy ban Giám sát quốc gia có quyền hạn là cơ quan giám sát tối cao đối với các cơ quan nhà nước, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thực thi pháp luật, đồng thời xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên của Đảng trong các cơ quan nhà nước. Ủy ban Giám sát làm việc trên nguyên tắc độc lập, khách quan, minh bạch kết quả xử lý, không nương nhẹ, không có vùng cấm. Ủy ban xử lý đồng thời cả kỷ luật Đảng, cả vi phạm pháp luật của Nhà nước, thực hiện một số quyền khởi tố, điều tra, xét hỏi, cung cấp tài liệu để xử lý theo pháp luật. 

- Tăng cường chức năng giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội, HĐND các cấp là cơ quan đại diện quyền lực cao nhất, là diễn đàn dân chủ, nơi tập trung quyền làm chủ của Nhân dân; cơ quan ban hành pháp luật, các quyết định pháp lý; bầu, bãi miễn và giám sát hoạt động của các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt của chính quyền nhà nước.

- Tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội đối với Nhà nước và đối với cán bộ, đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước

 Tổ chức hệ thống chính trị một đảng duy nhất cầm quyền, không có đảng đối lập canh tranh, kiểm soát lẫn nhau, không có chế độ xã hội dân sự như các nước phương Tây, nên cần hết sức coi trọng hoạt động giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, nghề nghiệp, của các cơ quan truyền thông đại chúng, trong đó nòng cốt là các cơ quan báo chí. Đặc biệt cần phát huy vai trò của báo chí vì báo chí cách mạng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn của Nhân dân, có tác dụng hết sức tích cực trong giám sát, phản biện xã hội, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

6. Thể chế hóa hoạt động cầm quyền của Đảng theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo- Nhà nước quản lý- Nhân dân làm chủ theo pháp luật

Cần xây dựng, hoàn thiện chế độ, thể chế cầm quyền trên cả hai mặt là chế độ tổ chứcchế độ hoạt động lãnh đạo, cầm quyền. Chế độ hóa, thể chế hóa tổ chức và hoạt động của Đảng trên cơ sở quán triệt, vận dụng các nguyên tắc và qui luật hoạt động của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hệ thống chế độ phải cơ bản, toàn diện, ổn định lâu dài, lấy chế độ tập trung dân chủ làm trọng tâm.

 Về chế độ tổ chức của Đảng, cần bổ sung vào Điều lệ Đảng, đồng thời thể chế hóa thành các qui định của pháp luật sau khi thực hiện chủ trương ổn định việc nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo, quản lý, cũng như hợp nhất những cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có chức năng, nhiệm vụ tương đồng. Chủ trương nhất thể hóa chức danh và chức năng các tổ chức của Đảng, Nhà nước là vấn đề mang tính nguyên tắc, cơ bản, ổn định lâu dài, phù hợp với qui luật khách quan của lịch sử thì phải được qui định trong văn bản hành chính, pháp lý cao nhất là Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Việc nhất thể hóa chức danh Tổng bí thư và Chủ tịch Nước là tăng cường vai trò duy nhất cầm quyền của Đảng, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và thực tiễn cầm quyền của các chính đảng hiện nay trên thế giới. Trong điều kiện lịch sử nhất định cần phải cơ cấu bốn chức danh chủ chốt lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, nhưng trong điều kiện hiện nay để đảm bảo sự tập trung, cần thống nhất hai chức danh lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Trong tình huống đặc biệt có thể tạm thời bố trí hai chức danh riêng biệt, nhưng hướng tới ổn định lâu dài nhất thể hóa hai chức danh này.   

Chế độ hóa, thể chế hóa về tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền bằng các qui định, qui chế, cơ chế cụ thể trên cơ sở quán triệt, vận dụng nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, phù hợp với pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt nhất là phải chế độ hóa, thể chế hóa sự lãnh đạo và quản lý toàn diện công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng-kỷ luật trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội.

Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý theo pháp luật, Nhân dân làm chủ, xác định rõ vai trò cầm quyền của Đảng. Bổ sung phát triển nguyên tắc:  Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ thêm cụm từ “theo pháp luật” thành Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý-Nhân dân làm chủ theo pháp luật.

 

PV (nguồn: Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.04.03/16-20 )

 

 

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết