Thứ Năm, ngày 01 tháng 10 năm 2026

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế biển và gợi mở chiến lược cho Việt Nam

Ngày phát hành: 01/10/2026 Lượt xem 32

Thế kỷ XXI được quốc tế xác lập là “kỷ nguyên của đại dương”. Trước áp lực cạn kiệt tài nguyên trên đất liền, biến đổi khí hậu và nhu cầu mở rộng không gian sinh tồn, các quốc gia ven biển ngày càng hướng mạnh ra biển, coi đại dương là động lực tăng trưởng kinh tế, không gian an ninh sinh tồn và trục cạnh tranh địa chiến lược hàng đầu. Xu thế phát triển kinh tế biển toàn cầu hiện nay không chỉ dừng lại ở các hoạt động khai thác truyền thống như đánh bắt thủy sản, vận tải hàng hải hay khai thác dầu khí thô, mà đã chuyển biến sang mô hình “kinh tế biển xanh” (Blue Economy), kinh tế biển ba chiều, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao.

 

Phong cảnh tuyệt đẹp của Vịnh Hạ Long thu hút nhiều du khách đến tham quan, khám phá. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)


Việc xây dựng chiến lược quốc gia biển mạnh đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế không gian biển, đầu tư đột phá cho khoa học - công nghệ, quản trị liên ngành và bảo tồn các hệ sinh thái biển. Từ thực tiễn sinh động của các cường quốc và quốc gia phát triển mạnh về kinh tế biển như Na Uy, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ và một số nước ASEAN, những bài học kinh nghiệm được đúc kết mang giá trị tham chiếu thiết thực đối với việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. 


1. Xu hướng chuyển dịch kinh tế đại dương trên quy mô toàn cầu

 
Theo các báo cáo từ Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Đối tác Quản lý Môi trường các Biển Đông Á (PEMSEA), quy mô kinh tế đại dương toàn cầu đóng góp hàng nghìn tỷ USD mỗi năm, tạo sinh kế trực tiếp cho hàng trăm triệu lao động ven biển. Tuy nhiên, phương thức phát triển kinh tế biển đang trải qua bước ngoặt cơ bản về nhận thức lý luận và hành động thực tiễn.


Trước đây, phát triển kinh tế biển chủ yếu mang tính “nâu”, nghĩa là dựa vào thâm dụng tài nguyên hữu hạn, mở rộng tối đa sản lượng đánh bắt tự nhiên, khai thác khoáng sản hóa thạch và mở rộng hệ thống cảng bến theo chiều rộng mà ít tính tới sức chịu tải sinh thái. Tình trạng đánh bắt quá mức, ô nhiễm môi trường biển từ rác thải nhựa và hóa chất, sự suy thoái rạn san hô, rừng ngập mặn cùng hiện tượng sạt lở ven bờ đã đặt các đại dương trước bờ vực khủng hoảng nghiêm trọng.
Hệ thống quản trị biển thế giới hiện đã chuyển dịch dứt khoát sang mô hình kinh tế biển xanh. Khái niệm này xác định việc khai thác tài nguyên biển phải đi đôi với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, giảm phát thải khí nhà kính và bảo đảm công bằng xã hội cho cộng đồng cư dân bản địa. Đồng thời, khái niệm “kinh tế biển ba chiều” bắt đầu định hình rõ nét, bao gồm tích hợp quản trị không gian mặt nước, cột nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển để tối ưu hóa giá trị gia tăng mà không xung đột lợi ích giữa các ngành.


2. Thực tiễn phát triển kinh tế biển tại một số quốc gia 


Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện địa - kinh tế và tiềm lực công nghệ, đều lựa chọn cho mình các mũi đột phá riêng trong chiến lược biển, song đều có điểm chung là lấy quy hoạch dài hạn và công nghệ làm bệ đỡ cốt lõi.


Mỹ: Đòn bẩy kinh tế thị trường, năng lượng sạch và bảo tồn dựa trên khoa học

 

Quang cảnh cảng hàng hóa tại California, Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN phát

 

Tại Mỹ, kinh tế biển mang lại giá trị gia tăng hàng trăm tỷ USD hàng năm, với các ngành mũi nhọn là du lịch sinh thái biển, dịch vụ giải trí ven biển, logistics hàng hải và năng lượng. Kinh nghiệm của Mỹ thể hiện rõ ở tính minh bạch của thị trường và sức mạnh của hệ thống giám sát khoa học.


Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp các dự báo khí hậu, hải dương học, tình trạng thủy văn và bản đồ tài nguyên có độ chính xác cao. Dữ liệu này được thương mại hóa hoặc cung cấp miễn phí để cộng đồng doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, phòng ngừa rủi ro thiên tai.
Bên cạnh đó, Mỹ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi năng lượng ngoài khơi, thông qua việc cấp phép các trang trại điện gió ngoài khơi quy mô lớn ở bờ Đông, đồng thời áp dụng cơ chế định giá môi trường, hạn ngạch chuyển nhượng đánh bắt thủy hải sản rất nghiêm ngặt, buộc các hiệp hội nghề cá phải tự giám sát lẫn nhau để bảo đảm tính bền vững lâu dài của nguồn lợi.


Na Uy: Hình mẫu quản trị biển hiện đại, nuôi biển công nghệ cao và dữ liệu minh bạch 


Na Uy là quốc gia tiêu biểu tại châu Âu thành công trong việc kết hợp giữa khai thác công nghiệp đại dương quy mô lớn và duy trì chất lượng hệ sinh thái biển nguyên sơ. Quốc gia Bắc Âu này sở hữu bờ biển dài và phức tạp, song đã đưa kinh tế biển trở thành trụ cột thịnh vượng thông qua ba nền tảng cốt lõi:


Thứ nhất, Na Uy tiên phong xây dựng các kế hoạch quản lý tổng hợp vùng biển dựa trên hệ sinh thái từ đầu những năm 2000. Mọi ngành nghề như khai thác dầu khí, đánh bắt tự nhiên, nuôi biển công nghiệp, vận tải và bảo tồn thiên nhiên đều được định vị rõ ràng trên cùng một bản đồ không gian biển, có cơ chế điều phối liên ngành chặt chẽ để triệt tiêu xung đột lợi ích.


Thứ hai, Na Uy chuyển hướng ngành thủy sản từ phụ thuộc đánh bắt tự nhiên sang nuôi biển công nghiệp công nghệ cao ngoài khơi xa. Hệ thống lồng bè thông minh chịu được sóng to gió lớn ở vùng biển Bắc, vận hành bằng trí tuệ nhân tạo, cảm biến giám sát môi trường tự động và công nghệ cho ăn khép kín đã giúp Na Uy trở thành nhà xuất khẩu cá hồi hàng đầu thế giới mà không làm tổn hại đến chất lượng nguồn nước ven bờ. 


Thứ ba, Na Uy xây dựng hệ thống dữ liệu biển số hóa, mở và minh bạch. Toàn bộ dữ liệu trắc đạc đáy biển, hải dương học, trữ lượng sinh vật và mật độ giao thông hàng hải được chia sẻ thống nhất giữa các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định chuẩn xác và tạo niềm tin tuyệt đối cho khu vực tư nhân khi rót vốn dài hạn vào các dự án biển.


Trung Quốc: Đổi mới sáng tạo, chuỗi đô thị ven biển và năng lực vươn ra biển sâu 

 

Cảng hàng hóa Khâm Châu, Khu tự trị Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Ảnh (tư liệu): THX/TTXVN

 

Những thập kỷ gần đây, Trung Quốc chứng kiến bước nhảy vọt về quy mô kinh tế biển, đưa tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực này chiếm vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc gia. Trọng tâm kinh lược biển của Trung Quốc thể hiện qua ba trục chính:

 

Thứ nhất, tập trung vốn và cơ chế để xây dựng các cụm cảng biển đẳng cấp quốc tế như Thượng Hải, Ninh Ba - Chu Sơn, Thiên Tân, Thanh Đảo. Các cảng này không vận hành đơn lẻ mà được tích hợp trong mô hình cụm cảng kết nối chặt chẽ với các khu kinh tế ven biển, hình thành chuỗi hành lang kinh tế và đại đô thị vịnh biển (như Vùng vịnh lớn Quảng Đông - Hồng Kông - Ma Cao). 


Thứ hai, Trung Quốc xác định khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Quốc gia này đầu tư rất lớn cho các tổ hợp nghiên cứu biển sâu, chế tạo các tàu thăm dò như “Giao Long”, “Phấn Đấu Giả” có khả năng chinh phục đáy rãnh vực sâu nhất hành tinh, đồng thời làm chủ công nghệ giàn khoan nước sâu tự nâng nhằm vươn ra các vùng biển xa. 


Thứ ba, sự hình thành các tập đoàn kinh tế biển quy mô lớn do nhà nước dẫn dắt đã tạo đòn bẩy cho toàn bộ chuỗi cung ứng hàng hải, từ cơ khí đóng tàu, dịch vụ hậu cần cảng biển, tài chính hàng hải cho tới nuôi trồng thủy sản công nghiệp xa bờ.


Nhật Bản: Chiến lược biển toàn diện gắn với an ninh và kinh tế tri thức biển

 

Là một đảo quốc khan hiếm tài nguyên khoáng sản lục địa, Nhật Bản sớm coi biển là không gian sống còn. Bài học của Nhật Bản nổi bật ở tính thể chế hóa cao và năng lực làm chủ khoa học công nghệ biển sâu.


Từ năm 2007, Nhật Bản đã ban hành Đạo luật Cơ bản về Đại dương (Basic Act on Ocean Policy), thành lập Ban Chỉ đạo Chính sách Đại dương toàn diện do trực tiếp Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, đảm bảo tính thống nhất tối cao, chấm dứt tình trạng chia cắt quản lý giữa các bộ, ngành như Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản, hay Bộ Môi trường.


Kế hoạch Cơ bản về Chính sách Đại dương của Nhật Bản được rà soát, cập nhật định kỳ 5 năm một lần để bắt kịp biến động địa chính trị và công nghệ toàn cầu. Nhật Bản dồn nguồn lực ngân sách khổng lồ cho Cơ quan Khoa học và Công nghệ Biển - Trái đất Nhật Bản (JAMSTEC) nhằm thăm dò khoáng sản dưới đáy biển sâu, phát triển thiết bị lặn không người lái, nghiên cứu nguồn năng lượng mới như mêtan hydrat (băng cháy) và triển khai điện gió ngoài khơi. Song song đó, Nhật Bản xây dựng mạng lưới cảng biển thông minh (Smart Port), tự động hóa logistics hàng hải và ban hành các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt bậc nhất đối với công nghiệp đóng tàu, thúc đẩy chuyển đổi sang nhiên liệu hydro và amoniac xanh.


Singapore: Mô hình tối ưu hóa không gian hữu hạn và kinh tế hàng hải giá trị siêu cao


Là một đảo quốc có diện tích đất đai và vùng biển vô cùng hạn hẹp, Singapore không thể phát triển kinh tế biển theo diện rộng hay dựa vào khai thác tài nguyên sinh vật và khoáng sản thô. Thay vào đó, quốc gia này chọn chiến lược định vị mình là trung tâm điều phối, dịch vụ và công nghệ hàng hải hàng đầu thế giới, dựa trên ba trụ cột xuyên suốt:


Thứ nhất, tối ưu hóa không gian qua dự án siêu cảng thông minh Tuas. Việc gom các bến nội đô về một đầu mối duy nhất ở phía Tây vừa gia tăng năng lực bốc dỡ, vừa giải phóng quỹ đất ven biển phát triển đô thị - tài chính và tránh xung đột sinh thái.

 

Thứ hai, đẩy mạnh số hóa và chuyển đổi xanh. Cảng Tuas vận hành tự động hóa cao độ bằng xe tự hành và thuật toán thời gian thực, đồng thời tiên phong cung ứng nhiên liệu sạch như LNG, metanol và amoniac theo chuẩn IMO.


Thứ ba
, kiến tạo hệ sinh thái dịch vụ giá trị cao. Singapore tận dụng ưu đãi thuế và uy tín của Trung tâm Trọng tài Quốc tế (SIAC) để thu hút các tập đoàn tài chính, bảo hiểm và giám định hàng hải hàng đầu thế giới.

 

Indonesia: Chiến lược kiến tạo kinh tế xanh và quản trị quần đảo phân tán

 

Làng chài Miangas thuộc quần đảo Talaud (tỉnh Bắc Sulawesi, Indonesia) . Ảnh: Đỗ Quyên/PV TTXVN tại Indonesia

 

Khác với Singapore, Indonesia là quốc gia vạn đảo lớn nhất hành tinh với hơn 17.000 hòn đảo và diện tích biển chiếm phần lớn lãnh thổ. Trọng tâm chiến lược biển của Indonesia (Indonesia Blue Economy Roadmap) tập trung vào bài toán bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, kiểm soát rủi ro môi trường và kết nối hạ tầng giao thông biển phân tán.


Thứ nhất, triển khai chương trình “Xa lộ trên biển” thuộc khuôn khổ Trục hàng hải toàn cầu (GMF). Việc trợ cấp các tuyến vận tải định kỳ kết nối các đảo xa phía Đông với trung tâm công nghiệp phía Tây giúp hạ chi phí logistics và thu hẹp khoảng cách phát triển.


Thứ hai, quản trị nghề cá theo hạn ngạch bền vững (MSY) tại 11 ngư trường, phân định ranh giới khai thác ven bờ cho ngư dân nhỏ lẻ, đồng thời bắt buộc giám sát vệ tinh (VMS) và xử lý nghiêm nạn khai thác IUU.


Thứ ba, mở rộng bảo tồn biển gắn với tài chính bền vững. Indonesia hướng tới mục tiêu bảo tồn 30% diện tích biển theo mô hình đồng quản lý với người dân, tận dụng phí môi trường từ du lịch sinh thái và phát hành trái phiếu xanh để phục hồi rạn san hô, rừng ngập mặn.


3. Những bài học kinh nghiệm quốc tế 
 

Việt Nam có lợi thế về giao thông đường biển, khi gần các tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực - đây là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành hàng hải, công nghiệp tàu thủy và logistics (Trong ảnh: Bốc, xếp hàng hóa tại cảng quốc tế Tân Cảng - Cái Mép)_Nguồn: baobariavungtau.com.vn

 

Tổng hợp thực tiễn thành công và cả những vấp váp từ các mô hình kinh tế biển trên thế giới, có thể rút ra bốn bài học căn bản có tính quy luật chung: 


Một là, quy hoạch không gian biển quốc gia là nền tảng tiên quyết. Không một quốc gia nào có thể phát triển kinh tế biển bền vững nếu thiếu một bản quy hoạch không gian biển tổng thể, đa ngành và dài hạn. Việc phân định rõ ràng các vùng cấm khai thác, vùng bảo tồn nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái, vùng ưu tiên nuôi trồng thủy sản, vùng khai thác công nghiệp, du lịch và năng lượng tái tạo sẽ hạn chế tối đa tình trạng xung đột không gian, chồng chéo chức năng giữa các ngành kinh tế ven biển. 


Hai là, làm chủ khoa học, công nghệ và cơ sở dữ liệu số về biển. Kinh tế biển trong kỷ nguyên số không thể tiếp tục dựa vào kinh nghiệm thủ công hay phương thức khai thác tài nguyên thô sơ. Sức mạnh của một quốc gia biển được đo lường trực tiếp bằng năng lực hiểu biết về đại dương, khả năng giải mã địa chất đáy biển, dự báo biến đổi khí hậu và làm chủ các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, viễn thám vệ tinh, tự động hóa lồng bè và vật liệu mới chống ăn mòn.


Ba là, tái cơ cấu hạ tầng cảng biển và hình thành các tập đoàn kinh tế biển mạnh. Thay vì phát triển dàn trải, cục bộ theo địa giới hành chính, các nước đều tập trung nguồn lực xây dựng các cụm cảng nước sâu quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh trung chuyển quốc tế, gắn kết trực tiếp với các trung tâm logistics và hành lang công nghiệp nội địa. Đồng thời, sự hiện diện của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế biển quy mô lớn giữ vai trò “đầu tàu” dẫn dắt chuỗi giá trị và kéo theo sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân bản địa. 


Bốn là, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và sinh kế xã hội của người dân. Người dân ven biển và ngư dân phải được định vị ở trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Phát triển kinh tế biển xanh không đồng nghĩa với việc tước đoạt không gian sinh tồn của ngư dân truyền thống, mà phải hỗ trợ họ chuyển đổi nghề nghiệp sang các dịch vụ du lịch cộng đồng, nuôi biển công nghệ cao hoặc tham gia trực tiếp vào mạng lưới bảo tồn, tuần tra bảo vệ môi trường biển. 


4. Hàm ý chính sách và định hướng chiến lược cho kinh tế biển Việt Nam

 

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

 

Việt Nam sở hữu dải bờ biển dài trên 3.260 km, hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ cùng vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km² tại Biển Đông - tuyến đường giao thương hàng hải huyết mạch của nhân loại. Kinh tế biển và ven biển đang đóng góp từ 50% đến 60% tổng sản lượng kinh tế cả nước. Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển theo tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW và đặc biệt là Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực tiễn quốc tế mang lại những gợi mở quan trọng cho Việt Nam: 

 

Trước hết, cần khẩn trương thực thi hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia và hoàn thiện thể chế quản lý biển hiện đại. Cần sớm khắc phục triệt để các rào cản, xung đột pháp lý giữa Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Thủy sản, Luật Đấu thầu hay Luật Quy hoạch. Quản lý biển phải chuyển từ tư duy quản lý đơn ngành, cắt khúc sang mô hình quản trị tích hợp liên ngành, tiếp cận đa chiều từ mặt nước đến đáy biển. Việc luật hóa minh bạch quyền sử dụng mặt biển, khu vực biển và quyền tiếp cận biển của cộng đồng sẽ tạo hành lang thông thoáng để khơi thông nguồn vốn xã hội hóa cho các dự án kinh tế biển dài hạn. 

 

Thứ hai, tổ chức lại hệ sinh thái cảng biển và mạng lưới logistics ven biển. Việt Nam cần khắc phục tình trạng chia cắt, đầu tư manh mún theo tư duy “tỉnh nào cũng muốn có cảng nước sâu”. Trọng tâm quốc gia phải dồn vào việc nâng cấp hai cụm cảng cửa ngõ quốc tế mang tính chiến lược là Hải Phòng (khu vực Lạch Huyện) và Thành phố Hồ Chí Minh - Bà Rịa Vũng Tàu (khu vực Cái Mép - Thị Vải), đồng thời từng bước nghiên cứu, triển khai cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. Các cảng này phải được kết nối đồng bộ bằng mạng lưới đường cao tốc, đường sắt chuyên dụng và hệ thống kho bãi logistics sau cảng, hình thành chuỗi hành lang kinh tế ven biển năng động.

 

Thứ ba, đột phá trong chuyển đổi mô hình ngành thủy sản và phát triển nuôi biển công nghệ cao. Thay vì tiếp tục tăng cường độ đánh bắt gần bờ vốn đã vượt ngưỡng chịu tải sinh thái, ngành thủy sản cần kiên quyết thực hiện các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cơ cấu lại đội tàu khai thác xa bờ có trách nhiệm gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đồng thời, cần học hỏi kinh nghiệm Na Uy để chuyển mạnh sang nuôi biển quy mô lớn ngoài khơi xa bằng vật liệu chịu bão HDPE, ứng dụng công nghệ số và liên kết chuỗi giá trị từ con giống, thức ăn đến chế biến sâu và tiêu thụ sản phẩm.

 

Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở dữ liệu số và làm chủ công nghệ biển. Cần đầu tư thỏa đáng cho các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành hàng hải, hải dương học để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ quan trắc viễn thám trong giám sát nguồn tài nguyên, dự báo thiên tai, kiểm soát ô nhiễm và lập bản đồ đáy biển có ý nghĩa quyết định đối với cả hai nhiệm vụ: phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. 

 

Cuối cùng, kiến tạo động lực phát triển mới từ năng lượng tái tạo ngoài khơi và du lịch biển đẳng cấp quốc tế. Với tiềm năng gió biển dồi dào, Việt Nam có cơ hội đón đầu làn sóng dịch chuyển năng lượng toàn cầu thông qua các dự án điện gió ngoài khơi gắn với sản xuất hydro xanh. Bên cạnh đó, du lịch biển cần nâng cao chất lượng trải nghiệm, phát triển các chuỗi đô thị sinh thái ven biển, bảo tồn các khu Ramsar và rạn san hô, tránh việc bê tông hóa bờ biển quá mức làm phá vỡ cảnh quan thiên nhiên và sinh kế bản địa. 

 

Phát triển kinh tế biển bền vững không phải là một giải pháp tình thế ngắn hạn, mà là chiến lược cốt lõi quyết định vị thế, tầm vóc và sự hưng thịnh lâu dài của dân tộc Việt Nam. Tiếp thu có chọn lọc các bài học thành công từ bạn bè quốc tế, đi đôi với phát huy tối đa ý chí tự lực, tự cường và sự đồng thuận của toàn xã hội, chính là chìa khóa vững chắc để đưa đất nước trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và thịnh vượng cùng đại dương./.

 

Nguyễn Thanh (Tổng hợp)

 

Danh mục tài liệu và nguồn tổng hợp tham khảo

 
Bản thiết kế Hàng hải Xanh Singapore 2050 (Maritime Singapore Green Blueprint 2050). Link: https://www.mpa.gov.sg/maritime-singapore/what-maritime-singapore-offers/green-shipping


PGS.TS Vũ Thanh Ca, “Phát triển kinh tế biển xanh - Định hướng cần thiết để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam”. Link tham khảo: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/825425/phat-trien-kinh-te-bien-xanh---dinh-huong-can-thiet-de-phat-trien-ben-vung--kinh-te-bien-viet-nam.aspx 


TS. Nguyễn Đình Đáp, Đoàn Thị Hồng Hạnh, “Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam dựa trên nền tảng kinh tế biển xanh”. Link tham khảo: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824310/phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-viet-nam-dua-tren-nen-tang-kinh-te-bien-xanh.aspx


TS. Lê Tuấn Đạt, ThS. Chu Thị Lê Anh, “Giải pháp phát triển kinh tế ven biển theo hướng kinh tế xanh tại Việt Nam”. Link tham khảo: https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/11/07/giai-phap-phat-trien-kinh-te-ven-bien-theo-huong-kinh-te-xanh-tai-viet-nam/ 


Bùi Thu Hiền, “Kinh tế biển Việt Nam trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng”. Link tham khảo: https://vass.gov.vn/bai-nghien-cuu-khxh/kinh-te-bien-viet-nam-trong-chuong-trinh-hanh-dong-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-thuc-hien-nghi-564779


Bích Hồng, “Quản trị hiện đại, khai thông nguồn lực từ biển, Cục Biển đảo Việt Nam”. Link tham khảo: https://www.vietnamplus.vn/quan-tri-hien-dai-khai-thong-nguon-luc-tu-bien-post1135978.vnp 


Đoàn Thị Thu Hương, “Nghiên cứu địa lý kinh tế biển - đảo trong kỷ nguyên AI: từng bước hiện thực hóa tầm nhìn “Việt Nam - quốc gia biển mạnh”. Link tham khảo: https://vass.gov.vn/bai-nghien-cuu-khxh/nghien-cuu-dia-ly-kinh-te-bien-dao-trong-ky-nguyen-ai-tung-buoc-hien-thuc-hoa-tam-nhin-viet-nam-quo-581430 


Kementerian PPN/Bappenas (Bộ Kế hoạch Phát triển Quốc gia Indonesia), Cổng thông tin và Văn kiện Lộ trình Kinh tế Xanh Indonesia 2023 - 2045 (Indonesia Blue Economy Roadmap). Link: https://blueeconomy.bappenas.go.id/


Kementerian Koordinator Bidang Kemaritiman dan Investasi (Kemenko Marves), Báo cáo khung chính sách Trục hàng hải toàn cầu và chương trình Tol Laut. Link: https://maritim.go.id/


Lê Minh, “Những kinh nghiệm quốc tế trong phát triển kinh tế biển”. Link: https://baotintuc.vn/nhung-kinh-nghiem-quoc-te-trong-phat-trien-kinh-te-bien-post1386196.html


Maritime and Port Authority of Singapore (MPA), Chiến lược Chuyển đổi Cảng thông minh và Siêu cảng Tuas. Link: https://www.mpa.gov.sg/maritime-singapore/what-maritime-singapore-offers/smart-port


Trần Nhàn, “Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế biển”. Link tham khảo: https://hssk.tapchicongsan.org.vn/kinh-nghiem-quoc-te-ve-phat-trien-kinh-te-bien-1038.html

 

Thu Phương, “Làm chủ công nghệ để trở thành quốc gia biển mạnh”. Link tham khảo: https://www.vietnamplus.vn/lam-chu-cong-nghe-de-tro-thanh-quoc-gia-bien-manh-post1133638.vnp


PGS.TSKH. Trần Nguyễn Tuyên, “Kinh nghiệm của Nhật Bản trong xây dựng và triển khai chiến lược biển”. Link tham khảo: https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/12/19/kinh-nghiem-cua-nhat-ban-trong-xay-dung-va-trien-khai-chien-luoc-bien/ 


The World Bank (Ngân hàng Thế giới), Báo cáo nghiên cứu cải cách kinh tế xanh lam tại Indonesia (Oceans for Prosperity: Reforms for a Blue Economy in Indonesia). Link: https://www.worldbank.org/en/country/indonesia/publication/oceans-for-prosperity-reforms-for-a-blue-economy-in-indonesia


United Nations Development Programme (UNDP Indonesia), Khung tài chính xanh lam của Cộng hòa Indonesia (Republic of Indonesia Blue Finance Framework). Link: https://www.undp.org/indonesia/publications/republic-indonesia-blue-finance-framework 


Urban Redevelopment Authority (URA), Quy hoạch tổng thể không gian bờ biển và định hướng Greater Southern Waterfront. Link: https://www.ura.gov.sg/Corporate/Planning/Master-Plan


Hùng Võ, “Việt Nam có nền tảng rất thuận lợi để trở thành một quốc gia biển mạnh” (Phỏng vấn đại diện UNDP về kinh nghiệm quốc tế và bài học từ Na Uy). Link tham khảo: https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-co-nen-tang-rat-thuan-loi-de-tro-thanh-mot-quoc-gia-bien-manh-post1137372.amp

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết