Thứ Sáu, ngày 27 tháng 11 năm 2020

Bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật liên quan đến việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Ngày phát hành: 28/08/2020 Lượt xem 227

 

1. Bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Để bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, trước hết cần chú trọng thực hiện các giải pháp sau đây:

Một là, Quốc hội cần thực hiện đúng những nhiệm vụ và quyền hạn của mình đã được ghi nhận rõ ràng trong Hiến pháp và pháp luật có liên quan, đó là quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế của đất nước và giám sát tối cao đối với các hoạt động kinh tế của Nhà nước, tránh để xảy ra tình trạng thành lập thêm cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế thuộc Chính phủ. Có quy trình cụ thể trong việc đưa các vấn đề cần trình ra xin ý kiến để Quốc hội xem xét, quyết định, bảo đảm các dự thảo trình ra có căn cứ khoa học, mang tính khả thi cao, không làm mất nhiều thời gian họp Quốc hội và phòng ngừa Quốc hội dễ dãi trong việc thông qua các quyết định của mình.

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của Quốc hội trong việc xây dựng pháp luật về kinh tế theo hướng: Tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở bốn Ủy ban Pháp luật, Tư pháp, Kinh tế và Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội với chất lượng, trình độ năng lực cao về lý luận, thực tiễn; nghiên cứu, có cơ chế và triển khai sớm việc phân công, phối hợp bốn Ủy ban này cũng như cá nhân các đại biểu Quốc hội chuyên trách ở đây trực tiếp chuẩn bị các dự thảo Luật theo phân công để trình Quốc hội với các điều khoản cụ thể, có thể áp dụng ngay được, hạn chế đến mức tối đa việc phải “nhờ” Chính phủ, các bộ về kinh tế ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn mới được thực hiện.

Thực hiện nghiêm các quyết định và giám sát chặt chẽ việc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương thông qua đổi mới cơ chế quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật khác có liên quan, cũng như các quy định cụ thể về giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng.

Triển khai trong thực tế việc tăng cường kỷ luật ngân sách, qua đó nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm cụ thể của Quốc hội về quản lý, giám sát thu, chi ngân sách nhà nước tới từng mục thu, từng khoản chi cho các dự án đầu tư, từng bước giảm bội chi, tiến tới bảo đảm cân đối hợp lý thu chi ngân sách.

Hai là, Chính phủ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước về kinh tế với việc xác định cải cách hành chính nhà nước là trọng tâm và tập trung thực hiện việc lập và điều phối chính sách kinh tế theo khung khổ pháp luật đã được ban hành, góp phần quyết định đến sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Do đó, thời gian tới cần đẩy nhanh xây dựng và hoàn thiện Chính phủ kiến tạo, liêm chính với việc chuyển đổi mạnh mẽ từ nền hành chính chỉ đạo, điều hành sang nền hành chính phục vụ và tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, làm cho bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế trở nên gọn nhẹ hơn nữa, bảo đảm hợp lý, thiết thực, xuất phát từ yêu cầu công việc. Từ đó, có căn cứ sắp xếp vị trí việc làm và sử dụng đúng cán bộ, công chức sao cho có hiệu quả hơn, với chất lượng cao hơn.

Trên khung khổ pháp luật về kinh tế, việc lập và điều phối chính sách kinh tế (theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội trung và dài hạn 5 năm, hằng năm, các chương trình quốc gia với hệ thống các giải pháp, cơ chế, chính sách cụ thể để điều hành nền kinh tế, bảo đảm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội đã đề ra) của Chính phủ cần tập trung triển khai theo hướng: Cung cấp thông tin và dự báo sớm cho người dân, doanh nghiệp về chính sách dự kiến ban hành; tham vấn các chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức, cơ quan có liên quan về dự thảo chính sách; đưa ra những đánh giá hỗ trợ và đề xuất các phương án lựa chọn chính sách; tiếp nhận phản hồi, hoàn thiện và ban hành quyết định chính sách; kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quyết định chính sách đã ban hành. Ngoài ra, tính kỷ luật, kỷ cương, tính công khai, minh bạch, tính dự liệu được và tính trình tự chặt chẽ là những yêu cầu bắt buộc, không thể thiếu được trong suốt quá trình Chính phủ lập và điều phối chính sách (trước, trong và sau khi ban hành quyết định chính sách).

Để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô với việc duy trì lạm phát ở mức vừa phải là mục tiêu cuối cùng, cần sớm có cơ chế phù hợp để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam độc lập hơn với Chính phủ, cụ thể là xây dựng Luật Ngân hàng Trung ương thay cho Luật Ngân hàng Nhà nước. Về lâu dài, nghiên cứu tách Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khỏi Chính phủ (có thể trực thuộc Quốc hội) để trở thành Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ, bảo đảm cho việc thực thi chính sách tiền tệ một cách mềm dẻo, linh động, chủ yếu theo tín hiệu của thị trường và khách quan so với chính sách tài khóa do Chính phủ điều hành. Cần quy định theo hướng phân biệt rõ hơn ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, để quản trị rủi ro nghiêm ngặt và quản lý chặt chẽ việc các ngân hàng thương mại đầu tư vào các lĩnh vực chứng khoán và bất động sản.

Kiên quyết xoá bỏ triệt để việc can thiệp trực tiếp của các bộ, Uỷ ban nhân dân các địa phương vào doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có phần vốn nhà nước sản xuất, kinh doanh trước đây trực thuộc các bộ, Uỷ ban nhân dân. Bởi lẽ nếu còn sự can thiệp này sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế còn có cơ hội tham nhũng, hình thành các nhóm lợi ích, các doanh nghiệp “sân sau”, nhiều khi quên đi nhiệm vụ chính của mình là quản lý nhà nước mà can thiệp hành chính (cả gián tiếp, trực tiếp) vào sản xuất, kinh doanh nhưng không chịu bất cứ trách nhiệm cụ thể nào; các bộ, Uỷ ban nhân dân các địa phương cần phải tập trung vào chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế theo lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách.

Nên cân nhắc về địa vị pháp lý hiện nay của thiết chế Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan thuộc Chính phủ. Nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn và tài sản công để có căn cứ khoa học bảo đảm cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý vĩ mô về kinh tế; qua đó, tạo ra sự bình đẳng thực sự giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác.

Cần xác định rõ hơn chức năng, mối quan hệ trong quản lý kinh tế giữa hành chính Trung ương và hành chính địa phương. Đối với các địa phương, cần tiếp tục hoàn thiện việc tập trung sự quản lý nhà nước trực tiếp đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế nhiều hơn nữa vào Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện để bớt các sở, ban, phòng. Tránh tái diễn tình trạng rập khuôn theo đầu mối ở Chính phủ có cơ quan gì thì ở địa phương có cơ quan tương tự.

 Kiên quyết đề cao kỷ luật hành chính, khắc phục tình trạng “trên bảo, dưới không nghe”, “trên nóng, dưới lạnh, giữa thờ ơ” trong bộ máy quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trong quản lý nhà nước, mệnh lệnh hành chính của lãnh đạo cấp trên thường thể hiện ở những quy định quản lý có tính chất chung để điều tiết toàn bộ nền kinh tế, bảo đảm lợi ích của toàn xã hội, đồng thời cũng thể hiện ở những văn bản pháp quy cá biệt nhằm chỉ đạo việc giải quyết những vụ việc đặc thù theo đúng quy định pháp luật về quản lý hành chính. Việc bảo đảm tuân thủ và thi hành triệt để mệnh lệnh của lãnh đạo cấp trên là một yêu cầu hàng đầu để bảo đảm sự vận hành thông suốt của cả bộ máy quản lý hành chính nhà nước về kinh tế.

Ba là, triển khai thực hiện quyền lực và trách nhiệm trong thực tế của các cơ quan tư pháp, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi không tuân thủ các quy định pháp luật về kinh tế. Đây là nhiệm vụ không thể thiếu trong chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhiệm vụ này bao gồm hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, kiểm toán và giám sát sự tuân thủ quy định pháp luật về kinh tế đối với các hoạt động kinh tế của các cá nhân, tổ chức trên thị trường, các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp và bao gồm cả hoạt động giám sát, kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Như vậy, đối tượng xử lý không chỉ là các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường mà còn có thể là những sai phạm phát sinh trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.

Các hành vi không tuân thủ các quy phạm pháp luật về kinh tế có thể diễn ra trong nhiều điều kiện khác nhau, dưới những hình thức và thể hiện khác nhau. Không loại trừ những vấn đề mà phát sinh nhưng chưa được pháp luật quy định về phương thức xử lý, chế tài xử phạt. Vì vậy, các hoạt động xử lý các hành vi vi phạm thể chế kinh tế luôn đòi hỏi sự đổi mới và hoàn thiện không ngừng của các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là việc nâng cao trách nhiệm của những cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết và xử lý các vi phạm.

Thông thường, thông qua các quy định xử phạt với chế tài cụ thể, những vi phạm hay các hành vi không tuân thủ pháp luật về kinh tế có thể được thi hành nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao của cơ quan chuyên trách. Tuy việc xử lý vi phạm cần phải nghiêm minh với các chế tài đủ sức răn đe, nhưng các chế tài đó cũng cần hướng tới việc giáo dục tuân thủ pháp luật, phù hợp với truyền thống nhân văn và đề cao đạo đức của dân tộc, với chuẩn mực của tiến bộ xã hội. Yêu cầu vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo trong thi hành trọng trách này đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức trong các cơ quan kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm phải thường xuyên, liên tục trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao kiến thức và đạo đức nghề nghiệp để có thể xử lý tình huống vừa thấu tình, vừa đạt lý và công tâm.

Bên cạnh việc nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm “cầm cân nảy mực” và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ giải quyết và xử lý các vi phạm pháp luật về kinh tế, cơ chế và chế tài cụ thể xử lý những sai phạm, cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây ra hậu quả cho người dân, doanh nghiệp của cá nhân và tổ chức quản lý nhà nước cũng cần được tiếp tục được làm rõ và có quy định cụ thể hơn. Chỉ có như vậy, mới nâng cao được trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức, của các cơ quan tư pháp, góp phần bảo đảm của Nhà nước trong bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật về kinh tế.

Xây dựng cơ chế giải quyết có hiệu quả các xung đột, tranh chấp kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và phát triển sản xuất, kinh doanh. Trong số các cơ quan đảm trách việc giải quyết các xung đột, tranh chấp kinh tế, cần đề cao vai trò của Tòa án nhân dân (cơ quan xét xử), Viện kiểm sát nhân dân (cơ quan công tố), các cơ quan điều tra vì các tổ chức này đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của riêng mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật khi triển khai thực hiện các hoạt động tư pháp liên quan đến kinh tế. Tuy nhiên, cần nâng cao hơn nữa vị thế thực sự của Tòa án nhân dân, bảo đảm cho cơ quan này giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò quyết định trong triển khai thực hiện quyền tư pháp. Mặt khác, sự phối hợp thống nhất và chặt chẽ giữa các cơ quan xét xử và công tố trên nền tảng pháp luật nghiêm minh sẽ tạo cơ sở bền vững cho bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, góp phần quan trọng vào việc gìn giữ kỷ cương, trật tự của xã hội nói chung và hoạt động kinh tế nói riêng.

Ngoài ra, trong quá trình tiến hành thực hiện quyền tư pháp, toà án nhân dân các cấp cần có chính sách tập trung phân loại các vụ việc xung đột, tranh chấp kinh tế, qua đó triển khai rộng rãi việc tư vấn cho các bên liên quan đến các vụ việc đó theo hướng khuyến khích áp dụng các biện pháp với thứ tự quy trình từ thương lượng, đối thoại, hòa giải cho đến trọng tài, trước khi đưa ra toà án xét xử. Coi trọng và đề cao hơn nữa phương thức hòa giải thương mại và trọng tài thương mại trong giải quyết các xung đột, tranh chấp kinh tế. Cần ưu tiên và tập trung cho việc giải quyết sớm các xung đột, tranh chấp kinh tế, tránh các thiệt hại không đáng có về thời gian, công sức, lãng phí tiền bạc không chỉ của người dân, doanh nghiệp liên quan đến tranh chấp mà của cả xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của toà án trong bảo vệ công lý.

 

 

2. Bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về kinh tế trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Để bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về kinh tế, trước hết cần tập trung thực hiện các giải pháp sau đây:

Một là, tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh. Pháp luật về đầu tư, kinh doanh đã tạo ra mặt bằng pháp lý chung cho các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng về pháp lý trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc áp dụng và triển khai trong thực tế các Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và một số quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh ở một số luật có liên quan khác đã áp dụng chung cho tất cả doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là minh chứng rõ ràng cho điều đó.

Ngoài ra, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo, điều hành theo hướng kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo tinh thần các Nghị quyết số 19 (năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018), đặc biệt là tập trung triển khai Nghị quyết số 02 ngày 01-01-2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, trong đó “phấn đấu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nước ta thuộc nhóm ASEAN 4”, với yêu cầu các bộ, ngành và các địa phương tích cực triển khai thi hành, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, để thu hút nhiều doanh nghiệp nước ngoài có trình độ khoa học công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường vào nước ta đầu tư và tham gia liên kết sản xuất, kinh doanh.

Hai là, triển khai thực thi pháp luật về quản lý tài chính công, tài sản công và đầu tư công. Trên cơ sở bổ sung và hoàn thiện Luật Đầu tư công năm 2014, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, Luật Đấu thầu năm 2013 cần thể chế hóa và triển khai thực hiện theo hướng: nâng cao năng lực đồng thời phân định rõ hơn trách nhiệm của cá nhân và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước; quy định về việc chủ động giải trình và nội dung cụ thể phải giải trình khi có vấn đề xảy ra liên quan đến quản lý tài chính công, nhất là quản lý ngân sách nhà nước và tài sản công; bảo đảm đấu thầu công khai, minh bạch trong thực tế để lựa chọn xứng đáng nhà đầu tư dự án xây dựng - chuyển giao (BT), xây dựng - khai thác - chuyển giao (BOT); tăng cường sử dụng các quy định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011, sau khi đã kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015.

Sớm bổ sung các quy định chi tiết ở các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý ngân sách và tài sản công, nhất là trong quản lý chi tiêu công. Có chế tài xử lý cụ thể, theo hướng tăng nặng hình phạt cả về chính trị và kinh tế, chủ yếu bằng hình sự và trách nhiệm bồi thường đầy đủ về vật chất, đối với người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, thất thoát, lãng phí quản lý tài chính công, tài sản công và đầu tư công, kiên quyết không xử lý các vi phạm theo kiểu khép kín nội bộ, phê bình, kiểm điểm và rút kinh nghiệm, không tương ứng với hậu quả đã gây ra.

Tập trung cơ cấu lại đầu tư công và triển khai đầu tư công theo hướng: phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an toàn nợ công và ưu tiên cho dự án trọng điểm quốc gia như quốc phòng, an ninh, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, đồng thời phù hợp với các kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế và huy động vốn; sử dụng vốn ngân sách nhà nước như là vốn mồi để khai thác tối đa các nguồn vốn trong xã hội, nhất là kinh tế tư nhân trong nước và nước ngoài. Thực hiện việc quản lý đầu tư công theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, bảo đảm đến trước năm 2020 đạt chất lượng tương đương trung bình của các nước ASEAN-4, trong đó cần đổi mới và áp dụng sớm cách thức lập, thẩm định, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư công.

Quản lý và thực hiện đầu tư công cần bảo đảm nguyên tắc vốn của Nhà nước chỉ tập trung vào các lĩnh vực mà thị trường hoạt động không hiệu quả hay không thể hoạt động. Ngoài ra, Nhà nước cần phân bổ các nguồn lực của mình vào các ngành khoa học - kỹ thuật cao, các lĩnh vực có năng lực dẫn dắt việc cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại. Đặc biệt, nên lựa chọn một số doanh nghiệp nhà nước lớn để đẩy mạnh cổ phần hóa, thu hút các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước tham gia góp vốn không hạn chế cho hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu quy mô lớn. Qua đó, rút vốn về cho Nhà nước tập trung vào các mục tiêu kinh tế - xã hội quan trọng khác, phục vụ cho phát triển bền vững đất nước.

3. Bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về quy hoạch và cải cách hành chính trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Trên cơ sở Luật Quy hoạch năm 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019, cần thể chế hoá và hoàn thiện pháp luật về quy hoạch theo hướng: Tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương; tăng cường liên kết vùng, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của từng vùng, từng địa phương; phát huy hiệu quả trong khai thác và sử dụng nguồn lực của đất nước để thúc đẩy phát triển bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mặt khác, cần triển khai thực hiện Luật Quy hoạch năm 2017 với các quy định thống nhất và phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật khác, bảo đảm là công cụ hỗ trợ đắc lực, giúp quản lý phát triển kinh tế - xã hội một cách đồng bộ, khắc phục tình trạng quản lý chia cắt, cục bộ ngành và tính cát cứ địa phương; góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề xung đột lợi ích, xung đột mang tính liên ngành, xung đột giữa các địa phương.

Vận dụng linh hoạt, hợp lý các yếu tố, các quy luật của KTTT vào cải cách hành chính, qua đó thể chế hoá các quy định quy phạm pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ, tính khả thi, tính hiệu quả, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các mối quan hệ kinh tế, các hoạt động kinh tế phát triển lành mạnh. Để bảo đảm tính phục vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế đối với người dân, doanh nghiệp, cần triển khai thực hiện nghiêm tính công khai, minh bạch trong quy trình thực hiện các thủ tục hành chính, bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời với chi phí thực hiện thấp. Tiếp tục đẩy mạnh rà soát, loại bỏ sớm các thủ tục hành chính rườm rà, lỗi thời cản trở sự phát triển kinh tế, xã hội và tiến hành áp dụng rộng rãi cơ chế một cửa, một dấu vào quá trình cải cách hành chính. Cần đổi mới tư duy và phương pháp xây dựng các thủ tục hành chính sao cho các quy định hồ sơ, thủ tục đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện, bảo đảm sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là tiêu chuẩn để tiếp tục hoàn thiện công tác cải cách hành chính của Chính phủ trong thời gian tới.

 

 

Tạo lập các điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Để hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, góp phần nâng cao quản lý nhà nước về kinh tế, cần tập trung giải quyết tốt một số giải pháp về tạo lập các điều kiện bảo đảm, đó là:

1. Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy và mở rộng dân chủ trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm các điều kiện cho hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Do đó, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ của đảng cầm quyền với các tổ chức kinh tế - xã hội trong điều kiện nhất nguyên chính trị với tư cách là Đảng duy nhất lãnh đạo mọi mặt của hoạt động kinh tế - xã hội và chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước cũng không nằm ngoài phạm vi đó. Vì vậy, để Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế của mình, sự sáng suốt của Đảng là điều kiện tiên quyết, tác động tích cực đến hiệu quả, chất lượng các chính sách được triển khai trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển KTTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, đòi hỏi tư duy kinh tế và năng lực lãnh đạo kinh tế của Đảng sáng suốt, quyết định đúng đắn, khoa học, không chủ quan, duy ý chí mà dựa trên những luận cứ, luận chứng rõ ràng, nhất quán cả về lý luận và thực tiễn.

Bên cạnh đó, bản thân Đảng cũng cần tự chỉnh đốn, đổi mới, nâng cao nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng khi thực hiện lãnh đạo nói chung, lãnh đạo kinh tế nói riêng. Tiếp tục điều chỉnh, hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của các cấp ủy trong lãnh đạo phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện KTTT định hướng XHCN, trong đó phân định rõ ràng và bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất về kinh tế của Đảng với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và quyền làm chủ trong kinh tế của nhân dân. Việc điều chỉnh cần diễn ra thường xuyên, liên tục để bảo đảm cho năng lực lãnh đạo kinh tế của Đảng phù hợp hơn với xu thế phát triển cũng như ứng phó kịp thời với những diễn biến khó lường về địa - kinh tế - chính trị toàn cầu. Đặc biệt, việc đổi mới tư duy, nhận thức của Đảng ta nói chung, của các cán bộ Đảng cấp cao nói riêng trong lãnh đạo nền kinh tế đất nước về quản lý kinh tế là điều kiện quan trọng, góp phần hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.

Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế ngày càng được quan tâm, nhất là trong điều kiện phát triển nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Hiện nay, dân chủ ở nước ta đã và đang được đề cao về mặt lý luận, nhưng cần được triển khai thực hiện trong thực tế, không chỉ là phát huy chung chung sự tham gia đóng góp, đề xuất ý kiến về xây dựng, thực thi pháp luật, chính sách về kinh tế của nhân dân. Do đó, cần tiếp tục phát huy dân chủ trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, để dân chủ thực sự đi vào thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Nói cách khác, phát huy và mở rộng dân chủ trong kinh tế là điều kiện không thể thiếu được để góp phần hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.

2. Bảo đảm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Xét đến cùng, đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo trong quản lý nhà nước về kinh tế, là nhân tố quyết định thành công hay thất bại trong tiến trình hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Để hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, cần coi trọng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước kinh tế trên tất cả các phương diện liên quan đến: xây dựng chính sách, pháp luật; thực thi chính sách, pháp luật và bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về kinh tế.

Một trong những điều kiện cơ bản để hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình là Nhà nước phải đổi mới để xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế có đầy đủ năng lực và phẩm chất, đáp ứng những đòi hỏi của nền KTTT hiện đại, phát triển dựa ngày một nhiều vào tri thức. Năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức là điều không thể thiếu trong mỗi cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế. Năng lực chuyên môn được đòi hỏi ở đây chính là tầm cao về trình độ năng lực trí tuệ, tư duy và trình độ năng lực nghiệp vụ của các cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế. Phẩm chất đạo đức sẽ giúp cho họ tránh rơi vào chủ nghĩa cá nhân, biết đặt lợi ích của mình gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của nhân dân.

Trong đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế, cần bảo đảm chất lượng đội ngũ này ngay từ ban đầu, thông qua thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch xây dựng và tuyển chọn, bao gồm : dự báo tình hình cán bộ, công chức, tạo nguồn thông qua thi tuyển và tiến cử, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng,… Đây là biện pháp rất cần thiết để đội ngũ cán bộ, công chức không bị hụt hẫng, bảo đảm tính liên tục, chất lượng và hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Nên coi quản lý nhà nước về kinh tế trong nền KTTT là quản lý mang tính đặc thù và do đó cần có yêu cầu cao về đức và tài khi tuyển chọn cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế; đặc biệt, coi tuyển chọn cán bộ lãnh đạo như tuyển chọn nhân tài.

Sử dụng và đánh giá cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế là những biện pháp không thể thiếu được trong việc nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ này. Bố trí và sử dụng cán bộ, công chức phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn và sở trường, phù hợp giữa trình độ năng lực với đòi hỏi của công việc; có chính sách tiền lương và đãi ngộ thích đáng, thưởng phạt rõ ràng, kịp thời, trên cơ sở căn cứ vào hiệu quả công việc, đặc biệt là hiệu quả về kinh tế. Công tác đánh giá cán bộ, công chức phải chủ yếu căn cứ vào vị trí việc làm cụ thể của từng người, có dựa trên nhận xét của tập thể có thẩm quyền và quyết định cuối cùng là của người lãnh đạo trực tiếp cao nhất với việc chịu trách nhiệm đến cùng, nên đòi hỏi sự công tâm, khách quan, tránh thái độ thành kiến.

Sớm tập trung vào việc cụ thể hoá quy định pháp luật về chế độ thủ trưởng các cơ quan trong bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế trên cơ sở xác định rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan này. Trong đó quy định rõ hơn, với các chế tài cụ thể về người lãnh đạo chịu trách nhiệm đến cùng trong quản lý nhà nước về kinh tế (đền bù thiệt hại kinh tế, hành chính, hình sự); tránh để tình trạng xử lý quá nhẹ, không có tác dụng răn đe như thời gian qua.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang thực hiện một nền KTTT định hướng XHCN. Nền KTTT ở đây chứa đựng cả mặt tích cực và tiêu cực. KTTT có chiều hướng thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân phát triển, thúc đẩy xu hướng thương mại hóa các quan hệ xã hội và thúc đẩy con người chạy theo đồng tiền bằng mọi giá. Với chiều hướng như vậy, nếu không có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức quản lý nhà nước về kinh tế rất dễ có cơ hội phát triển. Hiện nay, thực trạng này đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của nhân dân vào chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Do đó, đối với cán bộ lãnh đạo, công chức quản lý nhà nước về kinh tế, cần hoàn thiện về thể chế đạo đức công vụ, cùng với việc kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật của bất cứ người nào, dù đó là ai.

Đặc biệt, với nhà nước thông minh, chính phủ điện tử, chính phủ số (như hệ thống thông tin E - Cabinet đang được triển khai ở nước ta hiện nay để phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ) và “công dân toàn cầu” đã trở nên tất yếu trên thế giới, cần phải thường xuyên đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo, công chức quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, phổ cập kiến thức bắt buộc và thực chất về tổ chức và quản lý nhà nước, tổ chức và phối hợp, tin học và ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh), đặc biệt là kiến thức về quản lý kinh tế, pháp luật kinh tế quốc tế, có đủ khả năng giải quyết các tranh chấp kinh tế quốc tế trong nền KTTT hiện đại. Các quy định về đào tạo và trình độ của cán bộ lãnh đạo, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cần được Nhà nước ban hành thống nhất, tránh việc xây dựng và vận dụng một cách tuỳ tiện.

3. Bảo đảm ngân sách cho việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

Việc tập trung dành đủ ngân sách nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng hiện đại cho công tác quản lý nhà nước mà trực tiếp là đáp ứng về nhu cầu trang thiết bị tiên tiến cho bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế là điều kiện bảo đảm cho việc hoàn thiện và thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Ngân sách nhà nước không chỉ bảo đảm thu nhập cho cán bộ, công chức, đáp ứng cơ bản nhu cầu đời sống vật chất, tương xứng với nhiệm vụ, vị trí việc làm mà họ đảm nhận mà còn là điều kiện để thu hút được những người tài giỏi, có đủ trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức vào bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế.

Ngoài ra, để nhanh chóng hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước ta theo xu thế phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay thì ngân sách nhà nước là điều kiện bảo đảm không thể thiếu được cho đầu tư khoa học công nghệ về quản lý theo phương thức nhà nước điện tử, nhà nước số. Cùng với đó là cần triển khai sớm việc hiện đại hoá các công nghệ quản lý mới để góp phần hạn chế cán bộ, công chức tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp và người dân, qua đó ngăn chặn kịp thời các hành vi gây phiền hà, nhũng nhiễu.

Như vậy, KTTT ngày nay ở mọi quốc gia, dù có ở mức độ phát triển khác nhau, nhưng vai trò kinh tế của nhà nước - được quy định cụ thể bằng chức năng quản lý kinh tế - trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế để đẩy nhanh quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế đang có xu hướng trở nên mạnh mẽ. Đó là xu hướng tất yếu mà nhà nước: là người “cầm lái”, gián tiếp dẫn dắt nền kinh tế phát triển, chứ không còn là người “bơi chèo”, trực tiếp can thiệp sâu vào nền kinh tế; là người định hướng, kiến thiết và tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; là người phục vụ xã hội, doanh nghiệp và người dân, cung cấp các dịch vụ công, hành chính công, xây dựng kết cấu hạ tầng và tất cả những gì mà các doanh nghiệp, người dân không muốn làm, không dám làm hoặc không thể làm được.

Ở Việt Nam, hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước ta chính là góp phần hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN và trong xu hướng đó, những giải pháp nêu trên để hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc nâng cao quản lý nhà nước và khắc phục triệt để tình trạng kỷ luật, kỷ cương không nghiêm hiện nay. Chỉ có như vậy, mới đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN thành giải pháp đột phá quan trọng trong thực tế, góp phần quyết định đến thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế để phát triển bền vững đất nước./.

 

TS. Nguyễn Hồng Sơn

Hội đồng Lý luận Trung ương

 


 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết