Thứ Hai, ngày 18 tháng 10 năm 2021

KIến nghị của Đề tài “Quản lý phát triển xã hội ở nước ta: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách”

Ngày phát hành: 23/06/2021 Lượt xem 2154

 

Đề tài “Quản lý phát triển xã hội ở nước ta: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách” Mã số: KX.04.15/16-20, do GS.TS Phạm Quang Minh làm Chủ nhiệm đã bảo vệ thành công. Dưới đây là một số kiến nghị của đề tài.

 

1. Các kiến nghị chung
  Xây dựng mô hình quản trị Nhà nước hiện đại:
Đẩy mạnh tinh giản bộ máy hành chính và cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng mô hình quản trị Nhà nước hiện đại. Xây dựng kế hoạch tổng thể và thực hiện nghiêm các quy định về tinh giảm bộ máy, sát nhập, giải thể...ở tất cả các cấp, các cơ quan của Nhà nước nhưng vẫn phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh tình trạng sát nhập cơ học. Áp dụng rộng rãi cơ chế thi tuyển các vị trí lãnh đạo, quản lý để thu hút nhân tài. Xây dựng, bổ sung thêm các chính sách mới để tạo sự đột phá trong tư duy quản lý, quản trị của các cơ quan Nhà nước như các chính sách hỗ trợ theo nhóm thay vì cá nhân. Tập trung ưu tiên cao vào việc nâng cao chất lượng bộ máy hành chính.
Chú trọng tới việc nâng cao chất lượng thể chế chính sách vì chất lượng của thể chế, chính sách pháp luật được coi là chìa khóa để phát triển trong giai đoạn CMCN 4.0. Phải phân định rõ vai trò của khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước trong việc tham gia vào quá trình PTXH. Cần phải loại bỏ các chi phí không chính thức đối với các doanh nghiệp thông qua việc đơn giản và công khai thủ tục hành chính, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm. Sự công khai và minh bạch về chính sách cũng sẽ giúp hạn chế tình trạng các chính sách có các quy định riêng có lợi cho một số nhóm lợi ích. Đồng thời cũng đảm bảo cho việc phát triển đất nước đi theo các mục tiêu thống nhất, không bị phân mảnh và bị chi phối bởi các yếu tố cục bộ, lợi ích nhóm. Các quy định về trách nhiệm giải trình hiện hành của các cơ quan quản lý Nhà nước phải được thực thi mạnh mẽ. Phải tăng cường vai trò của các giám sát bao gồm cả vai trò của người dân độc lập với các cơ quan hành pháp. Trước tiên là phải tăng cường hơn nữa vai trò của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhưng cần phải chú trọng nhiều hơn tới các tổ chức của cộng đồng.
Việc phân cấp và trao quyền cần phải được thực hiện mạnh mẽ hơn trong thời gian tới để giúp mô hình quản trị Nhà nước phù hợp với thực tiễn ở các địa phương. Mô hình tổ chức Nhà nước ở cấp Trung ương sẽ tập trung vào các nhiệm vụ xây dựng, điều phối chính sách khung và giám sát việc thực hiện các chính sách này. Trong khi đó, mô hình tổ chức Nhà nước ở cấp địa phương sẽ tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể ở từng địa phương trên nền tảng khung chính sách.
Ở cấp Trung ương việc thống nhất quyền lực, phạm vi quản lý, trách nhiệm thực hiện ở các cơ quan, các bộ ngành sẽ là cơ sở để giảm sự chồng chéo, tăng khả năng phối hợp, hiệu lực thực thi của chính sách. Riêng đối với Quốc hội, cần phải hướng tới mô hình hoạt động chuyên nghiệp, trong đó đặc biệt là tăng cường vai trò của các đại biểu chuyên trách thông qua bộ máy giúp việc chuyên nghiệp, có năng lực chuyên môn cao. Quốc hội cần có thêm các nguồn lực để thực hiện tốt hơn nữa quyền của cơ quan lập pháp và cơ quan giám sát tối cao đối với các hoạt động QLPTXH của các cơ quan Nhà nước.
Nhà nước phải sử dụng đúng các công cụ pháp luật để điều hành sự PTXH theo các mục tiêu đã đặt ra. Do đó, Nhà nước sẽ không can thiệp vào các hoạt động của thị trường mà phải tạo ra các nguyên tắc, các quy định để điều chỉnh hành vi của các bên có liên quan. Chính vì vậy, nguyên tắc điều hành của Nhà nước cần phải không can thiệp, chi phối vào các hoạt động của khu vực tư nhân. Để làm được điều này, các quy định pháp luật phải rõ ràng, minh bạch. Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước không được chồng chéo, mâu thuẫn với nhau. Việc thống nhất đầu mối trong thực hiện chính sách là rất quan trọng để giảm thiểu các rủi ro, các vấn đề cho khu vực tư nhân.
Phòng chống tham nhũng tiếp tục sẽ là một nhiệm vụ hàng đầu trong việc xây dựng mô hình quản trị Nhà nước hiện đại ở Việt Nam. Ảnh hưởng của tham nhũng không chỉ liên quan tới vấn đề hiệu quả quản lý nhà nước trong thực tiễn mà còn ảnh hưởng tới niềm tin của cả xã hội đối với hoạt động QLPTXH. Do đó, đấu tranh phòng chống tham nhũng sẽ là nhiệm vụ hàng đầu đối với Việt Nam trong thời gian tới để xây dựng được bộ máy quản trị Nhà nước hiện đại.

 


  Hiện đại hóa nền kinh tế
Cần phải thực hiện cải cách toàn diện đối với hệ thống các doanh nghiệp nhà nước. Hiện tại Nhà nước đang kiểm soát và chi phối hàng nghìn các doanh nghiệp ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế. Điều này vô tình đã ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện, khách quan của thị trường, làm giảm vai trò của khu vực tư nhân.
Tạo ra sự đột phá về chính sách đối với khu vực tư nhân. Trong đó, mục tiêu quan trọng hàng đầu là tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và an toàn. Ưu tiên hàng đầu đối với các khu vực tư nhân vẫn là việc cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện kinh doanh. Sự cạnh tranh công bằng về điều kiện, môi trường kinh doanh với các doanh nghiệp Nhà nước chính là giải pháp tốt nhất để phát triển mạnh mẽ khu vực tư nhân.
Tái cơ cấu nền kinh tế vẫn tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng để giúp Việt Nam hiện đại hóa nền kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp và một số các ngành công nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng lớn bởi các hiệp định FTA. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, việc tái cơ cấu trước tiên để thúc đẩy chuyển dịch LĐ trong nông nghiệp qua đó giúp nâng cao năng suất LĐ cho ngành nông nghiệp và cho cả nền kinh tế.
Kết nối toàn bộ thị trường tỏng nước với quốc tế là yếu tố rất quan trọng bao gồm cả hạ tầng thực tiễn và hạ tầng thông tin. Thương mại điện tử sẽ là lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế trong những năm tới. Do đó, cần phải có thêm nhiều chính sách để phát triển thương mại điện tử cho phù hợp với quy mô và tiềm năng của nền kinh tế.
Hiện đại hóa nền kinh tế không chỉ bắt nguồn từ các khu vực đô thị mà còn phải tiến hành rộng khắp, ở các các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Điều này sẽ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, khu vực cũng như giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong QLPTXH nói chung.


  Đảm bảo công bằng và thúc đẩy hòa nhập xã hội
Cần phải rà soát lại toàn bộ hệ thống chính sách hiện hành để xem xét, đánh giá hiệu quả của các chính sách hiện tại. Trong đó, nhóm các chính sách về đảm bảo công bằng xã hội (nhóm chính sách về giảm nghèo, ASXH, trợ giúp xã hội) vẫn phải được duy trì nhưng cần nâng cao hơn về chất lượng và hiệu quả thực thi.
Đối với các nhóm DTTS, hệ thống chính sách hỗ trợ được thiết kế cần phải tính đúng và tính đủ tới các yếu tố vốn là đặc trưng văn hóa, lối sống của từng nhóm DTTS. Đối với các nhóm DTTS, giáo dục và y tế sẽ tiếp tục là các chính sách nền tảng cần thực thi. Tuy nhiên, ở giai đoạn tới, các chính sách này không chỉ dừng lại ở mục tiêu cung cấp nền tảng cơ bản cho các nhóm DTTS mà còn phải biến các nền tảng này thành cơ hội cho các nhóm DTTS phát triển. Giáo dục không chỉ hướng tới các mục tiêu đầu vào mà còn phải giải quyết cả bài toán đầu ra. Chất lượng nhân lực của người DTTS phải được cải thiện thông qua nền tảng chăm sóc y tế tốt hơn, đặc biệt là về dinh dưỡng. Giáo dục cần đóng vai trò như một phương thức sinh kế bền vững cho người DTTS.
Việt Nam cũng phải chú trọng nhiều hơn đối với nhóm khuyết tật. Khác với các nhóm đối tượng khác, người khuyết tật của Việt Nam chưa nhận được nhiều các chính sách hỗ trợ để hòa nhập và phát triển. Các chính sách hiện hành của Việt Nam tập trung nhiều vào chăm sóc cho người khuyết tật hơn là tạo ra môi trường, cơ hội để người khuyết tật hòa nhập và cống hiến cho xã hội. Với khoảng 6 triệu người khuyết tật, Việt Nam cần biến thành nguồn lực cho sự phát triển thông qua các chính sách hòa nhập cho người khuyết tật trên tất cả các lĩnh vực khác nhau.
Cần phải đảm bảo vấn đề hòa nhập xã hội cho các nhóm LĐ ngoại tỉnh. Việt Nam đã và đang tháo gỡ các thủ tục hành chính có liên quan tới hộ khẩu và tiến tới xóa bỏ các ràng buộc giữa hộ khẩu và việc tiếp cận các chính sách xã hội cho người dân. Tuy nhiên, nếu không thực hiện đồng bộ và quyết liệt, hiệu quả thực thi của chính sách sẽ không đạt kỳ vọng. Khi đó, nhiều mục tiêu về QLPTXH có thể sẽ bị ảnh hưởng, nhất là giáo dục, y tế và nhiều các chính sách công khác liên quan tới dịch vụ cho người dân. Hàng triệu người dân sinh sống ở các khu vực đô thị lớn sẽ bị đặt ra ngoài các dịch vụ cơ bản thiết yếu và điều này có thể khiến cho khoảng cách xã hội, bất bình đẳng và phân tầng xã hội gia tăng.
Đảm bảo thực hiện tốt các chính sách về bình đẳng giới cũng là cơ sở để Việt Nam QLPTXH tốt hơn. Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh của Việt Nam đã ở mức báo động trong giai đoạn hiện tại và có thể còn tiếp tục tăng thêm trong thời gian tới nếu không thay đổi được các quan điểm về bình đẳng giới. Sự chênh lệch về giới tính của hiện tại sẽ dẫn tới những bất ổn về PTXH trong tương lai và đặt ra nhiều thách thức trong QLPTXH. Do đó, Việt Nam cần sớm cải thiện sự mất cân bằng này thông qua việc tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động PTXH, tham gia vào lãnh đạo, quản lý trong hệ thống các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước.
Các chính sách xã hội trong thời gian tới cũng phải có sự chuẩn bị sẵn sàng trước sự thay đổi về cơ cấu dân số của Việt Nam khi mà Việt Nam sẽ bước rất nhanh vào giai đoạn già hóa dân số. Vì thế, Việt Nam cần nhanh chóng mở rộng phạm vi bao phủ của hệ thống các chính sách về BHXH, ASXH cũng như hệ thống tiền lương đặc biệt là ở khu vực nông thôn và các nhóm LĐ phi chính thức. Việc đảm bảo sớm hoàn thành mục tiêu y tế toàn dân sẽ là cơ sở để Việt Nam giải quyết rất nhiều các thách thức trong QLPTXH có liên quan.
Tầng lớp trung lưu sẽ ngày càng đông đảo hơn và đóng vai trò quan trọng trong xu hướng phát triển KTXH của Việt Nam trong giai đoạn tới. Tầng lớp này chủ yếu là nhóm LĐ ở các khu vực chính thức, có trình độ, kỹ năng và ảnh hưởng nhất định trong xã hội. Do đó, việc xây dựng các chính sách về QLPTXH dựa trên xu hướng gia tăng về số lượng và ảnh hưởng của tầng lớp trung lưu này là rất quan trọng đối với sự PTXH nói chung của Việt Nam.


  Kiểm soát ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Việc khai thác tài nguyên tới mức cạn kiệt trong nhiều năm qua cho mục đích phát triển kinh tế phải được đánh giá lại một cách toàn diện để đưa ra các giải pháp phát triển tốt hơn, bền vững hơn. Ngành nông nghiệp của Việt Nam đã từng là hạt nhân của quá trình Đổi mới và phát triển đất nước giai đoạn trước năm 2000 nay đã không còn phù hợp để tiếp tục khai thác với các phương thức sản xuất cũ. Thay vào đó, nông nghiệp sẽ cần phải được tái cơ cấu lại để giảm bớt sự phụ thuộc vào tự nhiên, đặc biệt là khai thác tài nguyên đất quá mức. Đất đai bị khai thác quá mức, bị xói mòn, cộng với tình trạng chặt phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn và vấn đề phát triển các thủy điện nhỏ, khai thác khoáng sản bừa bãi...chính là nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng lũ lụt ngày càng nghiêm trọng ở miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Trong khi đó, hệ thống rừng ngập mặn, hệ thống thủy sản ven bờ cũng đã bị khai thác tới mức cạn kiệt.
Rác thải và ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước và môi trường không khi sẽ ngày càng gia tăng. Vì thế, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường phải được thực hiện một cách bài bản và nghiêm ngặt thông qua việc phát triển tốt hơn hệ thống giao thông công cộng, tiến hành kiểm soát khí thải, giảm thiểu tắc đường, bố trí lại giao thông...Việc di dời các nhà máy, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm khỏi khu vực nội thành cũng phải được thực hiện triệt để. Ở các khu vực đô thị lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh việc cải thiện chất lượng không khí phải được đặt lên hàng đầu trong những năm tới. Việc phủ xanh đô thị, tăng thêm không gian công cộng như công viên/hồ điều hòa bên cạnh các khu đô thị/khu chung cư là đặc biệt quan trọng.
Nguồn lực phân bổ cho biến đổi khí hậu phải được tăng cường. Đồng thời các giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu phải đồng bộ với các quy hoạch về phát triển KTXH tổng thể và quy hoạch ngành, nhất là ngành nông nghiệp.

 


  Thúc đẩy cách mạng công nghiệp 4.0
Để có nguồn lực tốt nhất cho việc thực thi hiệu quả của CMCN 4.0 yếu tố nhân lực phải được đặt lên hàng đầu. Với thị trường LĐ hiện tại, Việt Nam vẫn thiếu quá nhiều LĐ có trình độ cao. Điều này đòi hỏi các chính giáo dục sẽ phải có thay đổi đột phá, đặc biệt là ở khối dạy nghề. Trong nhiều năm qua, đào tạo kỹ năng nghề chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam, đặc biệt là vai trò của các doanh nghiệp. Sự thay đổi về công nghệ trước tiên và quan trọng nhất sẽ tới từ thị trường, tới từ các doanh nghiệp.
Việt Nam cũng sẽ cần rà soát lại chính sách phát triển các ngành công nghiệp trong giai đoạn tới đi kèm với đó là các chính sách ưu đãi. Sự thay đổi về mô hình thiết kế chính sách ưu đãi từ ưu đãi về thuế, đất đai sang ưu đãi về thủ tục hành chính, hỗ trợ xúc tiến thương mại, thị trường...cần được thực hiện sớm để phù hợp với xu hướng của CMCN 4.0 với nền tảng chính là công nghệ và Internet.
Cải cách thủ tục hành chính sẽ là bước đi chung vô cùng quan trọng để Việt Nam thúc đẩy được cách mạnh công nghiệp 4.0 mang lại hiệu quả trong QLPTXH. Cải cách hành chính một mặt chính là quá trình ứng dụng công nghệ vào QLPTXH theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch và tiết kiệm chi phí nhưng mặt khác cũng là để phá bỏ các rào cản không phù hợp để việc thực hiện cách mạnh công nghiệp 4.0 được thuận lợi. Sự xuất hiện của nhiều ngành mới, lĩnh vực mới sẽ là điều mà cách mạnh công nghiệp 4.0 mang lại.


2. Các kiến nghị về quản lý phát triển xã hội trong việc khắc phục tình trạng bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội ở nước ta

 
Thứ nhất, thống nhất nhận thức cao độ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội đối với việc thực hiện các mục tiêu về QLPTXH giải quyết vấn đề bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội. Trên cơ sở đó, quán triệt tới từng Đảng viên, các cơ quan liên quan về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các vấn đề này.


Thứ hai, cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm chính sách vĩ mô thông qua việc tinh giảm bộ máy và thu hút nhân tài. Cần tạo ra cơ chế để khuyến khích nhân tài trong việc đưa ra các giải pháp đột phá, các ý tưởng hay để giải quyết tình trạng bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội.


Thứ ba, tiếp tục tăng cường tìm kiếm, huy động, phân bổ thêm các nguồn lực để tập trung giải quyết các vấn đề giảm nghèo, giảm bất bình đẳng và phân tầng xã hội…Cần phải tuyệt đối tránh tình trạng ban hành hệ thống các chính sách vượt quá khả năng đáp ứng về nguồn lực của Nhà nước hoặc ban hành các chính sách mang tính cào bằng, dàn trải, chia đều…dẫn tới phân tán về nguồn lực, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo.


Thứ tư, xây dựng kế hoạch tổng hể về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội. Đối với từng lĩnh vực phải có các giải pháp tương ứng đi kèm với các bộ chỉ số theo dõi, đánh giá để đảm bảo việc thực hiện đúng các mục tiêu về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội.


Thứ năm, phải đẩy mạnh tối đa việc lồng ghép các mục tiêu giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội vào các mục tiêu phát triển KTXH trung và dài hạn. Cần phải thấy rằng, việc phát triển về kinh tế không thuần túy chỉ nhằm mục tiêu ở phạm vi kinh tế mà còn gắn với giải quyết các vấn đề xã hội. Đi kèm với việc lồng ghép chính sách là quyết liệt đẩy mạnh việc rà soát hệ thống chính sách có liên quan để giảm sự chồng chéo.


Thứ sáu, áp dụng các phương pháp lập kế hoạch phát triển theo mô hình từ dưới lên để các kế hoạch, chương trình phát triển được ban hành có thể sát nhất với thực tiễn, để tăng tính hiệu quả, tính phù hợp của chính sách. Việc lập kế hoạch từ dưới lên nếu được làm chặt chẽ, khoa học chắc chắn sẽ giúp giải quyết tốt hơn, nhanh hơn các vấn đề về giảm nghèo, bất bình đẳng, phân tầng xã hội với những nguồn lực ít hơn. Nguyên tắc phân cấp và trao quyền và cần áp dụng rộng rãi trong QLPTXH giai đoạn tới khi các cơ quan ở Trung ương chỉ đóng vai trò ban hành chính sách khung và thực hiện theo dõi, giám sát trong khi các cơ quan ở địa phương đóng vai trò là các đơn vị xây dựng, thực hiện các chính sách cụ thể phù hợp với thực tiễn của từng địa phương.


Thứ bảy, Nhà nước cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm chính sách vĩ mô thông qua việc tinh giảm bộ máy và thu hút nhân tài. Cần tạo ra cơ chế để khuyến khích nhân tài trong việc đưa ra các giải pháp đột phá, các ý tưởng hay để giải quyết tình trạng bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội. Ví dụ như cho phép thí điểm áp dụng các cơ chế chính sách đặc thù để giảm nghèo trong một lĩnh vực cụ thể hay một địa phương, một nhóm dân tộc cụ thể. Điều này sẽ là cơ sở để giúp Nhà nước có thể đánh giá được hiệu quả của chính sách và giúp điều chỉnh linh hoạt hệ thống chính sách có liên quan.


Thứ tám, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục mở rộng hành lang pháp lý để phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức có liên quan trong các vấn đề về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức có liên quan cần tăng cường sự phối hợp lẫn nhau và phối hợp với các cấp Ủy đảng, chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách để giải quyết các vấn đề về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội.


Thứ chín, cần coi người dân ở đúng vị thế của một chủ thể trong QLPTXH về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội. Nhận thức đầy đủ về vị thế của người dân sẽ giúp cho việc thiết kế và thực thi chính sách không bị lệch về hướng hỗ trợ cho không từ đó tạo tâm lý ỷ lại của người dân. Huy động sự tham gia của người dân, nhất là nhóm DTTS trong thực hiện chính sahcs là một giải pháp quan trọng để giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội'


3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội trong việc bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người; giải quyết các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

 
Thứ nhất, phải đảm bảo nguyên tắc công bằng trong việc thực thi các chính sách về ASXH, BHXH. Trong đó, đối với các nhóm đối tượng yếu thế, các nhóm đặc thù cần phải ban hành các chính sách hỗ trợ riêng để có đủ năng lực, điều kiện tham gia vào hệ thống chính sách chung.


Thứ hai, phải đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu BHXH, BHYT toàn dân. Chính sách BHXH phải trở thành trụ cột của chính sách ASXH qua đó tạo ra những yếu tố nền tảng quan trọng để nâng đỡ, hỗ trợ cho các cá nhân khi gặp các rủi ro trong cuộc sống. Việc thực hiện được chính sách BHXH toàn dân sẽ mang tới cho người dân những công cụ, phương án bảo vệ toàn diện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, qua đó góp phần đảm bảo tốt về các yếu tố an ninh con người, giảm thiểu rủi ro xã hội. Phải đa dạng hóa được các loại hình bảo hiểm để người dân dù ở hoàn cảnh nào cũng có thể tiếp cận dễ dàng được với các chính sách. Có thể thiết kế thành các gói bảo hiểm với mức độ dịch vụ từ cơ bản tới nâng cao để đáp ứng tối đa nhu cầu của người dân.


Thứ ba, cần tạo ra cơ chế, chính sách đột phá trong việc ASXH, an ninh con người; giải quyết các rủi ro, mâu thuẫn, XĐXH và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân thông qua huy động sự tham gia của khu vực ngoài Nhà nước vào cung cấp các dịch vụ có liên quan. Hệ thống chính sách hiện tại vẫn còn quá nhiều các rào cản để khu vực tư nhân tham gia sâu vào các lĩnh vực này. Cải cách thủ tục hành chính và minh bạch về thông tin là cơ sở để tạo ra những sự thay đổi cần thiết này. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực này sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ qua đó giúp cải thiện hệ thống ASXH và cải thiện đời sống cho người dân.


Thứ tư, cần tăng cường các nguồn lực đầu tư cho các chính sách về ASXH, an ninh con người; giải quyết các rủi ro, mâu thuẫn, XĐXH. Các hỗ trợ của hệ thống chính sách ASXH tuy nhiều nhưng còn thấp, phân tán và chưa đáp ứng được nhu cầu cho người dân. Hệ thống kiểm soát các vấn đề liên quan tới vệ sinh an toàn thực phẩm, BVMT, các vấn đề kiểm soát dịch bệnh, kiểm soát rủi ro, mâu thuẫn, XĐXH còn chưa được đầu tư tương xứng.


Thứ năm, đối với các nhóm chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm, chính sách BVMT tiến hành đa dạng hóa các chính sách kiểm soát, tăng mức phạt, hình phạt và áp dụng nhiều chế tài, biện pháp theo dõi, giám sát đối với các vấn đề này. Đối với các chế tài xử lý vi phạm phải tiến tới nâng lên các mức phạt có tính răn đe cao đối với các hành vi này. Đồng thời phải có biện pháp theo dõi, giám sát để tránh tái phạm.


Thứ sáu, cần nâng cao toàn diện năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ Nhà nước thực thi các chính sách này. Trong một số các lĩnh vực, nhất là về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, BVMT cần tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ. Đi kèm với đó là hệ thống trang thiết bị máy móc chuyên dụng phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước có liên quan. Đồng thời, cũng cần thiết lập các cơ chế hỗ trợ giám sát từ cộng đồng, các tổ chức xã hội để kịp thời thông tin cho các cơ quan quản lý Nhà nước với các vấn đề vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường.


Thứ bảy, phải xác định rõ quan điểm PTBV trong thực hiện các chính sách QLPTXH. Theo đó, ưu tiên về phát triển kinh tế không đồng nghĩa với việc đánh đổi các giá trị về môi trường và đời sống xã hội. Các quan điểm này phải được nhấn mạnh là quan điểm ưu tiên trong phát triển của Đảng và Nhà nước. Việc thực hiện tốt điều này sẽ là cơ sở để tránh khỏi nhiều vấn đề về rủi ro, xung độ xã hội trong thời gian tới.


Thứ tám, phải tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức có liên quan để huy động tối đa sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức có liên quan vào các lĩnh vực này. Cần rà soát lại khung pháp lý hiện hành để xác định chức năng nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức xã hội khác nhằm tránh sự trùng lặp với các cơ quan quản lý Nhà nước khi thực hiện các hoạt động về QLPTXH trong các lĩnh vực nói trên. Cần nâng cao năng lực cho Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan có liên quan khác là cần thiết để các đơn vị này đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ giám sát hoạt động QLPTXH của Nhà nước về ASXH, an ninh con người; giải quyết các rủi ro, mâu thuẫn, XĐXH và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.


Thứ chín, công khai, minh bạch các thông tin liên quan cho người dân phải là những vấn đề cần được ưu tiên hàng đầu. Các cơ quan Nhà nước sẽ phải áp dụng rộng rãi các nền tảng khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại để tăng cường sự tương tác đối với người dân. Nhà nước phải cung cấp các thông tin đa dạng, nhiều chiều, trên nhiều hình thức nền tảng khác nhau, đặc biệt là trên môi trường Internet để người dân có thể chủ động trong việc giám sát, thực thi các chính sách có liên quan. Nhà nước sẽ cần xây dựng các cơ chế tiếp nhận, xử lý, phản hồi thông tin thật rõ ràng với các chế tài cụ thể để qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với ý kiến giám sát, đánh giá của nhân dân.


4. Đề xuất mô hình quản lý phát triển xã hội 

 
1). Hướng tới nâng cao chất lượng thể chế
Từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đã được đề cập đến, trên bình diện thể chế và quản lý phát triển xã hội, những đổi mới cần được tiếp tục thực hiện nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, cụ thể như sau:
Khi bàn đến thể chế, ba đặc điểm cơ bản cần được đề cập đến là: Thứ nhất, thể chế được tạo nên bởi con người. Thứ hai, thể chế điều chỉnh/giới hạn hành vi con người. Thứ ba, thể chế tạo ra động cơ, động lực cho con người . Trên thực tế, sự đa dạng về thể chế tạo nên sự đa dạng về hệ quả kinh tế và xã hội. Một mình chứng cụ thể cho điều này trên thế giới là sự khác nhau về thể chế giữa Hàn Quốc và Triều Tiên đã mang lại những sự khác biệt về kinh tế và xã hội giữa hai quốc gia này . Sự phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi các quốc gia cần đổi mới thế chế và quản lý xã hội. Tuy nhiên, thực tế đổi mới thể chế của nhiều quốc gia trên thế giới mang đến sự thành công. Trong khi đó, đổi mới thể chế ở nhiều quốc gia lại tạo ra hệ quả không như mong muốn . Trên cơ sở phân tích một số trường hợp cụ thể, các nước cụ thể, trên thế giới, một số bài học được đưa ra đó là: Trước hết, những đổi mới/cải cách thể chế nếu chỉ diễn ra riêng lẻ, với những chi tiết nhỏ lẻ thì chỉ có thể tạo ra những tác động, hiệu quả nhỏ . Thứ hai, nếu chỉ đổi mới thể chế kinh tế mà không đổi mới thể chế chính trị thì không tạo nên sự cân bằng về mặt thể chế. Vì vậy, kết quả mang lại của đổi mới cũng cũng hạn chế . Như vậy, bài học có thể đề cập đến ở đây từ nhiều quốc gia trên thế giới là đổi mới phải mang tính toàn diện, tổng thể và đổi mới phải đồng bộ, đổi mới cả về thể chế kinh tế lẫn thể chế chính trị để tạo nên sự cân bằng, hài hòa về mặt thể chế. Từ đó, việc đổi mới thể chế mới mang lại hiệu quả trên thực tế và trên phạm vi rộng. 
Đối với bối cảnh Việt Nam, thực tế hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã có những đổi mới sâu rộng về thể chế kinh tế. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ ra rằng: “Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tiếp tục được hoàn thiện. Vai trò, hiệu quả, sức cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế được nâng lên. Môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và thông thoáng hơn” . Về thể chế chính trị, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ ra rằng: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ” . Như vậy, đổi mới thể chế chính trị chưa cân bằng với đổi mới thể chế kinh tế. Từ những bài học của nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề quan trọng đặt ra là cần tiếp tục đổi mới thể chế chính trị để tạo nên sự cân bằng trong đổi mới thể chế ở Việt Nam. Đó là cơ sở quan trọng cho quản lý phát triển xã hội, mang lại sự phát triển nhanh và bền vững cho Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là những điểm nào cần chú trọng trong đổi mới thể chế chính trị ở Việt Nam nhằm góp phần quản lý phát triển xã hội. Thực tế ở các nước ở châu Á đã chỉ ra rằng những quốc gia thành công trong phát triển kinh tế và xã hội có sự khác nhau về kiểu hệ thống chính trị. Như vậy, điểm cần nhấn mạnh ở đây là sự thành công của các quốc gia này không phụ thuộc kiểu/loại hệ thống chính trị nhưng lại phụ thuộc vào sự quản trị tốt của quốc gia đó . Nói cách khác, các quốc gia thành công có thể không cùng kiểu/loại thể chế. Nhưng, thành công của các quốc gia lại phụ thuộc vào chất lượng của thể chế. 
Vì vậy, đối mới thể chế chính trị ở Việt Nam góp phần quản lý phát triển xã hội phải chú trọng đến nâng cao chất lượng của thể chế. Việc nâng cao chất lượng thể chế nên tập trung vào ba điểm:
Thứ nhất là nâng cao trách nhiệm giải trình của thể chế (Accountability), tức là trách nhiệm và ứng xử của thể chế đối với nhu cầu của công dân. Điều này nhấn mạnh rằng cấu trúc các cơ quan nhà nước phải đủ linh hoạt để thiết kế và thực hiện có hiệu quả các chương trình, các dự án. Thêm nữa, trách nhiệm giải trình của thể chế còn thể hiện qua việc thiết lập hệ thống các tiêu chí để đo lường sự thi hành nhiệm vụ của những người làm việc trong các cơ quan nhà nước và cơ chế để đảm bảo những tiêu chí đó được thực hiện. Ngoài ra, trách nhiệm giải trình của thể chế còn phản ánh cơ chế đánh giá sự thực thi nhiệm vụ của thiết chế . 
Thứ hai là minh bạch (Transparency). Minh bạch đề cập đến sự sẵn có thông tin dành cho công chúng và sự rõ ràng của các quy định, quyết định của các cơ quan nhà nước. Minh bạch giúp giảm bớt sự thiếu chắc chắn và tham nhũng của những người làm việc trong hệ thống các cơ quan nhà nước.
Thứ ba là sự dự báo được hay tính nhất quán trong việc áp dụng chính sách, luật pháp (Predictability). Điều này được phản ánh qua sự đầy đủ của luật, quy định, chính sách và sự công bằng cũng như nhất quán trong việc áp dụng các luật, quy định, chính sách2. Những cơ sở này giúp mọi người biết được/dự đoán được những cách thức hành động, quyết định và kết quả, hệ quả của các hành động, quyết định của những người có thẩm quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước. Đây là ba điểm quan trọng trong đổi mới chất lượng thể chế ở Việt Nam để nâng cao hiệu quả của thể chế trong quản lý phát triển xã hội đảm bảo đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Chuyển từ quản lý phát triển xã hội sang quản trị phát triển xã hội 

Trước đổi mới, chúng ta đã từng áp dụng chính sách quản lý phát triển xã hội gắn với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, trong đó Nhà nước nắm từ quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyền phân phối kết quả sản xuất đến quyền định đoạt cơ hội phát triển của mọi thành viên trong xã hội, với hy vọng đem lại một xã hội công bằng, bình đẳng, trật tự, kỷ cương, xóa bỏ mọi áp bức bất công. Nhưng thực tiễn đã xác nhận sự bất cập của mô hình đó, trước hết ở chỗ nó cản trở sự tăng trưởng kinh tế, rồi rốt cuộc Nhà nước không có nguồn lực kinh tế để giải quyết các mục tiêu xã hội. Hạn chế đó đã thúc bách Đảng phải đổi mới quan niệm phát triển xã hội và quản lý xã hội gắn với thể chế kinh tế thị trường. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới đã xác nhận tính đúng đắn quyết định đổi mới của Đảng và nhờ đó đã giải quyết thành công nhiều mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt thành công thì thực tiễn quản lý phát triển xã hội trong thời gian qua cũng đặt ra những tình huống mới mà nếu không kịp thời xử lý sẽ dẫn đến những hệ lụy khó lường. 
Từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đã được đề cập đến như thế, trên bình diện cơ chế, chúng ta cần chuyển từ cơ chế quản lý phát triển xã hội sang cơ chế quản trị xã hội nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, đảm bảo an sinh xã hội để đất nước phát triển nhanh và bền vững, cụ thể như sau:
Khái niệm quản trị được dùng để chỉ sự hợp tác/phối hợp của nhiều hình thức tương tác công - tư khác nhau. Đó là quá trình kết hợp nhiều chủ thể khác nhau dưới hình thức quản lý mang tính mạng lưới. Quản trị thường được đề cập trong những bối cảnh mà ở đó Nhà nước có thể không giữ vị trí đặc biệt/chi phối. Quản trị nhấn mạnh đến việc chuyển đổi/giảm bớt quyền lực mang tính thể chế truyền thống của Chính phủ theo hai hướng: thứ nhất là chuyển lên cho các thể chế/chủ thể xuyên quốc gia và thể chế/chủ thể vùng/hay khu vực (ví dụ như ASEAN) và thứ hai là chuyển bớt cho các chủ thể khác như doanh nghiệp, công đồng, cá nhân. Nhìn một cách tổng thể, quản trị xã hội là quá trình chính phủ, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các cá nhân là những đối tác hợp tác bình đẳng để điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội (Social affairs) .
Trong quá trình quản trị, quyền lực của chính phủ, thị trường và xã hội cùng tồn tại . Tuy nhiên, quyền lực của chính phủ, thị trường và xã hội không cân bằng. Vì thế, ba con đường của quản trị xã hội có thể là: Thứ nhất, thị trường là trung tâm, con đường này nhấn mạnh đến cơ chế cạnh tranh, quản lý doanh nghiệp, công nghệ. Thứ hai, Nhà nước là trung tâm, con đường này nhấn mạnh đến tương tác giữa các tổ chức công và vai trò quan trọng của Nhà nước. Thứ ba, xã hội là trung tâm, con đường này nhấn mạnh đến sự tương tác giữa các tổ chức công và xã hội với quan điểm việc ra quyết định nên từ dưới lên và phản ánh ý kiến của đại chúng/công chúng . 
Dưới một góc nhìn khác, quản lý phát triển xã hội có mục tiêu đảm bảo rằng các chính sách xã hội và các chương trình giải quyết các vấn đề xã hội then chốt một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị, từ đó thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng . Quản lý trong lĩnh vực quản lý phát triển xã hội bao gồm các quá trình phân tích/xác định vấn đề, lên kế hoạch, thiết kế và lập chương trình cũng như các quá trình chính trị và quan hệ để đối thoại, huy động, thảo luận, xây dựng sự đồng thuận và đưa ra quyết định. Quản lý trong lĩnh vực quản lý phát triển xã hội bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn đối với việc triển khai các chiến lược và các hành động theo quy trình, xây dựng thông tin liên quan/thích đáng, tiếp nhận phản hồi, điều chỉnh và thậm chí thiết kế lại chiến lược. Quản lý trong lĩnh vực quản lý phát triển xã hội bao gồm một tiếp cận tích hợp liên kết với các quá trình khác nhau gắn liền với việc tạo dựng các giá trị . 
Kế thừa và chắt lọc những quan điểm lý luận đa chiều ở trên, chúng tôi cho rắng: quản lý phát triển xã hội chính là quá trình thực hiện các chính sách xã hội và các chương trình nhằm giải quyết các vấn đề xã hội then chốt một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị, từ đó thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng. Về mặt thực tiễn, quản lý phát triển xã hội là quá trình bao gồm xác định/phân tích vấn đề xã hội cần giải quyết, lên kế hoạch, thiết kế và lập chương trình, huy động nguồn lực, đối thoại, thảo luận, xây dựng sự đồng thuận và đưa ra quyết định, triển khai các chiến lược và các hành động theo quy trình, xây dựng thông tin liên quan/thích đáng, tiếp nhận phản hồi, điều chỉnh và thiết kế lại chiến lược thực hiện chính sách và chương trình nếu cần thiết. Như vậy, quản lý phát triển xã hội nhấn mạnh đến việc chủ thể giải quyết các vấn đề xã hội một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị, từ đó thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng. 
Trong khi đó, quản trị xã hội là quá trình chính phủ, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các cá nhân là những đối tác hợp tác bình đẳng để điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội. Như vậy, quản trị xã hội hay quản trị phát triển xã hội là một bước phát triển so với quản lý phát triển xã hội. Từ việc phân tích, trình bày và bàn luận các quan điểm về quản trị và quản lý phát triển xã hội ở trên có thể quan niệm: Quản lý phát triển xã hội là quá trình chủ thể quản lý thực hiện các chương trình, chính sách để giải quyết các vấn đề xã hội một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị; từ đó thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng. Quản trị xã hội là quá trình hợp tác của các chủ thể bao gồm chính phủ, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các cá nhân để điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị để thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng.
Dưới góc nhìn quản lý phát triển xã hội và quản trị phát triển xã hội thì thực tiễn ở Việt Nam chúng ta chủ yếu chỉ dừng lại ở quản lý phát triển xã hội chứ chưa rõ nét quản trị phát triển xã hội. Cụ thể là vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể trong quản lý‎ phát triển xã hội được thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, các chủ trương, đường lối, chính sách, luật pháp luôn thể hiện rõ vai trò của Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức đoàn thể trong quản l‎ý xã hội trên các phương diện giải quyết bất bình đẳng, phân cực giàu nghèo, phân tầng xã hội, giải quyết mâu thuẫn xung đột xã hội, giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an ninh con người, an sinh xã hội. Thực tế thực hiện các chủ trương, chính sách ở các địa phương cũng thể hiện rõ vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể trong quản lý phát triển xã hội trên những phương diện này. Tuy nhiên, hiệu quả của việc giải quyết các vấn đề xã hội mới chỉ ở một chừng mực nhất định. Thêm nữa, việc hợp tác giữa chính quyền, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các cá nhân để điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị để thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng vẫn còn những hạn chế. Nói cách khác, vấn đề đặt ra là phải định hướng chuyển từ quản lý phát triển xã hội sang quản trị phát triển xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội một cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực và có giá trị nhằm thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, công bằng.


2) Đề xuất mô hình quản trị phát triển xã hội dựa trên ba trụ cột: Nhà nước - thị trường - các tổ chức xã hội và cá nhân
Từ lập luận được trình bày ở trên là cần chuyển từ quản lý phát triển xã hội sang quản trị phát triển xã hội - đó là quá trình chính phủ, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các cá nhân là những đối tác hợp tác bình đẳng để điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội, chúng tôi cho rằng trong thời gian tới, quản trị phát triển xã hội ở Việt Nam nên là kiểu quản trị dựa trên mối quan hệ của ba trụ cột, hay ba hợp phần: Nhà nước - Thị trường - các tổ chức xã hội và cá nhân.                          
Cơ sở của mô hình này cụ thể như sau:
Thứ nhất, mô hình Nhà nước - Thị trường - các Tổ chức xã hội và Cá nhân trong quản lý phát triển xã hội giúp cho việc xây dựng các chính sách xã hội và điều chỉnh các chính sách xã hội một cách tối ưu nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Thực tế là các vấn đề xã hội nảy sinh, biến đổi, phát triển và chuyển hóa bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, việc đề xuất các chính sách xã hội và điều chỉnh các chính sách xã hội phải bắt đầu từ các vấn đề xã hội trong thực tiễn. Các vấn đề xã hội trong thực tiễn liên quan đến cá nhân, tổ chức xã hội và cả thị trường. Vì vậy, quá trình xác định các vấn đề xã hội cần giải quyết, đề xuất các chính sách để giải quyết các vấn đề xã hội và điều chỉnh các chính sách xã hội cần dựa trên cơ chế phối hợp giữa Nhà nước - thị trường - các tổ chức xã hội và cá nhân. Vì vậy, mô hình quản trị phát triển xã hội dựa trên cơ chế phối hợp ba thành phần này là thực sự cần thiết.


Thứ hai, mô hình quản trị phát triển dựa trên ba trụ cột Nhà nước - thị trường - các tổ chức xã hội và cá nhân tránh được kiểu quản lý phát triển xã hội đã có từ trước đến nay, trong đó Nhà nước gần như giữ vai trò quyết định trong việc cung cấp các nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội. Nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực cơ sở vật chất cho việc giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu đến từ Nhà nước. Trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội mà nguồn lực chủ yếu chỉ đến từ Nhà nước thì thực tế đặt ra là chúng ta thiếu nguồn lực để giải quyết thỏa đáng các vấn đề xã hội. Vì vậy, với mô hình Nhà nước - Thị trường - các Tổ chức xã hội và Cá nhân, nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội không chỉ đến từ Nhà nước mà còn đến từ thị trường, trong đó thị trường bao hàm các doanh nghiệp sẽ tham gia cung cấp các nguồn lực thông qua những cơ chế khác nhau dựa trên quy luật của thị trường, đồng thời nguồn lực cũng đến từ các cá nhân và các tổ chức xã hội. Nhiều tổ chức xã hội khác nhau cùng với các cá nhân trong cộng đồng cùng tham gia cung cấp các nguồn lực: con người, tài chính, cơ sở vật chất cho việc giải quyết các vấn đề xã hội. Cơ chế này sẽ tối đa hóa được các nguồn lực của xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Đồng thời mô hình này cũng tránh được tiếp cận cực đoan ở thái cực khác là Nhà nước cắt đi phần lớn nguồn lực cho việc giải quyết các vấn đề xã hội và để cho thị trường, tổ chức xã hội và cá nhân tự vận động các nguồn lực xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội. Nếu đi theo định hướng này sẽ ảnh hưởng đến tính nhân văn, nhân bản, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.


Thứ ba, mô hình Nhà nước - thị trường - các tổ chức xã hội và cá nhân trong quản lý phát triển xã hội còn giúp cho việc tổ chức thực hiện các chính sách để giải quyết các vấn đề xã hội một cách hiệu quả. Thực tiễn đặt ra là trong quá trình tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, nếu chỉ mỗi mình Nhà nước đứng ra thực hiện hết các khâu, các công đoạn, các công việc trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội thì việc thất thoát các nguồn lực tài chính, nguồn lực cơ sở vật chất dành cho việc giải quyết các vấn đề xã hội là rất lớn. Thêm nữa, việc làm trái để trục lợi các nguồn lực dành cho việc giải quyết các vấn đề xã hội cũng rất đáng quan tâm. Nhiều dữ liệu, sự kiện trong thực tiễn minh chứng cho điều này. Nguyên nhân của thực tiễn này là thiếu sự giám sát hiệu quả quá trình các cơ quan nhà nước liên quan tổ chức thực hiện chính sách xã hội. Vì vậy, với mô hình Nhà nước - thị trường - các tổ chức xã hội và cá nhân trong quản lý phát triển xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân trên quy luật thị trường sẽ điều chỉnh, giám sát hiệu quả hơn quá trình tổ chức thực hiện các chính sách xã hội. Điều này tránh được sự trục lợi, lãng phí, thất thoát, tham nhũng các nguồn lực dành cho việc giải quyết các vấn đề xã hội.


Thứ tư, câu hỏi đặt ra là với mô hình này là nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng chính sách, cung cấp nguồn lực, tổ chức thực hiện chính sách xã hội; hay quá trình giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu dựa trên cơ chế thị trường? hay là chủ yếu để cá nhân và các tổ chức xã hội tự giải quyết các vấn đề xã hội? Theo quan điểm của chúng tôi, cơ chế của mối quan hệ ba bên hay ba trụ cột này nên là cơ chế linh hoạt, trong đó Nhà nước phải giữ vai trò định hướng đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội để đảm bảo giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tùy từng vấn đề xã hội cụ thể mà nên để cho quy luật thị trường dẫn dắt, hay dựa trên vai trò chủ thể của các tổ chức xã hội và cá nhân, hay dựa trên vai trò chủ đạo của Nhà nước, hoặc là phối hợp bình đẳng giữa các bên .
 
KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU Ở GIAI ĐOẠN TIẾP THEO
Trên cơ sở nghiên cứu của Đề tài, chúng tôi xin đưa ra một số các kiến nghị đối với các vấn đề cần nghiên cứu có liên quan ở giai đoạn tiếp theo như sau:
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý phát triển xã hội của nước ta trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
Thứ hai, nghiên cứu, xác định các thách thức mới và giải pháp về quản lý phát triển xã hội trong việc khắc phục tình trạng bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội ở nước ta
Thứ ba, nghiên cứu, xác định các thách thức mới và giải pháp về quản lý phát triển xã hội trong vấn đề an sinh xã hội, an ninh con người; giải quyết các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Thứ tư, nghiên cứu, xác định mô hình tổng thể về quản lý phát triển xã hội nước ta giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn 2045.
Thứ năm, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đột phá trong quản lý phát triển xã hội nước ta gắn với các yếu tố đặc thù.
Thứ sáu, nghiên cứu, chọn lọc, đề xuất các mô hình/giải pháp quản lý phát triển xã hội hiện đại của các quốc gia trên thế giới phù hợp với Việt Nam.

 

PV (nguồn: Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.04.15/16-20 )



Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết