TCCS - Chiều sâu văn hóa và năng lực đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên nguồn “tài nguyên mềm” như trí tuệ, cảm xúc, bản sắc văn hóa và công nghệ đang tạo ra giá trị kinh tế lớn, chính là một trong những yếu tố quan trọng để Việt Nam vừa tăng tốc, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa giữ được bản sắc dân tộc trong dòng chảy hội nhập quốc tế.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước trao Huân chương Lao động hạng Nhất tặng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngày 23-8-2025_Ảnh: cucnghethuatbieudien.gov.vn
1- Sau Đại hội XIV của Đảng, khát vọng về một Việt Nam tăng trưởng nhanh, bền vững và có vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu đang được cụ thể hóa bằng những quyết sách lớn, trong đó văn hóa được đặt đúng vị trí là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh cho phát triển. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam” tiếp tục khẳng định tinh thần “chấn hưng văn hóa” không chỉ bằng việc vun đắp căn tính, đạo lý, lối sống, mà còn đưa ra những giải pháp để chuyển các giá trị của văn hóa thành năng lực sáng tạo, sức cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia. Cùng với đó, những nghị quyết chiến lược khác, như Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới”; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân” - đang mở ra một “hệ tọa độ” phát triển mới, nơi văn hóa không đứng “bên lề” mà có thể trở thành một động lực tăng trưởng mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững. Trong đó, các ngành công nghiệp văn hóa đã chuyển từ “tài nguyên mềm” thành “giá trị cứng”; câu chuyện, ký ức, bản sắc, thẩm mỹ, tri thức địa phương và cảm hứng sáng tạo thành hàng hóa, dịch vụ thông qua cách thức tổ chức lại sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ dựa trên sự sáng tạo, từ điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, quảng cáo, truyền thông số, trò chơi điện tử, thời trang, thủ công mỹ nghệ, cho tới du lịch văn hóa và các mô hình kinh tế trải nghiệm; tạo ra nhiều việc làm, doanh thu, đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng.
Với công nghiệp văn hóa, công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là hạ tầng để sáng tạo “nhân bản” theo cấp số nhân, giúp sản phẩm văn hóa có thể vượt khỏi biên giới địa lý, nhanh chóng chạm tới thị trường toàn cầu. Trong khi đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW giúp doanh nghiệp tư nhân khơi thông động lực, linh hoạt, nhạy bén, dám thử nghiệm, là “đầu kéo” để công nghiệp văn hóa thoát khỏi quy mô manh mún, phong trào, chuyển sang quy mô ngành công nghiệp, có thương hiệu, có chuỗi cung ứng, có tiêu chuẩn chất lượng và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Nghị quyết số 59 NQ/TW nhấn thêm một tầng ý nghĩa: trong bối cảnh hội nhập sâu, văn hóa vừa là “ngôn ngữ” để Việt Nam bước ra thế giới, vừa là “kênh” để thu hút nguồn lực, công nghệ, tri thức, thị trường thông qua hợp tác sản xuất nội dung, liên kết phân phối, trao đổi nhân lực sáng tạo và kết nối với mạng lưới sáng tạo toàn cầu. Bởi vậy, công nghiệp văn hóa có thể góp phần mở “cánh cửa” tăng trưởng hai con số và đây là một hướng đi phù hợp với lô-gíc phát triển của thời đại.
Chương trình khai mạc Festival “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” diễn ra tại Hoàng thành Thăng Long_Ảnh:
2- Trong bối cảnh dư địa của mô hình phát triển thâm dụng tài nguyên và lao động giá rẻ ngày càng thu hẹp, động lực tăng trưởng phải chuyển mạnh sang những lĩnh vực dựa trên tri thức, sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Ở điểm này, công nghiệp văn hóa nổi lên như một cấu phần điển hình của nền kinh tế tri thức, nơi tài sản cốt lõi không nằm ở máy móc hay khoáng sản, mà ở ý tưởng, thiết kế, câu chuyện, hình ảnh, biểu tượng và năng lực sáng tạo của con người. Công nghiệp văn hóa trở thành lĩnh vực có khả năng “nhân bản giá trị” với tốc độ rất cao, đặc biệt trong môi trường số hóa, nơi một sản phẩm có thể tiếp cận hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu người dùng mà không bị giới hạn bởi biên giới địa lý.
Chính đặc trưng này tạo nên nền tảng kinh tế quan trọng để công nghiệp văn hóa góp phần vào mục tiêu tăng trưởng nhanh. Tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô sản xuất vật chất. Ngược lại, tăng trưởng dựa trên công nghiệp văn hóa là tăng trưởng theo chiều sâu của giá trị: mỗi đơn vị sản phẩm chứa hàm lượng sáng tạo cao hơn, mỗi ý tưởng thành công có thể mở ra cả một hệ sinh thái dịch vụ với các ngành, nghề liên quan. Một tác phẩm điện ảnh có thể kích hoạt du lịch địa điểm quay, quảng bá ẩm thực, thời trang, thủ công mỹ nghệ; một sản phẩm thiết kế có thể nâng tầm toàn bộ chuỗi sản xuất; một thương hiệu văn hóa mạnh có thể làm gia tăng giá trị cho hàng loạt sản phẩm “Made in Vietnam”.
Trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW, công nghiệp văn hóa chính là một không gian điển hình để công nghệ và sáng tạo hòa quyện. Công nghệ số không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà trở thành hạ tầng sống còn của công nghiệp văn hóa: từ sản xuất nội dung, kỹ xảo, âm thanh, hình ảnh, cho đến phân phối qua các nền tảng trực tuyến, phân tích dữ liệu người dùng, cá nhân hóa trải nghiệm. Nhờ công nghệ, ranh giới giữa sản xuất và tiêu dùng văn hóa ngày càng “mờ” đi, tạo ra các mô hình kinh doanh mới dựa trên tương tác, cộng đồng và kinh tế nền tảng. Điều này giúp công nghiệp văn hóa có tốc độ đổi mới cao, phù hợp với yêu cầu tăng trưởng nhanh trong kỷ nguyên số.
Mặt khác, theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, công nghiệp văn hóa cũng là lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể phát huy tối đa vai trò tiên phong. Các doanh nghiệp sáng tạo, khởi nghiệp nội dung số, hãng phim, công ty thiết kế, nền tảng công nghệ văn hóa,… thường phát triển từ ý tưởng mới, mô hình kinh doanh linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh với thị trường. Khi được đặt trong một môi trường thể chế thuận lợi, bảo hộ bản quyền hiệu quả, tiếp cận vốn thuận lợi, chính sách thuế và đầu tư phù hợp, khu vực tư nhân kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa có thể trở thành lực lượng dẫn dắt, hình thành các chuỗi giá trị mới, tạo việc làm chất lượng cao cho giới trẻ, đồng thời đóng góp ngày càng lớn vào GDP.
Ở bình diện rộng hơn, theo tinh thần hội nhập của Nghị quyết số 59-NQ/TW, công nghiệp văn hóa còn là lĩnh vực có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu mà không đòi hỏi đầu tư nhiều về hạ tầng vật chất. Hợp tác sản xuất phim, trao đổi nội dung số, xuất khẩu thiết kế, biểu diễn nghệ thuật, trò chơi trực tuyến,… đều là những con đường để sản phẩm sáng tạo của Việt Nam bước ra thị trường thế giới. Trong quá trình đó, giá trị kinh tế đi cùng với giá trị hình ảnh quốc gia, tạo nên một vòng tròn tích cực: văn hóa mở đường cho thị trường, thị trường nuôi dưỡng sáng tạo và sáng tạo tiếp tục làm giàu cho văn hóa. Như thế, công nghiệp văn hóa có cơ sở kinh tế - tri thức rõ ràng trong mô hình tăng trưởng mới. Đây là lĩnh vực đồng thời hội tụ nhiều yêu cầu mà Đại hội XIV và các nghị quyết lớn của Đảng đặt ra: dựa vào sáng tạo, gắn với khoa học và công nghệ, phát huy khu vực tư nhân, mở rộng không gian hội nhập và quan trọng hơn, tạo ra tăng trưởng gắn với bản sắc và giá trị con người. Chính trên nền tảng đó, công nghiệp văn hóa có thể được nhìn nhận như một trong những “động cơ mới” của nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Thực tiễn cho thấy, các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng thể hiện vai trò như một không gian tăng trưởng năng động, có khả năng tạo doanh thu lớn, việc làm mới và hiệu ứng lan tỏa xã hội sâu rộng. Những chuyển động trong âm nhạc, điện ảnh và các sự kiện nghệ thuật quy mô lớn cho thấy công nghiệp văn hóa ở Việt Nam không còn là tiềm năng, mà đã bước đầu hình thành những “điểm bùng phát” về thị trường và ảnh hưởng.
Sự phát triển của thị trường âm nhạc Việt Nam trong vài năm gần đây là minh chứng rõ ràng cho lô-gíc của công nghiệp văn hóa. Nhiều nghệ sĩ trẻ không chỉ dừng lại ở hoạt động biểu diễn, mà vận hành theo mô hình công nghiệp: sản xuất nội dung bài bản, xây dựng thương hiệu cá nhân, khai thác nền tảng số, tổ chức concert quy mô lớn, kết hợp quảng cáo và các sản phẩm đi kèm. Một sản phẩm âm nhạc thành công có thể tạo ra chuỗi giá trị kéo dài: từ lượt xem trên nền tảng số, hợp đồng quảng cáo, biểu diễn trực tiếp, đến thời trang, hình ảnh đại diện thương hiệu. Ở đây, giá trị không chỉ nằm ở bài hát, mà ở toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo xoay quanh nghệ sĩ.
Điều đáng chú ý là công nghệ số đã giúp âm nhạc Việt Nam tiếp cận thị trường toàn cầu nhanh hơn bao giờ hết. Các nền tảng streaming, phương tiện truyền thông xã hội, video trực tuyến cho phép sản phẩm âm nhạc vượt ra ngoài biên giới quốc gia mà không cần hạ tầng phân phối truyền thống.
Điện ảnh là một lĩnh vực cũng thể hiện rõ đặc trưng của công nghiệp văn hóa. Thành công phòng vé của những bộ phim Việt Nam gần đây cho thấy thị trường nội địa bắt đầu đủ lớn để nuôi dưỡng các dự án điện ảnh quy mô, đầu tư bài bản về kịch bản, diễn xuất, kỹ thuật và truyền thông. Một bộ phim thành công không chỉ tạo doanh thu vé, mà còn kéo theo quảng cáo, phát hành quốc tế, bản quyền truyền hình, nền tảng số và còn thúc đẩy du lịch phát triển tại các bối cảnh quay phim.
Có thể thấy rõ mối liên hệ giữa công nghiệp văn hóa và các ngành kinh tế khác. Một tác phẩm điện ảnh giàu bản sắc có thể quảng bá hình ảnh địa phương, văn hóa ẩm thực, lối sống, cảnh quan thiên nhiên. Khi khán giả tìm đến địa điểm quay phim, tiêu dùng dịch vụ lưu trú, ẩm thực, mua sắm, giá trị kinh tế sẽ lan tỏa ra ngoài phạm vi ngành điện ảnh. Đây chính là biểu hiện cụ thể của việc biến “tài nguyên văn hóa” thành “nguồn lực phát triển”, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Bên cạnh âm nhạc và điện ảnh, các sự kiện nghệ thuật, lễ hội sáng tạo và liên hoan quốc tế đang dần trở thành một phần của kinh tế trải nghiệm tại các đô thị lớn. Những chương trình như Lễ hội âm nhạc quốc tế Gió mùa (Monsoon Music Festival) hay Liên hoan phim quốc tế Hà Nội không chỉ là hoạt động văn hóa đơn lẻ, mà còn thu hút khách du lịch, giới chuyên môn, nhà đầu tư sáng tạo và truyền thông quốc tế. Mỗi sự kiện như vậy tạo ra nhu cầu lớn về dịch vụ lưu trú, vận chuyển, ẩm thực, quảng bá, thiết kế, kỹ thuật sân khấu, qua đó đóng góp trực tiếp vào kinh tế địa phương cũng như góp phần định vị hình ảnh các thành phố sáng tạo, thành phố lễ hội, nâng cao “thương hiệu văn hóa” của địa phương trên bản đồ khu vực và quốc tế. Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về hợp tác quốc tế, khi đó văn hóa trở thành một kênh “đối ngoại mềm”, giúp mở rộng mạng lưới hợp tác, thu hút nguồn lực và thị trường cho các ngành sáng tạo trong nước.
Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đang từng bước hình thành những mắt xích quan trọng của hệ sinh thái kinh tế mới: nghệ sĩ - doanh nghiệp sáng tạo - nền tảng công nghệ - thị trường trong nước - thị trường quốc tế. Dù còn hạn chế về quy mô, thể chế và năng lực cạnh tranh, nhưng các biểu hiện thực tiễn này cho thấy một xu hướng rõ ràng: khi tổ chức theo tư duy công nghiệp, các hoạt động văn hóa hoàn toàn có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn, lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác và đóng góp ngày càng đáng kể vào tăng trưởng. Đây chính là nền tảng để khẳng định rằng công nghiệp văn hóa không chỉ là “lĩnh vực tiềm năng”, mà dần trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
3- Nếu coi công nghiệp văn hóa là một động lực tăng trưởng mới về kinh tế, thì ở tầng sâu hơn, lĩnh vực này còn giữ vai trò kiến tạo "sức mạnh mềm" và nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế số, sự cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra ở năng suất lao động hay quy mô thị trường, mà còn ở khả năng tạo dựng hình ảnh, truyền cảm hứng, thu hút nhân tài, nhà đầu tư và du khách. Ở đó, văn hóa được tổ chức theo lô-gíc công nghiệp sẽ trở thành hạ tầng vô hình nhưng có sức ảnh hưởng lâu dài đến vị thế quốc gia.
Bản sắc văn hóa, nếu chỉ tồn tại trong phạm vi sinh hoạt cộng đồng, chủ yếu mang ý nghĩa tinh thần. Nhưng khi được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm và hình ảnh lan tỏa rộng rãi, bản sắc ấy trở thành một phần của “thương hiệu quốc gia”. Phim ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, ẩm thực, lễ hội,… chính là những kênh truyền tải bản sắc một cách sinh động và dễ tiếp nhận nhất đối với công chúng quốc tế.
Khi hình ảnh quốc gia gắn với sự sáng tạo, thân thiện, giàu bản sắc và năng động, môi trường đầu tư và hợp tác cũng được hưởng lợi. Du khách lựa chọn điểm đến không chỉ vì cảnh quan, mà còn vì câu chuyện văn hóa; nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến chi phí, mà còn đến môi trường xã hội, nguồn nhân lực sáng tạo và chất lượng sống. Ở đây, công nghiệp văn hóa góp phần tạo ra một “hệ sinh thái hình ảnh” tích cực, làm tăng sức hấp dẫn tổng thể của quốc gia trên trường quốc tế.
Trong cấu trúc phát triển hiện đại, văn hóa và kinh tế không còn là hai lĩnh vực tách biệt. Một sản phẩm công nghiệp, một điểm đến du lịch, một thương hiệu hàng hóa nếu được nâng đỡ bởi câu chuyện văn hóa và hình ảnh sáng tạo sẽ có giá trị cao hơn nhiều so với cạnh tranh bằng giá cả. Công nghiệp văn hóa vì thế như một “đòn bẩy mềm”, nâng giá trị cho các ngành kinh tế khác.
Lớp học hát quan họ (ảnh: Nguyễn Mạnh Linh)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Tinh thần này rất gần với định hướng mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra: văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực nội sinh cho phát triển. Nghị quyết xác định nhiệm vụ: Định vị và quảng bá thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, xuất bản phẩm truyền thông và đa phương tiện… Phát triển các thương hiệu văn hóa chất lượng cao, có sức cạnh tranh, đóng góp vào kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thương hiệu văn hóa mạnh trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu. Khi các sản phẩm văn hóa Việt Nam hiện diện ngày càng nhiều trên không gian số và thị trường quốc tế, chúng không chỉ tạo doanh thu trực tiếp mà còn góp phần xây dựng niềm tin, thiện cảm và sự quan tâm đối với Việt Nam. Điều đó mở đường cho thương mại, đầu tư, du lịch, giáo dục và hợp tác công nghệ - những lĩnh vực có đóng góp trực tiếp và lâu dài vào tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh Nghị quyết số 59-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu hội nhập sâu rộng và chủ động tham gia vào các mạng lưới quốc tế, công nghiệp văn hóa có một lợi thế đặc biệt: khả năng kết nối xuyên biên giới thông qua sáng tạo. Hợp tác sản xuất phim, trao đổi nghệ sĩ, liên kết nền tảng nội dung số, tham gia các liên hoan, chợ sáng tạo, mạng lưới thiết kế và nghệ thuật đương đại,… giúp các chủ thể sáng tạo Việt Nam bước vào chuỗi giá trị toàn cầu mà không nhất thiết phải có lợi thế lớn về vốn hay tài nguyên. Quá trình này không chỉ mang lại cơ hội thị trường, mà còn giúp nâng cao chuyên môn, năng lực quản trị, trình độ công nghệ và tư duy công nghiệp của đội ngũ sáng tạo trong nước. Khi các doanh nghiệp văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới quốc tế, họ đồng thời trở thành những “đại sứ hình ảnh” cho quốc gia, góp phần lan tỏa câu chuyện Việt Nam ra thế giới một cách tự nhiên và thuyết phục.
Nhìn tổng thể, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra tăng trưởng trực tiếp về mặt kinh tế, mà còn góp phần xây dựng “nền tảng mềm” cho phát triển dài hạn: củng cố bản sắc, nâng cao thương hiệu quốc gia, mở rộng không gian hợp tác quốc tế và gia tăng sức hấp dẫn của môi trường phát triển. Trong cấu trúc ấy, tăng trưởng hai con số không còn là mục tiêu thuần túy về lượng, mà gắn liền với sự nâng cấp về chất của nền kinh tế và vị thế quốc gia. Chính vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận như một chiến lược kép: vừa là chiến lược kinh tế, vừa là chiến lược sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới.
4- Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là sáng tạo nội dung và sản phẩm, mà còn đòi hỏi một hệ sinh thái thể chế - thị trường - nhân lực - công nghệ đủ mạnh để chuyển hóa tiềm năng thành giá trị kinh tế bền vững. Do vậy, trước hết cần xem xét những điều kiện then chốt để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành một trong những động lực tăng trưởng, phù hợp với định hướng phát triển đã được xác lập trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW và các nghị quyết liên quan. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, môi trường thể chế thuận lợi, xác lập vị thế chiến lược của văn hóa trong phát triển tổng thể, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai, cho “mạch nguồn” sức mạnh dân tộc. Đặt văn hóa ngang tầm với các lĩnh vực trọng yếu khác trong quy hoạch phát triển quốc gia, bảo đảm nguồn lực tương xứng, cơ chế đột phá và phân quyền rõ ràng trong tổ chức, vận hành và giám sát các hoạt động công nghiệp văn hóa.
Thứ hai, chính sách khuyến khích khu vực tư nhân và sáng tạo đổi mới. Xây dựng các cơ chế ưu đãi đầu tư, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thuế linh hoạt cho các dự án văn hóa - sáng tạo, tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực nội dung số, âm nhạc, điện ảnh, sự kiện; tạo ra môi trường thuận lợi cho khu vực tư nhân trở thành lực lượng dẫn dắt trong ngành. Bảo vệ giá trị di sản, thúc đẩy sáng tạo văn hóa đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba, phát triển nhân lực sáng tạo và kết nối với khoa học, công nghệ. Kết hợp đào tạo nghệ thuật truyền thống với kỹ năng sáng tạo số, kỹ thuật sản xuất nội dung, mô hình kinh doanh sáng tạo và năng lực quản trị dự án. Liên kết giữa các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, tạo điều kiện hình thành các “cụm sáng tạo” - nơi nghệ thuật, thiết kế, công nghệ số và thị trường gặp nhau; qua đó không chỉ nâng cao năng lực sản xuất nội dung, mà còn thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa ra thị trường quốc tế.
Thứ tư, hạ tầng số và thị trường phân phối: nền tảng cho sản phẩm văn hóa toàn cầu. Kết nối hạ tầng số với sáng tạo nội dung hợp thời, giúp công nghiệp văn hóa không bị giới hạn trong không gian địa phương, mà có thể trở thành “hàng hóa xuất khẩu vô hình”, đem lại ngoại tệ và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thứ năm, giá trị văn hóa - bản sắc cộng đồng và sự lan tỏa trong hội nhập quốc tế. Kết hợp các hoạt động văn hóa với khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới, giúp văn hóa phát huy vai trò là nền tảng tinh thần và nguồn lực cho sự phát triển. Việc thực hiện chính sách phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ mang tính nội lực mà còn mang tính chiến lược đối ngoại - khi văn hóa mở rộng không gian hợp tác quốc tế, tạo ra các liên kết sản xuất, phân phối, thương hiệu trên thị trường toàn cầu.
Như vậy, để công nghiệp văn hóa trở thành một trong những động lực tăng trưởng hai con số, cần một hệ thống điều kiện đồng bộ: thể chế rõ ràng, khuyến khích khu vực tư nhân và sáng tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao, hạ tầng số vững mạnh và tầm nhìn hội nhập quốc tế sâu rộng. Khi mọi thành tố này cùng vận hành nhịp nhàng, công nghiệp văn hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của nghệ thuật, mà trở thành động lực chiến lược của sự phát triển trong kỷ nguyên mới./.
PGS, TS BÙI HOÀI SƠN
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
Link gốc: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1317802/cong-nghiep-van-hoa---mot-trong-nhung-%E2%80%9Cchia-khoa%E2%80%9D-cho-tang-truong-hai-con-so-cua-viet-nam.aspx
Ngày phát hành: 05-11-2026