Thứ Sáu, ngày 07 tháng 08 năm 2020

Một số đề xuất của đề tài "Mối quan hệ giữa phát triển LLSX và hoàn thiện QHSX ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế"

Ngày phát hành: 13/07/2020 Lượt xem 141

Đề tài "Mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở Việt Nam  trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế". Mã số KX.04.08/16-20, do PGS.TS Ngô Tuấn Nghĩa làm Chủ nhiệm đã bảo vệ thành công xuất sắc. Dưới đây là một số đề xuất về các chính sách của Đề tài.

 

1. Đề xuất nhóm chính sách thứ nhất

Góp phần nhằm phát triển các thành tố của lực lượng sản xuất. Cụ thể:

1)  Chính sách về phát triển nhân lực, trọng tâm là chính sách giáo dục sư phạm trong bối cảnh hội nhập.

(1) Xây dựng mới các chính sách về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp trình độ giáo dục trong bối cảnh hội nhập.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cho tất cả các cấp học là nhiệm vụ cần được coi là khâu đột phá để tái định dạng trình độ nền giáo dục. Cần coi việc đào tạo những nhà giáo là công việc gốc của nền giáo dục. Muốn thực hiện được công việc gốc này cần xây dựng chính sách mới để hệ thống giáo dục có được những nhà giáo tốt.

Xây dựng chính sách để thu hút nhân tài vào hệ thống nhà trường sư phạm.

Muốn có được nhà giáo tốt, cần có chính sách mới về thu hút tài năng vào hệ thống nhà trường sư phạm. Cần xác định việc đào tạo ngành sư phạm là việc của nhà nước. Không thực hiện thị trường hóa trong lĩnh vực đào tạo sư phạm. Một lẽ hiển nhiên ai cũng dễ nhận biết là nếu không có nhà giáo có chất lượng chuyên môn và đạo đức sẽ không thể có được những lớp người có trách nhiệm xã hội và đạo đức tốt.

(2) Xây dựng các chính sách đảm bảo sự tương thích giữa đào tạo gắn với nhu cầu thị trường trên cơ sở phát huy vai trò tương hợp của nhà nước trong bối cảnh hội nhập

Rà soát các chính sách về quy hoạch nhân lực, trong đó cần có các chính sách mới về dân số già hóa rất nhanh ở nước ta hiện nay. Có thể nới chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình để có nguồn nhân lực trẻ bổ sung.  

Việc gắn đào tạo với xu hướng phát triển ngành nghề và phân công lao động theo quy luật thị trường là tất yếu với mọi quốc gia. Nhà nước thực hiện những chiến lược và định hướng lớn về phát triển kinh tế xã hội theo xu hướng phát triển của trình độ thế giới, từ đó mà tác động theo đúng quy luật thị trường về yêu cầu đối với nguồn nhân lực. Thông qua đó, gắn kết giữa nhu cầu thị trường với đào tạo ngành nghề. Việc thả tự do cho thị trường điều tiết giáo dục là cái bẫy để đi đến sự rối loạn nhân lực, một nền giáo dục mất phương hướng là nền giáo dục tồi theo nguyên tắc tương hợp giữa nhà nước và thị trường xét trong mối quan hệ với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Nhà nước cần đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát đối với các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp trong nước và giữ vững mối quan hệ thân thiện với các nước đầu tư. Đặc biệt, cần tạo được một hành lang pháp lý thống nhất, đảm bảo việc quản lý có hiệu quả đối với mọi thành phần doanh nghiệp..

(3) Xây dựng chính sách mới về giáo dục đào tạo đối với vùng sâu, vùng xa và đào tạo nhân lực tại nước ngoài

- Giáo dục đối với vùng sâu, vùng xa là diện giáo dục cần được cụ thể hóa, tránh cách tư duy tiếp cận cào bằng. Việc đào tạo nhân lực với tư cách là bộ phận của lực lượng sản xuất vùng của các địa bàn vùng sâu, vùng xa cũng cần phải được tính toán lại cho phù hợp thực tế. Chính sách với giáo dục vùng sâu, vùng xa cần gắn với chính sách về phát triển sinh kế, không cắt khúc giáo dục ra khỏi phương thức sinh kế và phát triển sinh kế của địa bàn vùng sâu, vùng xa. Đây là khu vực có điều kiện sinh kế còn kém phát triển do đó, không nên tiếp cận theo kiểu cần trợ giúp mà cần tiếp cận theo hướng tạo ra môi trường để các điều kiện sinh kế và trí tuệ của con người có điều kiện để phát huy

- Xây dựng chính sách mới về đào tạo nhân lực ở nước ngoài

Việc nâng cao chất lượng nhân lực với tư cách là bộ phận của lực lượng sản xuất không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước, rất nhiều lĩnh vực cần phải được đào tạo ở những trung tâm khoa học, công nghệ lớn của thế giới. Với ý nghĩa như vậy, cần thay đổi sớm chính sách đào tạo nhân lực tại nước ngoài và sử dụng nhân lực sau khi đào tạo tại nước ngoài hiện nay.

2) Xây dựng các chính sách mới về chức năng của các đơn vị khoa học công nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập

(1) Ban hành chính sách mới để chuyển đổi chức năng của các đơn vị khoa học công nghệ theo ngành quản lý nhà nước thành các đơn vị khoa học công nghệ ngành quốc gia để phục vụ mục tiêu phát triển ngành quốc gia.

Trước mắt có thể tập hợp hệ thống tất cả các đơn vị khoa học công nghệ về sinh học, hải dương học, cây trồng, cây rừng, cây dược liệu thành ngành khoa học công nghệ sinh học để tạo sức mạnh tổng hợp, tạo ra những sản phẩm khoa học công nghệ thực sự phục vụ cho sự phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản.

Tương tự như vậy, tổ chức lại hệ thống các đơn vị nghiên cứu về khoa học cơ khí, chế tạo máy, thiết bị trên phạm vi cả nước thành ngành tổ hợp nghiên cứu thống nhất với chức năng thống nhất và thực hiện nhiệm vụ theo đặt hàng để huy động tối đa nhân lực và sản phẩm rõ ràng.

Đối với lĩnh vực khoa học xã hội, việc nghiên cứu và tổ chức lại theo ngành chuyên môn cũng cần phải được tính toán, sắp xếp lại để hình thành sức mạnh tổng hợp trong nghiên cứu và tư vấn hoạch định đường lối. Tránh hiện tượng phân tán, manh mún về nhân lực và nguồn lực như hiện nay.

(2) Xây dựng những chương trình nghiên cứu trọng điểm lớn mới gắn liền với những xu hướng phát triển mới của đất nước và thế giới.

Việc hình thành những chương trình nghiên cứu mới, lớn, có trọng điểm đòi hỏi phải có nguồn lực và mục đích rõ. Nghiên cứu khoa học công nghệ là lĩnh vực rủi ro cao. Vì thế, trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp, cần có định hướng những chương trình lớn theo hướng nhấn mạnh khoa học ứng dụng và kết hợp nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng. Gắn nghiên cứu với việc sản xuất thành phẩm. 

(3) Cụ thể hóa các chính sách mới thúc đẩy gắn phát triển khoa học công nghệ với chế biến để có thể sản xuất thành phẩm.

Sự tương thích giữa phát triển khoa học công nghệ với tư cách là lĩnh vực tạo ra tư liệu lao động mới và đối tượng lao động mới thể hiện rõ nhất trong quá trình sản xuất thành phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Sản phẩm đi được vào thị trường sẽ là chỉ báo kết quả nghiên cứu thích ứng được với nền kinh tế thị trường. Do đó, đi liền với cách thức tổ chức triển khai nghiên cứu theo các ngành nghiên cứu mạnh còn cần phải thực hiện gắn nghiên cứu với việc chế biến, chế tạo thành phẩm để lấy nguồn lực từ thị trường quay trở lại phục vụ sự phát triển của khoa học, giảm dần sự lệ thuộc vào ngân sách đầu tư cho nghiên cứu. Cần phân loại nhiệm vụ theo đặt hàng và nhiệm vụ theo thị trường tự khai thác. Đối với những nhiệm vụ theo đặt hàng cần xác định sản phẩm một cách có chủ đích và đưa vào cuộc sống thực chất. Đối với các nhiệm vụ theo yêu cầu thị trường cần để cho các tổ hợp nghiên cứu mạnh thúc đẩy việc gắn kết giữa thị trường và nghiên cứu.

2. Đề xuất nhóm chính sách thứ hai

Góp phần xác lập sự tương thích giữa các thành tố cầu thành quan hệ sản xuất. Cụ thể:

1) Tiếp tục hoàn thiện luật đất đai, trong đó trọng tâm là các điều khoản quy định về vai trò nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai.

Về mặt lý luận, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền đại diện chủ sở hữu đến đâu, quyền sử dụng của người dân cụ thể trong mối quan hệ với quyền đại diện sở hữu như thế nào hiện nay vẫn đang là điểm còn mờ nhạt. Trong đó, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương trong việc thực hiện thu hồi, phê duyệt quy hoạch và cách thức giải quyết quan hệ lợi ích trong quá trình thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội mặc dù đã được ghi nhận trong luật đất đai 2013, tuy nhiên, thực tế giới hạn quyền lực và kiểm soát quyền hạn của đại diện quyền sở hữu lại chưa rõ ràng. Cho nên trong thực tế, vấn đề sử dụng quyền đại diện quyền sở hữu đất đai và lợi ích của người dân chưa được minh bạch. Trong thời gian tới, việc hoàn thiện quan hệ sở hữu trong đó có các quyền cơ bản như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt cần phải được cụ thể hóa. Trong đó, cần xác định quyền chiếm hữu cho người dân để người dân có thực quyền trong quản lý, sử dụng đất đai trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân

2) Xây dựng và ban hành các chính sách cho việc xác lập các điều kiện chính sách để thúc đẩy hình thành kinh tế chia sẻ, kinh tế số.

Kinh tế chia sẻ là xu hướng tất yếu phát triển trong bối cảnh kết nối vạn vật và internet thế hệ mới. Các hoạt động kinh tế chia sẻ phát sinh sẽ làm cho vấn đề quyền sở hữu tài sản hiện vật và đối tượng sở hữu trở nên phong phú, các quan hệ kinh tế cũng vì thế sẽ hết sức phức tạp. Vì vậy, trong hoàn thiện quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu, cần sớm hình thành luật về kinh tế chia sẻ để có căn cứ điều chỉnh các hoạt động thuộc xu hướng mới  này. Đi liền với việc xác lập các quy định về kinh tế chia sẻ, cần sớm hình thành hệ thống thể chế đồng bộ về quyền, trách nhiệm, phương thức đảm bảo lợi ích, phân chia lợi ích và giải quyết tranh chấp trong các quan hệ kinh tế chia sẻ. Đây là vấn đề cần được hoàn thiện sớm.

Đối với lĩnh vực kinh tế số, hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số ngày càng phát triển. Rất nhiều lĩnh vực liên quan đến kinh tế số cần phải được sớm hoàn thiện các chính sách nhằm vừa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đồng thời giải quyết các quan hệ lợi ích liên quan. Trong đó, vấn đề sở hữu nguồn lực số, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể sử dụng nguồn lực số, nền tảng số cần được quy định rõ. Giới hạn quyền đối với các chủ thể sở hữu nguồn lực số cần được quy định để tránh những xung đột trong quan hệ lợi ích thực hiện từ nội dung nền tảng số. Việc hoàn thiện quan hệ sở hữu liên quan đến nền tảng số cần tính tới vai trò của các bên sáng tạo, sử dụng khai thác và thực hiện lợi ích từ nền tảng nội dung số. Đây là những khía cạnh rất cần được cụ thể hóa. Nếu không sớm hoàn thiện khía cạnh quan hệ sở hữu đối với nền tảng kinh tế số sẽ trở thành rào cản đối với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, vì trên thực tế, bộ phận hoạt động kinh tế số và kinh tế chia sẻ đã được hình thành và đang phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

3) Ban hành các văn bản cụ thể hóa Luật đầu tư công

Các cơ quan hoạch định chính sách liên quan đến phân bổ, sử dụng nguồn lực cần dứt khoát chuyển từ duy “xin - cho” sang tư duy phân bổ nguồn lực dựa trên kết quả đầu ra; căn cứ trên các nguyên tắc thị trường để phân bổ nguồn lực; tăng tính tự chủ cho địa phương trong sử dụng nguồn lực

Trên thực tế, cơ chế xin - cho ngấm quá sâu sắc vào trong tư duy quản lý của nhà nước. Do đó, như đã chỉ ra đây đang là điểm nghẽn cố hữu trong việc giải quyết quan hệ nhà nước - thị trường ở nước ta hiện nay. Do đó, để đột phá trước hết phải thay đổi tư duy. Trước hết là tư duy của bộ máy quản trị quốc gia từ trung ương tới cơ sở.

Thực hiện nhà nước không cạnh tranh với thị trường trong huy động nguồn lực. Nhà nước thực hiện đúng chức năng kiến tạo, thể chế, điều tiết. Thực hiện phân bổ nguồn lực theo kết quả đầu ra. Thực hiện phân bổ nguồn lực theo kết quả đầu ra nghĩa là phải xác định được một cách rõ ràng những kết quả của việc sử dụng nguồn lực để căn cứ vào đó mà phân bổ nguồn lực. Đây là nội dung mang tính đột phá trong giải quyết quan hệ nhà nước - thị trường ở nước ta hiện nay.

Thực hiện nhà nước không bao cấp rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng cũng không tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp bằng các quyết định hành chính của mình.

4) Xây dựng chính sách cụ thể hóa phân cấp cho địa phương, sửa đổi luật tổ chức chính quyền nhân dân

Mở rộng phân cấp, phân quyền cho địa phương; nhưng đồng thời phải tạo cơ chế để tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát của chính quyền Trung ương đối với chính quyền địa phương. Các quyết định cụ thể liên quan đến đời sống kinh tế ở mỗi địa phương, nên để địa phương thực hiện.

Việc phân cấp cần được thực hiện theo hướng việc gì cấp dưới, địa phương làm tốt thì giao cho cấp đó thực hiện; cấp nào giải quyết sát thực tế hơn, có điều kiện thực hiện và có hiệu quả hơn thì giao nhiệm vụ, thẩm quyền cho cấp đó.

Nhiệm vụ của cấp nào thì cấp đó chịu trách nhiệm toàn bộ, có thẩm quyền đầy đủ (tự quyết, tự quản đối với công việc được giao; không trùng lắp giữa việc do Trung ương làm với việc của địa phương làm và công việc giữa các cấp chính quyền trong phạm vi một địa phương với nhau nhằm tránh sự đùn đẩy trách nhiệm, chồng chéo, lẫn lộn, cản trở trong hoạt động).

5) Hoàn thiện hệ thống chính sách cụ thể để thúc đẩy hợp  tác  công tư - PPP- trong huy động nguồn lực

Cần chế định dưới hình thức một đạo luật để điều chỉnh hoạt động. Nếu phát triển được mô hình này, thì nhiều loại dịch vụ và hàng hóa công cộng có thể thu hút khu vực tư nhân đầu tư, thu hẹp số lượng doanh nghiệp nhà nước đang thực hiện. Đây chính là hình thức đầu tư mà nhà nước bổ khuyết cho thị trường, góp phần thực hiện chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế

6) Xây dựng các chính sách về quản lý thị trường dịch vụ công trong bối cảnh thực hiện CPTPP

Dịch vụ công vốn được coi là lĩnh vực của khu vực nhà nước, trong xu hướng phát triển của kinh tế thị trường hiện đại, dịch vụ công không nhất thiết phải do nhà nước cung ứng. Vì thế, để thực hiện đa dạng hóa các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ công cần hoàn thiện quan hệ tổ chức quản lý.

Dịch vụ sự nghiệp công được hiểu là dịch vụ trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa thể thao và du lịch, thông tin truyền thông và báo chí, khoa học công nghệ, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Đây là những loại hình dịch vụ sự nghiệp rất cơ bản liên quan trực tiếp tới con người, mang tính nhạy cảm xã hội cao. Do đó, với mỗi thay đổi về phương thức cung ứng hay giá cả của các dịch vụ này đều thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội.

7) Xây dựng hệ thống chính sách mới về đảm bảo an toàn tài chính, ngoại hối trong bối cảnh cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc đang leo thang

Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm hướng sang giám sát từ xa rủi ro phòng ngừa khủng hoảng. Nhìn chung hoạt động thị trường tài chính vốn vận hàng hết sức tinh vi và phức tạp do dòng lưu chuyển giá trị vốn chịu tác động của rất nhiều quy luật khác nhau và khó kiểm soát do đó luôn chứa đựng yếu tố bất ổn và tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng. Chính vì vậy nâng cao năng lực phòng ngừa khủng hoảng thông qua hiệu lực giám sát tài chính là lĩnh vực đặc biệt phải chú ý trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam đang hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và thế giới như hiện nay. Đặc biệt khó kiểm soát hơn khi lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam phải được mở hoàn toàn theo cam kết với WTO, khi đó hoạt động và quy mô vận hành hệ thống thị trường tài chính tại Việt Nam không chỉ bó hẹp vào một số ít chủ thể như hiện nay. Bởi lẽ đó mà nếu không kiểm soát tốt, nguy cơ đổ vỡ, khủng hoảng cục bộ cũng như khủng hoảng hệ thống là rất dễ phát sinh.

8) Hoàn thiện chính sách tiền lương trong điều kiện mới

Nhà nước cũng xác định những mục tiêu cơ bản để cải cách chế độ tiền lương giai đoạn sau năm 2021, thể hiện ở các nội dung sau:

Tiếp tục điều chỉnh tăng lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng. Đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp. Đối với người lao động trong doanh nghiệp, điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng để mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

3. Đề xuất nhóm chính sách thứ ba

Góp phần đảm bảo sự tương thích giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất trong bối cảnh hội nhập

1) Cụ thể hóa các chính sách về đảm bảo quyền tự do kinh tế, quyền tài sản trên cơ sở Hiến pháp 2013

Quyền tự do về kinh tế của con người phải được đảm bảo. Nhìn ở góc độ thể chế kinh tế mà nói, thì một yếu tố có tính quyết định đến sự ổn định và phát triển của hệ thống chính trị chính là quyền tự do về kinh tế của con người có được bảo đảm hay không. Quyền tự do về kinh tế của người dân bao gồm nhiều nội dung nhưng trước tiên phải kể đến quyền sở hữu tư nhân, quyền tự do hoạt động kinh tế, quyền tự do làm giàu và phát triển kinh tế….Thực chất của vấn đề ở thể chế kinh tế này là bảo đảm lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân trong xã hội. Chỉ khi lợi ích của mọi người được bảo đảm mới có thể giải phóng mọi nguồn lực, mọi sức sáng tạo và huy động được hết sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của người dân vào phát triển kinh tế và dựng xây đất nước. Với quyền này con người mới có động cơ và động lực để sáng tạo trong hoạt động kinh tế. Khi con người được khuyến khích và phát huy tối đa trên lĩnh vực hoạt động kinh tế thì mọi bất mản, xung đột chính trị sẽ được giảm xuống có khi bằng không và đây chính là yếu tố bảo đảm hệ thống chính trị ổn định và phát triển.

2) Xây dựng các chính sách mới để cụ thể hóa yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể sở hữu

Cũng như các mô hình kinh tế thị trường hiện đại khác, đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể, trong đó có chủ thể nhà nước, là yêu cầu mang tính tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự minh bạch trong thể chế sở hữu thể hiện sự phân định thật sự rõ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể, giới hạn giữa xác lập quyền và  nghĩa vụ của các chủ thể được hưởng lợi từ quyền sở hữu. Trong đó, sự chịu trách nhiệm đến cùng về hành vi thực hiện lợi ích từ quyền sở hữu do luật định đối với các chủ thể trong bộ máy nhà nước là vấn đề có tính bắt buộc nhằm vừa khuyến khích sự sáng tạo đồng thời giảm thiểu cơ hội cho hành vi tham nhũng.

3) Nội luật hóa những cam kết mới về hội nhập của Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đã cam kết, góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, để thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế, cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Trước mắt rà soát hệ thống luật hiện hành với các tiêu chuẩn cam kết của CPTPP; Hiệp định tự do thương mại Việt Nam EU (EVFTA).

Tiếp tục cải cách hành chính hơn nữa theo cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục đầu tư. Xử lý kịp thời vướng mắc trong vấn đề cấp phép điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư. Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức nhằm dảm bảo thực hiện theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư./.

 

                                                                            PV (nguồn: Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.04.08/16-20 )

 

 

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết