Thứ Sáu, ngày 16 tháng 10 năm 2026

Đánh thức nguồn lực văn hóa góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

Ngày phát hành: 15/10/2026 Lượt xem 26

TCCS - Mục tiêu tăng trưởng hai con số đang đặt Việt Nam trước yêu cầu tìm kiếm động lực phát triển mới, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, nâng năng suất và củng cố sức chống chịu của nền kinh tế. Trong hệ động lực ấy, văn hóa cần được nhìn nhận vừa là nền tảng tinh thần, hệ giá trị trụ cột, vừa là nguồn lực nội sinh, nguồn kinh tế trực tiếp, góp phần quan trọng tạo sức mạnh tổng hợp quốc gia. Phát huy vai trò của văn hóa vì thế không phải là bổ sung một yếu tố trang trí cho tăng trưởng, mà là tạo dựng nền móng con người, thể chế và trí tuệ, sức sáng tạo để tăng trưởng nhanh đi liền với chất lượng, hiệu quả, công bằng và bền vững.

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày tính xác thực về phục dựng Điện Kính Thiên và không gian Điện Kính Thiên, Khu di sản Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, ngày 29-9-2026 _Ảnh: TTXVN

 

1- Cách tiếp cận mới về nguồn lực văn hóa trong mô hình phát triển mới

 

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm, rút ngắn khoảng cách với các quốc gia đi trước, tránh nguy cơ tụt hậu và tạo nguồn lực giải quyết những vấn đề xã hội tích tụ, nền kinh tế phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian đủ dài. Vì vậy, tăng trưởng hai con số không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị, mà còn là yêu cầu khách quan của phát triển đất nước. Tuy nhiên, mục tiêu ấy không thể đạt được một cách bền vững nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công ở khâu có giá trị gia tăng thấp. Trong bối cảnh dư địa của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, dân số bắt đầu già hóa, cạnh tranh chiến lược gia tăng, cùng những biến đổi sâu sắc do chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, động lực tăng trưởng phải được chuyển mạnh sang năng suất tổng hợp, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hiệu quả quản trị và năng lực kiến tạo giá trị mới. Đây chính là lĩnh vực giàu tiềm năng, có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài.

 

Văn hóa không thể chỉ được nhìn nhận là lĩnh vực thụ hưởng thành quả phát triển kinh tế hay một khoản chi đáp ứng nhu cầu tinh thần, mà phải được đặt đúng vị trí là nền tảng, là nguồn lực, động lực và hệ điều tiết của phát triển; đồng thời, là một khu vực kinh tế trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, nguồn thu và sức cạnh tranh quốc gia. Kinh tế tạo cơ sở vật chất cho văn hóa, còn văn hóa kiến tạo con người, niềm tin, chuẩn mực hợp tác, tinh thần đổi mới và bản sắc. Bởi vậy, đóng góp của văn hóa cần được nhận diện đầy đủ cả ở tác động nền tảng, lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế và đóng góp trực tiếp thông qua công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, kinh tế sáng tạo, tài sản trí tuệ, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia.

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế ngày càng được bổ sung, phát triển cùng với sự chuyển biến của nhiệm vụ cách mạng. Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đã đặt văn hóa bên cạnh kinh tế và chính trị như một mặt trận của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đất nước bị đô hộ, nhiệm vụ kinh tế và văn hóa cùng hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người, khơi dậy ý thức dân tộc, tập hợp lực lượng cho cách mạng. Văn hóa góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần để đấu tranh giành độc lập dân tộc, đến lượt mình, độc lập dân tộc mở đường cho nhân dân xây dựng đời sống vật chất và tinh thần mới. Sau Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng gắn nhiệm vụ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống với nâng cao dân trí, xây dựng con người và bồi đắp các giá trị của xã hội mới. Thực tiễn cho thấy, sự nghiệp cách mạng cần nguồn lực vật chất để duy trì và phát triển, đồng thời cần lý tưởng, tri thức, đạo đức, khát vọng, tinh thần đoàn kết và ý chí vượt khó để huy động, sử dụng hiệu quả những nguồn lực ấy. Như vậy, văn hóa luôn gắn với hoạt động lao động, tổ chức xã hội và mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân, dù trong từng thời kỳ, điều kiện chiến tranh và hạn chế của cơ chế quản lý chưa cho phép nhận diện đầy đủ khả năng đóng góp của văn hóa vào phát triển kinh tế.

 

Bước vào công cuộc đổi mới, cùng với việc chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và từng bước xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ngày càng làm rõ tính tác động qua lại giữa hai lĩnh vực. Đại hội VIII chỉ rõ "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội"(1). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII chỉ rõ "Văn hóa và kinh tế có quan hệ gắn bó hữu cơ, là mục tiêu, động lực của nhau. Xây dựng và phát triển văn hóa lành mạnh nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ và vững chắc... Cả kinh tế và văn hóa phải hòa quyện vào nhau để đưa đất nước ta vững bước vào thế kỷ XXI"(2). Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ "Xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, coi văn hóa là một động lực phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh trong cơ quan, nơi công cộng, cộng đồng dân cư, gia đình và cá nhân"(3).

 

Từ đây, tăng trưởng kinh tế được nhìn nhận trong quan hệ với văn hóa, chất lượng con người và đời sống xã hội: kinh tế tạo điều kiện vật chất cho văn hóa phát triển; văn hóa bồi dưỡng phẩm chất, năng lực sáng tạo, định hướng giá trị và góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng. Nhận thức đó tiếp tục được phát triển qua yêu cầu gắn tăng trưởng với phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội; làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống, trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển. Nghị quyết số 33-NQ/ TW, ngày 9-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI "Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước" chỉ rõ văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Nghị quyết đồng thời yêu cầu xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam. Điểm quan trọng ở đây là văn hóa đã được đặt trong cấu trúc của phát triển bền vững và gắn với thị trường, sản phẩm, dịch vụ, chứ không chỉ giới hạn trong hoạt động bảo tồn hoặc đáp ứng nhu cầu tinh thần. Kết luận số 76-KL/TW, ngày 4-6-2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm. Qua đó, văn hóa được tiếp cận ngày càng rõ hơn như một nguồn lực hình thành động cơ phát triển, nâng chất lượng con người và mở rộng những lĩnh vực kinh tế dựa trên sáng tạo.

 

Văn kiện Đại hội XIII phát triển nhận thức này khi xác định phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội yêu cầu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam; coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Như vậy, đóng góp của văn hóa đối với tăng trưởng không chỉ biểu hiện ở giá trị gia tăng của các ngành văn hóa, mà trước hết ở năng lực tạo nên chủ thể của tăng trưởng, đó là: những con người có tri thức, bản lĩnh, kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp và khả năng sáng tạo.

 

Các nghị quyết của Bộ Chính trị trong thời gian gần đây tiếp tục mở rộng không gian phát huy nguồn lực văn hóa trong mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết số 57-NQ/ TW, ngày 22-12-2024, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của phát triển; điều đó đòi hỏi đồng thời xây dựng văn hóa đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, tôn trọng tri thức và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Nghị quyết số 68-NQ/ TW, ngày 4-5-2025, về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến. Từ tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, nâng cao năng lực hội nhập được gắn với phát huy bản sắc, giá trị và sức mạnh mềm Việt Nam. Định hướng này cho thấy văn hóa hiện diện trong cả ba động lực quan trọng của tăng trưởng: đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp và hội nhập quốc tế.

 

Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mới về lý luận khi xác định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn và hệ điều tiết sự phát triển xã hội bền vững. Đại hội nhấn mạnh "phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển"(4). Đồng thời "bảo đảm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hóa thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước"(5). Nếu khái niệm nền tảng nhấn mạnh hệ giá trị tạo độ vững chắc cho xã hội; nguồn lực và sức mạnh nội sinh chỉ ra khả năng chuyển hóa giá trị tinh thần thành năng lực phát triển; động lực thể hiện sức thúc đẩy sáng tạo và hành động; thì hệ điều tiế t làm rõ chức năng định hướng mục tiêu, phương thức và giới hạn phạm vi của tăng trưởng. Đây là cách tiếp cận trực tiếp gắn văn hóa với mô hình phát triển quốc gia, nhất là khi Đại hội XIV đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên và yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

 

Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa và nâng tầm quan điểm đó khi xác định: phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việc bổ sung khái niệm trụ cột khẳng định văn hóa không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực đứng bên cạnh kinh tế, chính trị và xã hội, mà là một thành tố cấu thành mô hình phát triển. Quan điểm "đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc" cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách phân bổ nguồn lực: chi cho văn hóa cần được xem là đầu tư tạo vốn con người, vốn xã hội, tài sản trí tuệ, năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh dài hạn. Nghị quyết số 80-NQ/ TW đặc biệt nhấn mạnh khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực kinh tế. Nghị quyết yêu cầu phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa và thị trường sản phẩm văn hóa; xây dựng hệ sinh thái sáng tạo; thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển dữ liệu văn hóa; tăng cường bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ; gắn văn hóa với du lịch, ngoại giao, thương mại và quảng bá hình ảnh quốc gia. Mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP cho thấy đóng góp tăng trưởng của văn hóa đã được lượng hóa thành một chỉ tiêu phát triển. Song giá trị căn bản của Nghị quyết không chỉ ở chỉ tiêu này, mà ở việc xác lập cơ chế để nguồn lực di sản, bản sắc, tri thức, tài năng và sáng tạo được đưa vào chuỗi giá trị, tạo doanh nghiệp, việc làm, thu nhập và sản phẩm có khả năng cạnh tranh quốc tế.

 

Từ Nghị quyết số 33-NQ/TW đến Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/ TW có thể nhận diện ba chuyển biến lớn trong tư duy của Đảng: Thứ nhất, từ coi văn hóa chủ yếu là nền tảng tinh thần sang nhìn nhận văn hóa đồng thời là nguồn lực phát triển có thể được đầu tư, tổ chức, khai thác và tái tạo; Thứ hai, từ nhấn mạnh vai trò đồng hành sang xác lập văn hóa là một trụ cột và hệ điều tiết của mô hình phát triển, chi phối chất lượng, tính nhân văn và tính bền vững của tăng trưởng; Thứ ba, từ cách tiếp cận chủ yếu theo lĩnh vực sang cách tiếp cận hệ sinh thái, đặt văn hóa trong mối liên hệ hữu cơ với kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, du lịch, thương mại, đối ngoại và chuyển đổi số.

 

Như vậy, theo cách tiếp cận mới, phát huy vai trò của văn hóa trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số chính là quá trình chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành năng lực, động lực phát triển. Quá trình ấy phải đồng thời tạo ra con người có năng lực và khát vọng; xây dựng thể chế có kỷ luật, liêm chính và khả năng kiến tạo; hình thành thị trường có niềm tin; phát triển sản phẩm, dịch vụ và tài sản trí tuệ mang bản sắc Việt Nam. Do đó, văn hóa vừa cung cấp năng lượng cho tăng trưởng, vừa dẫn dắt tăng trưởng hướng tới con người, tạo bản sắc và lợi thế cạnh tranh cho nền kinh tế. Đây là cơ sở để xem văn hóa là một bộ phận hữu cơ của mô hình phát triển mới, chứ không phải thành quả chỉ được thụ hưởng sau khi kinh tế đã phát triển.

 

2- Những phương diện chủ yếu văn hóa đóng góp, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế

 

Thứ nhất, văn hóa kiến tạo giá trị nguồn nhân lực và nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp quốc gia.

 

Trong nền kinh tế tri thức, lợi thế quyết định không còn chủ yếu là lao động giá rẻ, tài nguyên sẵn có hay khả năng mở rộng vốn, mà là chất lượng con người và hiệu quả kết hợp con người với công nghệ, vốn và thể chế. Văn hóa hình thành lòng yêu nước, khát vọng vươn lên, tinh thần tự học, kỷ luật, trung thực, trách nhiệm, năng lực hợp tác và lòng tự trọng nghề nghiệp. Những phẩm chất tưởng như thuộc lĩnh vực tinh thần ấy được chuyển hóa rất cụ thể thành tốc độ tiếp thu công nghệ, hiệu suất sử dụng thời gian, chất lượng sản phẩm, năng lực cải tiến và khả năng thích ứng trước biến động. Năng suất lao động, xét đến cùng, không chỉ do máy móc hay trình độ kỹ thuật quyết định. Cùng một công nghệ và lượng vốn, một tổ chức đề cao chất lượng, kỷ luật lao động, giữ chữ tín, tôn trọng quy trình và khuyến khích sáng kiến thường tạo ra hiệu quả cao hơn tổ chức bị chi phối bởi tâm lý an phận, cục bộ, hình thức và né tránh trách nhiệm. Văn hóa lao động làm cho kỹ năng trở thành tác phong; văn hóa học tập biến tri thức cá nhân thành năng lực tích lũy của tổ chức; văn hóa trách nhiệm giúp mỗi chủ thể theo đuổi công việc đến kết quả cuối cùng thay vì chỉ hoàn tất thủ tục.

 

Văn hóa còn quyết định khả năng chuyển tri thức phân tán thành năng suất các nhân tố tổng hợp. Doanh nghiệp có văn hóa học hỏi sẽ chia sẻ kinh nghiệm, tiếp nhận phản hồi và liên tục cải tiến; cơ quan có văn hóa phục vụ sẽ chủ động phối hợp, rút ngắn thời gian xử lý và lấy hiệu quả của người dân, doanh nghiệp làm thước đo; địa phương có văn hóa kiến tạo sẽ tôn trọng thực tiễn, lắng nghe thị trường và duy trì chính sách nhất quán. Do đó, đầu tư cho xây dựng con người và môi trường văn hóa chính là đầu tư vào chất lượng nguồn nhân lực, năng lực hấp thụ công nghệ và năng suất tổng hợp - nguồn đóng góp phải tăng nhanh nếu Việt Nam muốn duy trì tăng trưởng cao mà không lệ thuộc vào khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư theo chiều rộng.

 

Thứ hai, văn hóa khơi dậy khát vọng phát triển và giải phóng sức sáng tạo xã hội.

 

Tăng trưởng cao đòi hỏi toàn xã hội cùng hướng tới một mục tiêu lớn, chấp nhận đổi mới mạnh mẽ, phân bổ lại nguồn lực và thay đổi phương thức sản xuất, quản trị, tiêu dùng. Văn hóa tạo nền tảng tinh thần cho quá trình đó bằng cách khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; củng cố niềm tin vào đường lối phát triển; gắn ý chí chính trị của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp và quyền làm chủ của nhân dân. Khi mục tiêu phát triển trở thành niềm tin và hành động tự giác của đông đảo chủ thể, nguồn lực xã hội được huy động sâu rộng hơn, sức chịu đựng trước khó khăn lớn hơn và chi phí tạo đồng thuận thấp hơn.

 

Văn hóa cũng là môi trường tinh thần của đổi mới sáng tạo. Một nền văn hóa tôn trọng tri thức và nhân tài, khuyến khích tư duy độc lập, tranh luận dựa trên bằng chứng, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận thất bại có kiểm soát sẽ mở rộng không gian cho ý tưởng mới. Ngược lại, tâm lý bình quân, sợ khác biệt, sợ trách nhiệm, bệnh thành tích và thói quen phủ nhận sai sót sẽ làm triệt tiêu động lực đổi mới, dù xã hội có đầu tư nhiều cho thiết bị và phòng thí nghiệm. Khoa học, công nghệ cung cấp phương tiện cho đổi mới, nhưng văn hóa tạo ra động cơ, khí chất và môi trường để đổi mới diễn ra liên tục.

 

Thứ ba, văn hóa tạo niềm tin thị trường và làm giảm chi phí của nền kinh tế.

 

Thị trường hiện đại không chỉ vận hành bằng hợp đồng, pháp luật và chế tài, mà còn bằng chữ tín, chuẩn mực nghề nghiệp và kỳ vọng các thực thể sẽ hành xử có trách nhiệm. Khi thông tin minh bạch, cam kết được tôn trọng, cán bộ liêm chính và doanh nghiệp coi trọng danh dự, chi phí tìm kiếm thông tin, giám sát, phòng ngừa rủi ro và giải quyết tranh chấp đều giảm. Dòng vốn có thể đến nhanh hơn với dự án hiệu quả; chuỗi cung ứng ổn định hơn; quyết định đầu tư dài hạn được khuyến khích; người tiêu dùng sẵn sàng lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc và chất lượng đáng tin cậy. Ngược lại, bệnh thành tích, tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm, gian lận thương mại, xâm phạm bản quyền và né tránh trách nhiệm tạo ra một thứ "thuế vô hình" đánh vào toàn xã hội. Một dự án chậm vì thủ tục thiếu trách nhiệm, một sản phẩm mất thị trường vì gian dối chất lượng, một ý tưởng không được thương mại hóa vì bị sao chép... đều là tổn thất kinh tế có căn nguyên văn hóa. Vì vậy, xây dựng văn hóa liêm chính, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh không phải giải pháp bổ trợ, mà là cải cách môi trường đầu tư từ gốc, trực tiếp giải phóng nguồn lực đang bị ách tắc.

 

Thứ tư, công nghiệp văn hóa tạo giá trị gia tăng trực tiếp và tạo nguồn tăng trưởng mới.

 

Nếu tác động về con người, niềm tin và thể chế chủ yếu nâng cao năng lực chung của nền kinh tế, thì công nghiệp văn hóa là kênh trực tiếp biến tài năng, ý tưởng và bản sắc thành doanh thu, lợi nhuận, thuế, việc làm, xuất khẩu và đầu tư. Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, xuất bản, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, thiết kế, thời trang, kiến trúc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, phần mềm, trò chơi điện tử, nội dung số, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa đều có khả năng tạo giá trị gia tăng cao. Đầu vào cốt lõi của nhiều ngành là tài năng, dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ và năng lực sáng tạo; vì vậy, chúng sử dụng ít tài nguyên vật chất hơn, phù hợp với chuyển đổi số, kinh tế xanh và yêu cầu phát triển dựa trên tri thức. Đóng góp trực tiếp của công nghiệp văn hóa thể hiện rõ trong từng chuỗi giá trị. Điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn tạo doanh thu từ vé, bản quyền, quảng cáo, dịch vụ trường quay, hậu kỳ và du lịch bối cảnh. Âm nhạc, xuất bản và nội dung số tạo doanh thu qua phân phối trực tuyến, thuê bao, cấp phép và biểu diễn. Trò chơi điện tử, phần mềm sáng tạo và thiết kế có thể xuất khẩu xuyên biên giới ngay từ thị trường trong nước với chi phí nhân bản thấp. Thời trang, kiến trúc, thủ công mỹ nghệ và sản phẩm thiết kế nâng giá trị của vật liệu, kỹ năng và tri thức bản địa. Du lịch văn hóa chuyển di sản, lễ hội, ẩm thực và không gian sống thành trải nghiệm, qua đó kích hoạt lưu trú, vận tải, bán lẻ, dịch vụ và kinh tế ban đêm.

 

Giá trị lớn nhất của công nghiệp văn hóa không nằm ở việc khai thác chất liệu văn hóa một lần, mà ở khả năng hình thành tài sản trí tuệ có thể cấp phép, nhân bản và tạo doanh thu trên nhiều thị trường. Một câu chuyện lịch sử có thể phát triển thành sách, phim, hoạt hình, trò chơi, âm nhạc, sản phẩm lưu niệm và tuyến du lịch; một họa tiết truyền thống có thể được tái tạo trong thiết kế đương đại; một món ăn có thể trở thành chuỗi dịch vụ và thương hiệu quốc tế. Muốn đạt được điều đó, nguồn lực văn hóa phải đi qua một chu trình đầy đủ: nhận diện và số hóa; nghiên cứu và diễn giải; sáng tạo và thiết kế; đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; sản xuất và phân phối; tiếp thị, cấp phép và mở rộng sang nhiều định dạng.

 

Công nghiệp văn hóa còn tạo hiệu ứng số nhân đối với nhiều ngành. Một bộ phim thành công không chỉ tạo doanh thu phòng vé, mà còn quảng bá địa danh, kích thích du lịch, thời trang, âm nhạc và hàng hóa liên quan. Một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể làm tăng công suất lưu trú, kéo dài thời gian chi tiêu và mở thị trường cho sản phẩm địa phương. Một trò chơi có cốt truyện và mỹ thuật Việt Nam vừa tạo xuất khẩu số, vừa đưa biểu tượng Việt Nam đến công chúng quốc tế. Vì thế, đánh giá đóng góp của công nghiệp văn hóa cần tính cả giá trị trực tiếp, giá trị lan tỏa trong chuỗi cung ứng và giá trị thương hiệu được tích lũy cho tương lai.

 

Thứ năm, văn hóa gia tăng giá trị thương hiệu hàng hóa và sức cạnh tranh quốc gia.

 

Trong cạnh tranh hiện đại, người tiêu dùng không chỉ mua công dụng, mà còn mua câu chuyện, cảm xúc, trải nghiệm, sự tin cậy và ý nghĩa xã hội của sản phẩm. Văn hóa giúp hàng hóa thoát khỏi vị trí vô danh trong chuỗi gia công bằng cách tạo khác biệt về thiết kế, biểu tượng và bản sắc. Chè, cà-phê, gạo, tơ lụa, gốm, mây tre, sơn mài, dược liệu hay ẩm thực Việt Nam có thể giữ lại phần giá trị lớn hơn nếu được gắn với chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn chất lượng, thẩm mỹ hiện đại, câu chuyện vùng đất và trải nghiệm tiêu dùng nhất quán.

 

Ở tầm quốc gia, sức hấp dẫn văn hóa hỗ trợ ngoại giao, thương mại, thu hút đầu tư, du lịch và nhân tài. Một quốc gia được nhận diện là sáng tạo, đáng tin cậy, an toàn và giàu bản sắc sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp khi tiếp cận thị trường. Sức mạnh mềm không thay thế chất lượng hàng hóa, nhưng có thể làm giảm chi phí tiếp cận, tạo thiện cảm, nâng cao mức độ nhận diện và mở rộng không gian hợp tác. Xuất khẩu sản phẩm văn hóa do đó cũng là xuất khẩu hình ảnh, hệ giá trị và uy tín quốc gia; ngược lại, mỗi thương hiệu mạnh của Việt Nam có thể trở thành một kênh truyền tải văn hóa ra thế giới.

 

Thứ sáu, văn hóa kiến tạo nhu cầu thị trường và động lực phát triển địa phương.

 

Tăng trưởng không chỉ được quyết định bởi năng lực cung ứng, mà còn bởi chất lượng của nhu cầu. Thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa đọc, văn hóa du lịch, văn hóa số, ý thức sử dụng hàng Việt Nam chất lượng cao và tinh thần tiêu dùng có trách nhiệm tạo ra thị trường cho sản phẩm sáng tạo, xanh và giàu hàm lượng tri thức. Một công chúng có năng lực thẩm mỹ và tôn trọng bản quyền sẽ khuyến khích nhà sản xuất đầu tư dài hạn; ngược lại, tâm lý chuộng miễn phí, dễ dãi với hàng giả và chạy theo trào lưu ngắn hạn khiến sản phẩm chất lượng khó tồn tại. Phát triển công chúng vì thế cũng là phát triển phía cầu cho công nghiệp văn hóa.

 

Văn hóa đồng thời tạo sức hấp dẫn cho không gian phát triển. Di sản, cảnh quan, kiến trúc, nghệ thuật công cộng, lễ hội, ẩm thực, làng nghề và đời sống cộng đồng làm nên bản sắc của đô thị và địa phương. Nếu được quy hoạch và tổ chức tốt, nguồn lực này có thể hình thành khu sáng tạo, tuyến phố văn hóa, trung tâm thiết kế, kinh tế ban đêm, lễ hội chuyên nghiệp và điểm đến có sức cạnh tranh ở địa phương; qua đó thu hút nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp sáng tạo và dòng vốn đầu tư.

 

Sân khấu hát bội giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại _Ảnh: nhiepanhdoisong.vn

 

3- Giải pháp chủ yếu đánh thức nguồn lực văn hóa, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

 

Tiềm năng văn hóa không tự động chuyển thành năng suất, việc làm và giá trị gia tăng. Bởi vậy, đánh thức tiềm năng văn hóa cho mục tiêu tăng trưởng hai con số phải đồng thời giải quyết hai yêu cầu: nâng chất lượng của toàn bộ nền kinh tế bằng văn hóa và phát triển những ngành trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ văn hóa có sức cạnh tranh. Cùng với việc tiếp tục nhận thức đầy đủ về vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, từ tinh thần Văn kiện Đại hội XIV, các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể, thiết thực, trong đó có một số giải pháp chủ yếu sau:

 

Thứ nhất, đưa văn hóa vào trung tâm của việc đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng quản trị.

 

Chủ thể quản lý cần có cách tiếp cận mới về đóng góp của văn hóa trong tăng trưởng kinh tế, không chỉ tính đóng góp của văn hóa qua doanh thu biểu diễn, điện ảnh hay du lịch. Văn hóa còn hiện diện trong trình độ con người, đạo đức công vụ, kỷ luật lao động, chữ tín trong kinh doanh, năng lực hợp tác và thái độ đối với đổi mới sáng tạo. Các yếu tố ấy tác động đến năng suất và chi phí của mọi ngành. Vì thế, khi xây dựng chiến lược ngành, quy hoạch đô thị, chính sách giáo dục, thu hút đầu tư và đánh giá môi trường kinh doanh... cơ quan hoạch định chính sách cần xác định rõ mục tiêu phát triển con người, chất lượng không gian sống và chuẩn mực ứng xử. Trong doanh nghiệp, khuyến khích quản trị minh bạch, giữ cam kết với khách hàng, đầu tư cho thiết kế và trải nghiệm sử dụng; trong bộ máy công quyền, lấy sự liêm chính, tinh thần phục vụ và khả năng phối hợp làm tiêu chí đánh giá thực thi. Đây là con đường để văn hóa tạo tăng trưởng thông qua năng suất cao hơn, giao dịch đáng tin cậy hơn và những quyết định phát triển có tầm nhìn dài hạn.

 

Thứ hai, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế tài chính đối với tài sản vô hình và hoạt động sáng tạo.

 

Muốn văn hóa trở thành động lực tăng trưởng, cần khơi thông nguồn vốn cho sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm. Đặc thù của lĩnh vực này là chi phí đầu tư phát sinh trước, doanh thu khó dự báo, giá trị tập trung ở bản quyền, thiết kế, thương hiệu và khả năng khai thác lâu dài. Vì vậy, cơ chế tài chính cần phù hợp với chu kỳ sáng tạo, mức độ rủi ro và phương thức tạo giá trị của từng ngành. Trước hết, hoàn thiện cơ chế đặt hàng, tài trợ theo chất lượng sản phẩm, hiệu quả phục vụ công chúng; cho phép tính đúng chi phí nghiên cứu, thử nghiệm, nhuận bút, bản quyền và phân phối. Thí điểm định giá quyền tài sản trí tuệ dựa trên hồ sơ pháp lý, hợp đồng khai thác, dòng tiền và đánh giá độc lập, tạo cơ sở mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng. Khuyến khích quỹ đầu tư, vốn góp và cơ chế chia sẻ rủi ro để hỗ trợ dự án có triển vọng; công khai tiêu chí lựa chọn, kiểm soát xung đột lợi ích, tránh xin - cho, dàn trải. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục, minh bạch điều kiện cấp phép và bảo vệ bản quyền trên môi trường số để người sáng tạo thu được lợi ích chính đáng. Hiệu quả cải cách phải thể hiện ở khả năng đưa ý tưởng thành sản phẩm, tiếp cận vốn, thu hồi đầu tư và tái đầu tư sáng tạo.

 

Thứ ba, tổ chức công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, lấy năng lực sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ làm khâu đột phá.

 

Nhiều địa phương có di sản, lễ hội, nghệ nhân và câu chuyện giàu sức hấp dẫn, nhưng sản phẩm bán ra còn đơn điệu, thời gian lưu trú ngắn, phần giá trị gia tăng giữ lại tại chỗ thấp. Các địa phương, nhà đầu tư cần chuyển từ phát triển từng sự kiện riêng lẻ sang phát triển chuỗi, bao gồm nghiên cứu thị trường, sáng tạo nội dung, thiết kế, sản xuất, phân phối, cấp phép sử dụng và tiếp thị quốc tế. Trên cơ sở lợi thế thực có, mỗi địa phương lựa chọn một số cụm ngành, như điện ảnh, hoạt hình, trò chơi, thiết kế, thời trang, âm nhạc hoặc du lịch văn hóa... để tập trung hỗ trợ; gắn doanh nghiệp dẫn dắt với cơ sở đào tạo, nghệ sĩ, đơn vị công nghệ và doanh nghiệp nhỏ. Khi khai thác di sản hay tri thức tại chỗ, cần có thỏa thuận minh bạch về sự tham gia, chia sẻ doanh thu và trách nhiệm bảo tồn của cộng đồng. Một địa phương thành công không chỉ đón thêm khách, mà còn tạo việc làm ổn định, hình thành sản phẩm có bản quyền, doanh nghiệp có khả năng bán hàng quanh năm và có nguồn thu dành cho tái tạo di sản.

 

Thứ tư, phát triển các tài năng sáng tạo văn hóa và hạ tầng dữ liệu.

 

Thực tế cho thấy, điểm thiếu không chỉ là nghệ sĩ hay tác phẩm hay, mà còn là nhà sản xuất, người quản trị bản quyền, chuyên gia phân tích công chúng, nhà thiết kế công nghệ và đội ngũ có thể đưa sản phẩm ra thị trường thế giới. Cần mở chương trình đào tạo liên ngành giữa nghệ thuật, công nghệ, kinh doanh, luật và ngoại ngữ; tạo cơ chế thực tập, đặt hàng sản phẩm và hỗ trợ dự án khởi nghiệp có đánh giá kết quả. Với người làm sáng tạo tự do, cần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý, đào tạo nghề và an sinh phù hợp. Về hạ tầng, ưu tiên số hóa di sản theo chuẩn dữ liệu thống nhất, ghi rõ nguồn gốc, quyền sử dụng và điều kiện cấp phép; kết nối bảo tàng, thư viện, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp trên cơ sở bảo vệ dữ liệu. Song song với phát triển nền tảng phân phối trong nước, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng năng lực đàm phán với nền tảng quốc tế để tiếp cận công chúng mà vẫn nắm được quyền đối với nội dung, dữ liệu cần thiết và phần doanh thu xứng đáng. Đầu tư cho thiết chế văn hóa phải được xem xét qua chất lượng chương trình, số người thụ hưởng và mức độ sử dụng thực tế của công trình.

 

Thứ năm, mở rộng thị trường, kết hợp hiệu quả giữa bản sắc văn hóa Việt Nam và chuẩn mực quốc tế.

 

Mở rộng thị trường đòi hỏi chuyển từ quảng bá những gì sẵn có sang phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu công chúng, lấy bản sắc Việt Nam làm nền tảng khác biệt và chuẩn mực quốc tế làm điều kiện tiếp cận. Cần lựa chọn thị trường, phân khúc khách hàng và sản phẩm có lợi thế; nghiên cứu thị hiếu, khả năng chi trả, yêu cầu pháp lý để tổ chức sáng tạo, sản xuất và phân phối phù hợp. Với điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, thiết kế, thủ công mỹ nghệ... cần hỗ trợ chuyển ngữ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, nâng chất lượng và kết nối nhà phân phối quốc tế. Bản sắc phải được chuyển hóa thành câu chuyện, thẩm mỹ và trải nghiệm có sức hấp dẫn, tránh sao chép biểu tượng hoặc chạy theo thị hiếu làm phai nhạt giá trị.

 

Chuẩn mực quốc tế cần được thể hiện trong chất lượng, tính chuyên nghiệp, sự minh bạch và khả năng thực hiện cam kết. Du lịch văn hóa phải liên kết di sản với lưu trú, ẩm thực, thương mại, sản phẩm sáng tạo để tăng chi tiêu và thời gian lưu trú. Hàng hóa xuất khẩu cần tích hợp giá trị văn hóa vào thiết kế, xuất xứ, thương hiệu. Mỗi chương trình xúc tiến phải có thị trường mục tiêu, đối tác phân phối, chỉ tiêu doanh thu; lấy khả năng tiếp cận khách hàng và hiệu quả thương mại làm thước đo.

 

Thứ sáu, thiết lập hệ thống đo lường, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực đầu tư.

 

Để văn hóa đóng góp vào tăng trưởng hai con số, cần đo lường đúng giá trị tạo ra, lấy dữ liệu làm căn cứ phân bổ nguồn lực. Trước hết, thống nhất phạm vi thống kê các ngành công nghiệp văn hóa, phân biệt doanh thu với giá trị gia tăng, tránh tính trùng giữa văn hóa, du lịch, thương mại. Bộ chỉ tiêu cần phản ánh đóng góp vào GDP, việc làm, thu nhập người sáng tạo, doanh thu bản quyền, xuất khẩu và tỷ lệ giá trị giữ lại trong nước. Tác động lan tỏa phải được đánh giá bằng khảo sát, đối chiếu và phương pháp phù hợp, tránh suy diễn từ số sự kiện, lượt khách hoặc lượng tương tác. Trên cơ sở đó, đầu tư cần tập trung vào những khâu có khả năng tạo chuyển biến: nhân lực sáng tạo, hạ tầng dùng chung, số hóa di sản, bảo hộ bản quyền và năng lực phân phối. Mỗi chương trình phải xác định hiện trạng, mục tiêu, chi phí, thời hạn, trách nhiệm; có đánh giá độc lập để quyết định mở rộng, điều chỉnh hoặc dừng. Phân bổ ngân sách phải phân biệt nhiệm vụ bảo tồn, phục vụ công chúng với hoạt động kinh doanh, tránh áp dụng một thước đo doanh thu cho mọi lĩnh vực. Hiệu quả đầu tư cần được xét cả ở giá trị kinh tế, tình trạng di sản, quyền tiếp cận văn hóa và lợi ích người sáng tạo, qua đó nuôi dưỡng nguồn lực tăng trưởng.

 

Khát vọng tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ hơn sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó có vai trò quan trọng của văn hóa Việt Nam. Văn hóa bồi đắp con người có tri thức, bản lĩnh và khát vọng; nuôi dưỡng niềm tin, kỷ luật, tinh thần hợp tác; đồng thời tạo nên sản phẩm, tài sản trí tuệ và thương hiệu có sức cạnh tranh. Nhưng tiềm năng ấy chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được nâng đỡ bằng thể chế phù hợp, tài năng sáng tạo, thị trường rộng mở và năng lực tổ chức thực hiện. Thước đo thành công không chỉ là tỷ trọng đóng góp vào GDP, mà còn là năng suất cao hơn, đời sống phong phú hơn, di sản được gìn giữ và hệ giá trị văn hóa lan tỏa xa hơn. Đánh thức nguồn lực văn hóa, xét đến cùng, là đánh thức năng lực phát triển của quốc gia, dân tộc, để tăng trưởng nhanh, bền vững, tạo nền tảng cho một đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

PGS, TS DƯƠNG TRUNG Ý
Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

 

Link gốc: Đánh thức nguồn lực văn hóa, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số - Media story - Tạp chí Cộng sản

Ngày phát hành: 14-10-2026

---------------------------------------


(1) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t. 55, tr. 391
(2) Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 57, tr. 391
(3) Văn kiện Đảng  Toàn tập, Sđd, t.68, 2018, tr. 971
(4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 373, tr. 265

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết