Thứ Ba, ngày 07 tháng 04 năm 2020

Nhận thức về đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế ở Việt Nam

Ngày phát hành: 15/03/2020 Lượt xem 149

                                                           

 

1. Các khái niệm cơ bản về "đổi mới chính trị", "đổi mới kinh tế" và quan niệm về "đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế"

Các khái niệm, quan niệm này là sản phẩm của thời kỳ đổi mới đất nước, mà trước hết được thể hiện trong các chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật của các Đảng và Nhà nước, từ đó dần lan tỏa, vận dụng, trở thành nhận thức chung của xã hội Việt Nam (góc độ của chuyên đề này, trước hết chú trọng đến các chủ trương, đường lối của Đảng).

"Đổi mới chính trị" là đổi mới tư duy về chính trị, khác với tư duy này trước đây (trước thời kỳ đổi mới) đã không còn phù hợp (lạc hậu, không sát thực…), bao gồm các chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật về những vấn đề chính trị cơ bản ở Việt Nam hiện nay là: xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc…

"Đổi mới về kinh tế" là đổi mới tư duy về kinh tế, khác với tư duy này trước đây (trước thời kỳ đổi mới) đã không còn phù hợp (lạc hậu, không sát thực…), bao gồm các chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật về những vấn đề kinh tế cơ bản ở Việt Nam hiện nay: xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với kinh tế tri thức; phát triển đồng bộ nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam…

"Đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế": Chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực lớn và cơ bản nhất của một chế độ chính trị xã hội, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng sâu sắc.

Trước hết, mối quan hệ này là tập trung biểu hiện của mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của một hình thái kinh tế - xã hội nói chung. Trong đó, suy cho cùng, cơ sở hạ tầng, tức kinh tế giữ vai trò quyết định. Đồng thời, kiến trúc thượng tầng - chính trị cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng.

V.I.Lênin đã khái quát bản chất mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị như sau: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế"[1]; "Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại"[2]. Sự khẳng định này có nghĩa, chính trị ra đời từ kinh tế, do kinh tế quyết định; chính trị là sự phản ánh, là tính thứ hai so với kinh tế. Chính trị phải được xây dựng trên cơ sở kinh tế, không được thoát ly những đặc trưng và những nhiệm vụ kinh tế của xã hội. Khi cơ sở kinh tế biến đổi, chính trị phải biến đổi theo để phản ánh đúng cơ sở kinh tế, phù hợp với kinh tế để tạo được môi trường tốt nhất cho kinh tế phát triển theo đúng quy luật khách quan.

Đồng thời với việc thừa nhận tính thứ nhất của kinh tế, Lênin cũng cho rằng, "chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế"[3]. Khẳng định đó của Lênin đã nhấn mạnh tính độc lập tương đối và vai trò tác động trở lại rất tích cực của chính trị đối với kinh tế. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế thông qua sức mạnh của các thể chế của hệ thống chính trị, đặc biệt là của nhà nước được thể hiện ở chỗ nếu một nền chính trị đúng đắn, khoa học, phù hợp với cơ sở kinh tế của xã hội hiện tại thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, và vì thế, nó sẽ góp phần to lớn vào tăng trưởng kinh tế, giải phóng sức sản xuất, làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Ngược lại, nếu chính trị sai lầm, không khoa học, không phù hợp với thực tiễn kinh tế thì nó sẽ là lực lượng kìm hãm sự phát triển kinh tế, thậm chí đẩy kinh tế vào khủng hoảng, và hậu quả đi kèm tất yếu là mất ổn định chính trị - xã hội.

Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ giữa kinh tế với quyền lực chính trị. Nói cách khác, đó là mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước với kinh tế hướng tới sự phát triển kinh tế, nhằm bảo vệ chế độ chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Giải quyết quan hệ chính trị với kinh tế trực tiếp quyết định tới mục tiêu của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế. Hơn nữa, nó còn quan hệ tới việc định hướng cho sự phát triển kinh tế, bởi giải quyết quan hệ này trên quan điểm lý tưởng nào? Vì ai? Do đó, từ gócđộ quan hệ với kinh tế, vấn đề chính trị thực chất là vấn đề định hướng, tạo động lực cho phát triển kinh tế.

 

 

Trong xã hội có giai cấp, giai cấp, nhóm xã hội nào nắm được quyền lực chính trị là nắm được công cụ cơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với giai cấp, nhóm xã hội khác theo hướng có lợi cho giai cấp mình, nhóm mình. Vì vậy, tác động của chính trị đến kinh tế thể hiện tập trung ở sự tác động của quyền lực chính trị (biểu hiện tập trung quyền lực nhà nước) đối với kinh tế. Về cơ bản, sự tác động đó thể hiện trên ba phương diện: cương lĩnh, đường lối chính trị với chính sách kinh tế; tổ chức, thiết chế chính trị với kinh tế; con người, chủ thể giải quyết mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế[4].

Từ mối quan hệ biện chứng khách quan như nêu trên giữa chính trị và kinh tế, mà trong chỉ đạo thực tiễn phát triển chính trị và kinh tế phải chú trọng đảm bảo tính hài hòa để làm cho cả chính trị và kinh tế đồng phát triển, góp phần và làm cơ sở vào sự phát triển nói chung. Vận dụng tinh thần này, trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đổi mới chính trị phải đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế. Cụ thể là:

- Đổi mới chính trị hay đổi mới kinh tế phải được tiến hành ở cả các nội dung cơ bản của chúng. Tất nhiên, trong đó có trọng tâm, trọng điểm và lộ trình khác nhau.

- Ở mỗi nội dung cơ bản, trong đó cũng chú trọng giải quyết hài hòa yếu tố chính trị và kinh tế. Ví dụ: phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cần giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường hoặc giữa tăng trưởng kinh tế với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quốc dân.

- Sự đồng bộ, phù hợp giữa chính trị và kinh tế lại mang tính tương đối, nó sẽ bị phá vỡ nếu không được điều chỉnh qua mỗi thời điểm lịch sử cụ thể.

- Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới được tập trung ở 9 mối quan hệ lớn mà Đại hội XII nêu ra là: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc sở hữu chủ nghĩa; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Thực tế ở nước ta hiện nay, có thể khái quát thành 4 quan hệ đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh ế cần quan tâm nhất sau đây:

- Đảng lãnh đạo đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Đổi mới chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế.

- Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững ổn định chính trị trong hội nhập kinh tế quốc tế.

 

2. Quá trình nhận thức về đổi mới chính trị, đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế của Đảng ta

Một là, những năm đầu của thời kỳ đổi mới - chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ.

Tại Đại hội VI (1986), trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế, từ đó khẳng định yêu cầu trước hết là phải đổi mới tư duy chính trị trong xác định đường lối đối nội và đối ngoại. "Vì vậy, phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội lần thứ VI đề ra"[5].

Trong quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Đảng ta xác định trước hết phải đổi mới kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước. Nhưng quản lý này phải bằng pháp luật: "Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhà nước lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật"[6]. Đổi mới chính sách giai cấp phải đồng thời với đổi mới được dân tộc: "Chính sách giai cấp (bao gồm chính sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối quan hệ với các lợi ích của các giai cấp" và chính sách dân tộc luôn luôn là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội"[7]. Phải đổi mới, kiện toàn hệ thống chuyên chính vô sản, giữ vững ổn định chính trị - xã hội tạo tiền đề cho công cuộc đổi mới. Như vậy, với việc đổi mới tư duy chính trị trong hoạch định đường lối, chính sách của Đại hội VI, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm đổi mới chính trị. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) nêu 6 nguyên tắc đổi mới, nhấn mạnh đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị.

Đến Đại hội VII (1991) Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm là: Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Văn kiện Đại hội ghi rõ: "Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội"[8]. Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII xác định một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng nhằm tiếp tục bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, chấn chỉnh những nhận thức lệch lạc trong đổi mới cả kinh tế và chính trị.

Đảng ta nhấn mạnh rằng: "Vì chính tư duy chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên việc đổi mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị"[9]. Vì thế trong bối cảnh đất nước còn đang trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, Đảng ta chủ trương phải tập trung đổi mới kinh tế trước. Vì theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xét đến cùng, kinh tế là nhân tố quyết định. Có đổi mới, phát triển kinh tế mới tạo lập được các điều kiện cơ bản để giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tiến hành đổi mới chính trị thuận lợi. Bên cạnh đó phải đổi mới chính trị để mở đường thúc đẩy phát triển kinh tế, nếu không chính trị sẽ cản trở kinh tế.

Tóm lại, những năm đầu thời kỳ đổi mới, với mục tiêu lấy ổn định làm tiền đề đổi mới, Đảng ta xác định ưu tiên đổi mới kinh tế trước, trên cơ sở đó, từng bước đổi mới chính trị, mà chủ yếu là đổi mới hệ thống chính trị.

Hai là, bước vào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sau hai nhiệm kỳ đổi mới, đất nước đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về mối quan hệ đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, Đảng ta có xác định mới trong Văn kiện Đại hội VIII (1996) là: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị"[10].

Nếu xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội.

Trong việc đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, chúng ta đã đi những bước thận trọng và vững chắc, bắt đầu từ giải quyết những vấn đề cấp bách nhất và đã chín muồi, với nhận thức đây là việc rất cần thiết nhưng đặc biệt phức tạp, nhạy cảm và nếu vội vã để xảy ra sai lầm sẽ phải trả giá rất đắt, có khi không cứu vãn được.

Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Bài học lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích. Dứt khoát bác bỏ mọi mưu toan lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền" nhằm gây rối về chính trị, chống phá chế độ, hoặc can thiệp vào nội bộ nước ta. Không chấp nhận đa nguyên đa đảng.

Đến Đại hội IX (2001) Đảng ta tiếp tục có nước ta tư duy về chính trị xác định chiến lược phát triển kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; đưa nước ta trước một nước công nghiệp. Tương ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng thể hiện quyết tâm đổi mới hệ thống chính trị: "Cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn"… "Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức, quan liêu, xa dân"[11]. Đổi mới đồng bộ chính sách giai cấp và chính sách kinh tế - xã hội. "Chính sách và pháp luật của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân và sinh hoạt dân chủ trong xã hội. Xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, phát huy mọi khả năng sáng tạo của nhân dân. Đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, đặc biệt là các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phân phối, tiêu dùng, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của công dân…"[12].

Đến Đại hội X (2006), sau 20 năm đổi mới, từ thực tiễn Đảng ta nhấn mạnh rằng, "Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp"[13]. Và tinh thần đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế được thể hiện rõ trong 5 bài học lớn mà Đảng ta rút ra là:

- Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.

 

- Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội.

- Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển, đó là chìa khóa của thành công.

- Phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững, trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người. Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.

Qua tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần được giải đáp. Sau Đại hội X, Đảng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển Cương lĩnh, làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội[14].

Ba là, thời kỳ đất nước ra khỏi tình trạng mới kém phát triển, thực hiện Cương lĩnh 2011 đến nay.

Chỉ sau 15 năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996-2011) có bước phát triển vượt bậc: Ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển để đứng vào đội ngũ những nước đang phát triển. Lúc này, Đại hội XI (2011) xác định 5 quan điểm phát triển, trong đó có quan điểm: "Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Tinh thần cụ thể của quan điểm này là: Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả quá trình đổi mới[15].

Đại hội đã ra Cương lĩnh, trong đó nêu rõ 8 đặc trưng mang tính toàn diện của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta hướng tới xây dựng[16], đồng thời chỉ rõ Mục tiêu tổng quát khi hết thời kỳ quá độ ở nước ta, theo cơ cấu của một hình thái kinh tế - xã hội, trong đó hài hòa giữa chính trị - kinh tế - xã hội: "…xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh"[17].

Đến Đại hội XII (2016), sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững. Đảng tiếp tục có nhận thức mới về phát triển phù hợp, đồng bộ giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế.

Ở Đại hội X, nêu 3 trụ cột phát triển được xác định là: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội thì Đại hội XII thêm: "đảm bảo quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên"[18] và bổ sung "phát triển kinh tế là trung tâm" thành "phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm"

Trong mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước của nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đưa ra quan điểm chỉ đạo: đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế và chính trị. Cụ thể là: "…tiếp tục thực hiện có hiệu quả các phương hướng, nhiệm vụ đúng đắn đã được đề ra trong các nghị quyết của Đảng, đồng thời đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị. Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nhằm khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực của đất nước, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững. Nhận thức đúng và xử lý tốt các nhân tố tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập: kết hợp hài hòa các lợi ích; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy nhân tố con người; vai trò của khoa học - công nghệ…"[19].

 

PGS.TS Phan Thanh Khôi

Học viện Chính trị QG Hồ Chí Minh

 



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.42, tr.349.

[2] V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.45, tr.147.

[3] V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.349.

[4] Xem: GS.TS. Dương Xuân Ngọc (chủ biên): Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.36-37.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.125.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.117.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.96

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr.54.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr.54.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.71, 72.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.47

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.124.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.70

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.70-72.

[15] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.99.

[16] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.99.

[17] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70

[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.64.

[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.76.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết