Từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 9 nghị quyết có ý nghĩa chiến lược trên hầu hết các lĩnh vực then chốt của đất nước. Đây là những định hướng lớn, đồng bộ, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng; là nền tảng đưa đất nước vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

1. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (được ban hành ngày 22/12/2024)
Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm: Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Quyết liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ rào cản đang cản trở sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp; Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
2. Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (được ban hành ngày 24/1/2025)
Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát là nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ và toàn diện của quá trình hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và phát triển nhanh, bền vững…
Mục tiêu cụ thể là: Hội nhập kinh tế quốc tế; Hội nhập quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh; Hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục-đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác; Nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị hội nhập quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy và hành động trong hội nhập; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số; đẩy mạnh hội nhập về chính trị, quốc phòng, an ninh theo hướng sâu rộng và hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; thúc đẩy hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục, đào tạo và y tế; nâng cao năng lực thực thi cam kết quốc tế, gắn với hoàn thiện thể chế, pháp luật trong nước; đồng thời nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều phối công tác hội nhập, phát huy vai trò chủ động của các địa phương.
3. Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (được ban hành ngày 30/4/2025)
Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi. Cụ thể là, năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật; năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước; năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước… đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.
Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp chiến lược: Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật; Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển; Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; Nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế; Xây dựng giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật; Tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Thực hiện cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
4. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân (được ban hành ngày 4/5/2025)
Nghị quyết khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân, đóng góp 55-58% GDP, giải quyết 84%-85% việc làm xã hội.
Tầm nhìn đến 2045 là xây dựng khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, cạnh tranh toàn cầu và thực sự trở thành trụ cột của nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Nghị quyết đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp: Đổi mới tư duy trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân. Cải cách mạnh mẽ thể chế, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, loại bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng. Đặc biệt, Nghị quyết 68 nhấn mạnh hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận hiệu quả các nguồn lực thiết yếu: đất đai, tín dụng, nhân lực chất lượng cao. Thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh bền vững trong kinh tế tư nhân. Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Nghị quyết còn đưa ra cơ chế cụ thể hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp; cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán, tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ…
5. Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (được ban hành ngày 20/8/2025)
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; công suất nguồn điện đạt 183-236 GW với sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh; tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 25-30% tổng cung; độ tin cậy cung cấp điện đạt tiêu chí hàng đầu ASEAN; tỷ lệ tiết kiệm năng lượng từ 8-10% và giảm phát thải khí nhà kính từ 15-35% so với kịch bản thông thường.
Tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng Việt Nam phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, có thị trường cạnh tranh minh bạch, hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế, chất lượng nhân lực và trình độ công nghệ ngang bằng các nước công nghiệp phát triển.
Các giải pháp được Nghị quyết xác định gồm: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của toàn xã hội; hoàn thiện thể chế, chính sách để tạo lợi thế cạnh tranh; phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng vững chắc; đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và thực hiện các cam kết quốc tế; huy động mọi nguồn lực xã hội, đặc biệt khuyến khích khu vực tư nhân; đột phá trong nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành năng lượng.
6. Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ngày (được ban hành ngày 22/8/2025)
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành bậc trung học phổ thông, không có tỉnh, thành phố nào dưới 60%; tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%; tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%… Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Đến năm 2035, hoàn thành phổ cập trung học phổ thông, nâng chỉ số giáo dục đóng góp vào HDI lên trên 0,85, có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 100 trường hàng đầu thế giới. Tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, nằm trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới...
Để đạt được các mục tiêu này, Nghị quyết nêu các giải pháp trọng tâm: đổi mới tư duy, hành động và nâng cao quyết tâm chính trị; đổi mới thể chế, tạo cơ chế chính sách đặc thù; chú trọng giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ; thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục; xây dựng đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn; cải cách giáo dục nghề nghiệp để phát triển nhân lực có kỹ năng cao; hiện đại hóa giáo dục đại học, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; đồng thời đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.
7. Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (được ban hành ngày 9/9/2025)
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1-18 tuổi thêm tối thiểu 1,5cm; tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Tỷ lệ tiêm chủng các vắc-xin trong Chương trình tiêm chủng thiết yếu đạt trên 95%.
Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình. Đến năm 2026, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số, đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới môi trường sống chất lượng, hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi, số năm sống khỏe mạnh trên 71 năm, tầm vóc, thể lực ngang bằng các nước phát triển.
Các giải pháp trọng tâm gồm: đổi mới tư duy trong lãnh đạo, tổ chức công tác y tế; hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng và cơ sở; nâng cao y đức, phát triển nhân lực y tế đồng bộ; cải cách tài chính y tế và phát triển chính sách bảo hiểm bền vững; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong chăm sóc sức khỏe; phát triển y tế tư nhân, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội cho lĩnh vực y tế.
8. Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước (được ban hành ngày 6/1/2026)
Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết là: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, phấn đấu tỷ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026-2030 khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; tỷ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách; mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030.
Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị…
Phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đề ra 6 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể với từng đối tượng, bao gồm: Đối với đất đai và tài nguyên; Đối với tài sản kết cấu hạ tầng; Đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; Đối với doanh nghiệp nhà nước; Đối với các tổ chức tín dụng nhà nước; Đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
9. Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam (được ban hành ngày 7/1/2026)
Nghị quyết xác định: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Mục tiêu đến năm 2030, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang... Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1-3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh…
Đến năm 2045, công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh. Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.
Để đạt được các mục tiêu trên, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới; Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa; Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa; Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp tài nguyên văn hóa; Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hoá thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa; Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới; Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia./.
Theo TTXVN