Chủ Nhật, ngày 25 tháng 10 năm 2020

Dự báo tình hình và những vấn đề đặt ra với quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong thập niên tới

Ngày phát hành: 04/10/2020 Lượt xem 172


Thế giới trong thập niên tới có những chuyển biến lớn với nhiều sự kiện diễn ra một cách nhanh chóng, bất ổn, bất định, khó lường. Nhưng trong sự phức tạp, ngổn ngang, đầy mâu thuẫn ấy, vẫn có thể tìm ra những nét chung nhất, tác động đến chiều hướng vận động, phát triển của thế giới và của mỗi nước. Tổng hòa những nét chúng ấy tạo nên một diện mạo hay còn gọi là cục diện thế giới. Trong các giai đoạn lịch sử đầy sáng tạo của cách mạng Việt Nam, nhất là hơn 30 năm đổi mới vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việc nhìn nhận cục diện thế giới, phân tích những tác động của tình hình thế giới đối với các nước nói chung và đối với Việt Nam, từ đó dự liệu những định hướng, chính sách phát triển đất nước theo dòng thời cuộc.

I. Về cục diện thế giới và khu vực

Có thể quan niệm cục diện thế giới là tình hình mọi mặt của thế giới, là bức tranh toàn cảnh phản ánh tổng quan lực lượng và quan hệ giữa các chủ thể của quan hệ quốc tế, trước hết là các cường quốc, các trung tâm quyền lực lớn trong một phạm vi không gian và ở một khung thời gian nhất định. Về nội hàm, cục diện thế giới bao quát tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, quân sự đến văn hóa, tôn giáo… Về khung thời gian, có thể là một thời điểm hay một khoảng thời gian cụ thể là vài năm. Theo đó, cục diện thế giới là bức tranh toàn cảnh của diện mạo thế giới trên một “lát cắt” thời gian cụ thể.

Việc nghiên cứu cục diện thế giới tập trung vào trạng thái “tĩnh” của tình hình thế giới không mâu thuẫn với bản chất “động” của tình hình và quan hệ quốc tế luôn luôn biến đổi do tác động của các nhân tố chủ quan (chiến lược, chính sách của các chủ thể) và khách quan, nhất là các xu thế lớn của thế giới. Các nhân tố này làm thay đổi tương quan lực lượng và quan hệ giữa các chủ thể và do đó làm thay đổi cục diện – điều có thể quan sát được qua đánh giá và phân tích trong một hoặc nhiều “lát cắt”[1].

Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Các thể chế đa phương đứng trước những thử thách lớn. Các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội và khó khăn, thách thức lớn trên con đường phát triển. Trong bối cảnh đó, tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước trên thế giới và khu vực vì lợi ích quốc gia tiếp tục diễn ra rất phức tạp.

Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp. Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thức chiến tranh kiểu mới.

Kinh tế thế giới phục hồi chậm, gặp nhiều khó khăn, thách thức và còn nhiều biến động khó lường. Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Biến động của giá cả thế giới, sự bất ổn định về tài chính, tiền tệ và vấn đề nợ công tiếp tục gây ra những hiện tượng bất lợi đối với nền kinh tế thế giới”…[2]

Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới. Đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn có nhiều nhân tố bất ổn. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp. ASEAN trở thành Cộng đồng, tiếp tục phát hu yvai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế trong khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức bên trong và bên ngoài…

Để nhận rõ tình hình thế giới trong thập niên tới, có thể căn cứ vào một số nội dung chính yếu.

Thứ nhất, xu hướng đa cực, đa trung tâm và sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn

Thực tế cho thấy trong tương quan lực lượng trên thế giới hiện nay, Mỹ tiếp tục duy trì được tiềm lực mạnh nhất cả về chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự trong vòng 10-15 năm tới. Tuy nhiên sức mạnh tương đối so sánh với các nước lớn khác đang bị thu hẹp, vị trí số một thế giới của Mỹ ngày càng bị thách thức và có nguy cơ bị một số nước vượt qua trong một số lĩnh vực nhất định.

Trong khi đó, Nga mặc dù đang gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng vẫn khẳng định vai trò của một cường quốc, cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ trong việc can dự và giải quyết nhiều vấn đề lớn của thế giới. Nga đã thành công trong việc bảo vệ lợi ích chiến lược tại Ucraina và nhiều khu vực khác trong không gian “hậu Xô viết”, ngăn chặn đáng kể bước “Đông tiến” của Mỹ và NATO; tham gia trực tiếp vào cuộc chiến chống IS và ngăn chặn Mỹ - Phương Tây can thiệp quân sự sâu vào Xy-ry. Mục tiêu lâu dài của Nga là khôi phục lại vị thế siêu cường của Liên Xô trước đây, song tới năm 2020, vị thế của Nga vẫn chưa được cải thiện đáng kể.

Đến năm 2020, Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế thế giới nhưng nhiều khả năng sẽ bị Ấn Độ thách thức ở vị trí số 3. Mục tiêu chiến lược của Nhật Bản là trở thành một cường quốc phát huy ảnh hưởng cả về kinh tế, chính trị và quân sự trong khu vực và trên thế giới. Về đối ngoại, chính phủ Nhật Bản triệt để phát huy công cụ “ngoại giao kinh tế”, sửa đổi Hiến pháp, gỡ bỏ một số ràng buộc nội bộ để tăng quyền tự do hành động trong một số vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ, cùng Mỹ liên kết chặt chẽ và chia sẻ trách nhiệm. Ở khu vực, Nhật Bản tập trung xử lý quan hệ với Trung Quốc, mức độ tùy thuộc lợi ích kinh tế giữa Nhật Bản và Trung Quốc tiếp tục gia tăng nhưng căng thẳng nhất là tranh chấp trên biển ngày càng gia tăng. Nhật Bản quan tâm hơn tới các nước Đông Nam Á vì lợi ích chiến lược và lợi ích kinh tế, tham gia tích cực hơn các cơ chế hợp tác do ASEAN chủ đạo để có vai trò lớn hơn.

Nhiều dự báo cho thấy, đến năm 2020, Ấn Độ sẽ rút ngắn khoảng cách với Nhật Bản để chuẩn bị trở thành nền kinh tế thứ 3 thế giới, thậm chí có thể ở vị trí cao hơn vào năm 2050. Về đối ngoại, Ấn Độ tiếp tục duy trì cân bằng quan hệ với các nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc, nhưng cạnh tranh lợi ích và ảnh hưởng với Trung Quốc sẽ gay gắt hơn. Ấn Độ tiếp tục khẳng định ảnh hưởng của mình ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương, đẩy mạnh chiến lược “hướng Đông” và gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Đông Á, quan tâm hơn đến an ninh biển và bảo vệ trật tự trên biển.

Liên minh Châu Âu (EU) có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị trên thế giới. Các thành viên trong EU sẽ tiếp tục duy trì quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ trong các vấn đề toàn cầu; tăng cường liên kết quốc phòng để tự phòng thủ và bảo vệ quyền lợi ở các khu vực cận kề Châu Âu; tiếp tục nâng cao vai trò và vị thế của EU trên cơ sở đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức đa phương quốc tế; quan tâm hơn tới quan hệ với các nước Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó chú trọng thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc về kinh tế. Hiện tại nội bộ EU và trong từng nước của EU cũng đang nảy sinh những thách thức chưa từng có về khủng hoảng người tị nạn, nợ công, nguy cơ khủng bố và đặc biệt là việc Anh ra khỏi EU.

Một trong những đối thủ nặng cân nhất cạnh tranh vị trí của Mỹ trong trật tự thế giới là Trung Quốc. Với mục tiêu chiến lược xuyên suốt là vươn lên thành cường quốc số 1 thế giới, Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế và đầu tư mạnh về quân sự. Trung Quốc tuyên bố “vĩnh viễn không xưng bá, vĩnh viễn không bành trướng”, nhưng lại nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của chính sách đối ngoại là kiên quyết bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển quốc gia, “quyết không khuất phục trước bất cứ sức ép nào từ bên ngoài”. Trung Quốc đòi hỏi “quyền lợi và nghĩa vụ cân bằng” khi tham gia quản trị toàn cầu; ưu tiên các cơ chế khu vực và liên khu vực mà Trung Quốc có lợi ích, hướng các cơ chế này vào phục vụ tốt nhất cho lợi ích của Trung Quốc. Trung Quốc đang từng bước từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời”; tự tin và thực dụng hơn trong đối ngoại; sử dụng mạnh hơn “con bài kinh tế” trong quan hệ với các nước; chủ động và cứng rắn hơn trong quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng, nhất là trong những vấn đề Trung Quốc coi là có lợi ích “cốt lõi”; Trung Quốc đang từng bước thúc đẩy thay đổi trật tự khu vực và thế giới.

Thực tế tình hình trên cho thấy trật tự thế giới đang trong quá trình diễn biến nhanh chóng theo hướng đa trung tâm, đa cực.

Thứ hai, các vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng

Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều chịu tác động của vấn đề toàn cầu như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hủy diệt, thảm họa thiên tai, thảm họa môi trường sinh thái, nghèo đói và dịch bệnh, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng. Đại dịch Covid-19 với sức tàn phá vô cùng nhanh chóng trên khắp thế giới thực sự đã trở thành thảm họa của nhân loại. Bên cạnh đó, cạn kiệt tài nguyên, nhất là năng lượng và nguồn nước cũng đang là vấn đề nổi trội, tác động tới an ninh và phát triển của nhiều nước, nhiều khu vực. Nhu cầu về tài nguyên của các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ tăng vọt dẫn tới việc cạnh tranh các nguồn tài nguyên vốn đã gay gắt sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.

Cùng với những vấn đề đe dọa an ninh toàn cầu và an ninh phi truyền thống nêu trên, an ninh biển cũng đang nổi lên trong thời gian tới. An ninh biển không chỉ liên quan đến an toàn các tuyến đường hàng hải mà ngày càng mở rộng ra các khía cạnh khác như an ninh môi trường biển, các nguồn lợi hải sản. Do tác động của việc gia tăng các tranh chấp biển, đảo và các chuyển biến của an ninh phi truyền thống khác, an ninh biển sẽ trở thành một trong những vấn đề chi phối quan hệ giữa các nước.

Trong một bài phát biểu của mình, cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc Bakimun đã nhận xét: “chân trời có vẻ tối đi”. Thế giới đang ở trong thời kỳ có nhiều xáo động. Chủ nghĩa dân tộc nổi lên rất mạnh, chủ nghĩa phân hóa cũng đang phát triển và những tư tưởng cũng như hành vi công quyền, cực đoan đang trỗi dậy. Vấn đề dân tộc, tôn giáo chưa bao giờ phức tạp như bây giờ. Tất cả những điều đó không thể giải quyết trong một sớm, một chiều, mà sẽ kéo dài, vô cùng phức tạp.

Thứ ba, về tình hình kinh tế thế giới

Thực tế hiện nay và dự báo trong thập kỷ tới, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, địa vị của các nền kinh tế lớn trên thế giới đang bị xáo trộn. Nổi bật nhất là sự phát triển kinh tế của các nước gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại. Hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra ảnh hưởng tới nhiều nước, nhất là một số nền kinh tế lớn. Kinh tế Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ suy giảm nghiêm trọng, khu vực đồng tiền chung Châu Âu vừa gặp phải một cú sốc mạnh là nước Anh rời khỏi EU, nay lại vấp vào cuộc khủng hoảng này nên sẽ gặp nhiều thách thức. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng đang chậm dần lại bồi thêm thiên tai và dịch bệnh nên càng đối mặt với những khó khăn chồng chất. Hiện tại các nước phải tập trung cấu trúc lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới phát triển trong điều kiện mới nhưng vẫn chưa thể lấy lại đà tăng trưởng một cách mạnh mẽ trong những năm tới.

Thứ tư, về tình hình khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Về kinh tế, Châu Á – Thái Bình Dương luôn chiếm tỷ trọng lớn trong kinh tế thế giới. Chỉ riêng các nền kinh tế thành viên Diễn đang Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) đã chiếm hơn 40% dân số, 55% tổng GDP và 44% thương mại thế giới. Những năm qua, trong khi các khu vực khác gặp khó khăn kinh tế, các nước Châu Á – Thái Bình Dương vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và trở thành đầu tầu phục hồi kinh tế thế giới.

Về chính trị, Châu Á – Thái Bình Dương trở thành một trong những khu vực biến động nhất thế giới. Tính chất phức tạp của tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo ở khu vực; quá trình Trung Quốc vươn ra cả về kinh tế và quân sự cùng với việc Mỹ thúc đẩy chiến lược tăng cường sự hiện diện mọi mặt, nhất là về an ninh, quân sự làm cho khu vực luôn ở trạng thái hòa dịu xen lẫn căng thẳng. Các vấn đề do lịch sử để lại, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo và những biến động chính trị, chiến lược cũng làm cho chủ nghĩa dân tộc ở một số địa bàn nổi lên mạnh mẽ.

ASEAN và từng nước thành viên đều đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Tốc độ liên kết còn chậm. Việc xây dựng Cộng đồng có tiến triển nhưng mức độ thực chất còn thấp. ASEAN tiếp tục là một tổ chức chưa thật chặt chẽ nhưng vẫn có vai trò quan trọng trong việc điều hòa lợi ích giữa các nước lớn đối với khu vực.

II. Những tác động đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Nhìn nhận từ cục diện, xu hướng phát triển của tình hình thế giới và hướng chiến lược, chính sách của các nước lớn có thể đưa đến những tác động đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của nước ta theo chiều thuận và không thuận.

1. Tác động thuận

Thứ nhất, quá trình toàn cầu hóa cùng với xu hướng phát triển của các liên kết tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực tạo ra những cơ hội để có thể tranh thủ mở rộng thị trường, thu hút đầu tư vốn và công nghệ để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu của các nền kinh tế lớn và các tập đoàn đa quốc gia, tăng cường đầu tư trực tiếp vào nước ta sẽ tạo cơ hội gia tăng liên kết và đan xen lợi ích giữa Việt Nam và các nước, góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định.

Thứ hai, từ những yếu tố ràng buộc, tác động tùy thuộc lẫn nhau tạo ra môi trường thuận lợi để có thể tập trung cho phát triển; cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đều tránh đối đầu trực tiếp, thỏa hiệp giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích, bất đồng. Các nước lớn gia tăng cạnh tranh ảnh hưởng nhưng đều có lợi ích chung trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á. ASEAN tuy còn nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển Cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong các tiến trình hợp tác ở khu vực. Ở mức độ khác nhau, các nước đều quan tâm đến và mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Thứ ba, với vị trí địa chính trị, địa kinh tế và là một nước lớn ở Đông Nam Á, một thành viên có vai trò ngày càng quan trọng trong ASEAN, Việt Nam có cơ hội tranh thủ tất cả các nước bên trong và ngoài khu vực phục vụ cho mục tiêu bảo đảm an ninh và thúc đẩy phát triển.

Thứ tư, Việt Nam có cơ hội phát huy vai trò tích cực trong quá trình hình thành kiến trúc khu vực, có điều kiện để nâng cao vị thế và sử dụng vị thế của mình để phục vụ hiệu quả hơn cho mục tiêu phát triển phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kể cả mục tiêu cụ thể trong quan hệ với các đối tác chủ chốt, nhất là các nước lớn.

2. Tác động không thuận

Thứ nhất, cạnh tranh ngày càng gay gắt, quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và cuộc đua về kinh tế trong quá trình hội nhập có thể đẩy Việt Nam vào thế bất lợi (chuyển giao công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường; khai thác kiệt quệ tài nguyên…), gia tăng nguy cơ tụt hậu xa hơn với các nước trong khu vực và rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp.

Thứ hai, nguy cơ rơi vào thế “kẹt” giữa Mỹ và Trung Quốc trong một số vấn đề, hoặc là bị cả hai bên lôi kéo, hoặc là phải ở thế “lưỡng đầu thọ địch”; vấn đề Biển Đông vẫn còn diễn biến phức tạp.

Thứ ba, thách thức về an ninh truyền thống và phi truyền thống có thể nghiêm trọng hơn. An ninh kinh tế, nhất là an ninh tài chính, an ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp. Các diễn biến tiêu cực về kinh tế - xã hội trong nước cùng với sự lợi dụng phá hoại của các thế lực thù địch bên ngoài có thể tác động tới an ninh chính trị, ổn định xã hội của đất nước.

III. Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết

Hiện nay, trong quan hệ quốc tế đang hình thành những mối liên kết, liên minh, tập hợp lực lượng đan xen nhau rất linh hoạt, co dãn và cơ động tùy theo vấn đề, tùy theo khu vực, tùy theo thời điểm và tùy theo lợi ích. Tất cả điều đó tạo ra những thời cơ và thách thức mới, tác động tới quốc phòng và an ninh của nước ta cả theo chiều thuận và không thuận. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để có thể nắm chắc tình hình, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước tiếp tục phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nêu những vấn đề vừa cơ bản, vừa bức thiết đang đặt ra và hướng giải quyết như sau:

1. Công tác dự báo của Việt Nam còn có mặt hạn chế. Vì vậy cần đặc biệt coi trọng công tác dự báo chiến lược, trong đó các lĩnh vực tình báo và nghiên cứu khoa học về an ninh – quân sự đóng vai trò quan trọng; đổi mới tư duy an ninh quốc gia trong tình hình mới. Phải xác định đúng vị thế quốc gia hiện tại và dự báo tương lai, lợi ích quốc gia trước mắt và lâu dài, thực lực và tiềm lực quốc phòng – an ninh; trên cơ sở đánh giá và dự báo sát tình hình để hoạch định chính xác định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là vấn đề cốt lõi trong quan hệ với quốc tế nên cần xây dựng chiến lược đối ngoại dài hạn trong quan hệ với các khu vực, với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống. Đẩy mạnh công tác dối ngoại (cả chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh) theo phương châm “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và có trách nhiệm của các nước trên thế giới”. Thường xuyên chăm lo củng cố và tăng cường mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, hướng tới thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước ASEAN, củng cố đoàn kết nội bộ khối, tích cực thúc đẩy xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN, giữ vững, duy trì vai trò chủ đạo của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Chủ động tăng cường quan hệ với Trung Quốc và cân bằng hợp lý quan hệ chiến lược với các nước lớn khác, tránh bị phụ thuộc vào một nước lớn nào đó. Trên cơ sở chính nghĩa và luật pháp quốc tế, giữ gìn hòa bình và ổn định, linh hoạt ứng xử trong các vấn đề quốc tế, không để bất cứ bên nào lôi kéo cuốn vào vòng tranh chấp.

3. Nền kinh tế của Việt Nam còn nhiều điểm yếu kém khi hội nhập đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, phát triển bền vững, độc lập tự chủ. Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Coi trọng xây dựng đội ngũ doanh nhân tài đức song toàn. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, tăng cường quản lý vĩ mô, quản lý rủi ro; đổi mới hoạt động giám sát các nguồn vốn đầu tư nước ngoài; bảo hộ thích đáng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước.

4. Trước những thách thức mới của tình hình thế giới và khu vực cùng với một số diễn biến phức tạp trong nước, nhiệm vụ đặt ra là hiện đại hóa Quân đội, tăng cường khả năng và tiềm lực quốc phòng đủ sức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và các lợi ích quốc gia, tăng cường tiềm lực an ninh để giữ vững an inh chính trị và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong nước. Kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững mạnh, tranh thủ sự ủng hộ và hỗ trợ quốc tế, đấu tranh ngoại giao để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

5. Phải tạo lập thế và lực mới của đất nước trên cơ sở củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng, các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đất nước (nhất là sức mạnh của hệ thống chính trị làm nòng cốt) kết hợp sức mạnh trong nước với sự ủng hộ quốc tế để bảo vệ an ninh quốc gia. Tham khảo các mô hình quản lý và phát triển kinh tế - xã hội mà các nước láng giềng, bè bạn đã thực hiện thành công để có thể áp dụng vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam một cách hợp lý.

6. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố quyết định để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế nên cần tăng cường công tác chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh, ổn định tình hình chính trị trong nước. Lấy dân làm gốc, khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài, phát huy dân chủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, kiên quyết phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, tham nhũng; nâng cao đời sống nhân dân. Chủ động hóa giải các mâu thuẫn trong nhân dân, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới./.

 

GS.TS Vũ Văn Hiền

 Phó Chủ tịch HĐLLTW

     



[1] Xem: GS.TS Phùng Hữu Phú – PGS.TSKH Nguyễn Văn Đặng, PGS.TS Nguyễn Viết Thông: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.76.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.71-73.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết