Thứ Hai, ngày 20 tháng 01 năm 2020

Quán triệt và xử lý tốt các mối quan hệ lớn (phần 2)

Ngày phát hành: 22/11/2019 Lượt xem 113

4. Quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nhà nước, thị trường và xã hội có chức năng, vai trò riêng, khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội là quan hệ lớn, rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, tạo nên cơ chế vận hành và đặc trưng riêng của các mô hình kinh tế thị trường khác nhau. Trong ba yếu tố nhà nước, thị trường và xã hội, vai trò của yếu tố xã hội, các tổ chức xã hội và mối quan hệ của nó với nhà nước và với thị trường là vấn đề mới nổi lên, có ý nghĩa ngày càng lớn trong nền kinh tế thị trường hiện đại, trong khi vai trò của các yếu tố nhà nước và thị trường, mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường là vấn đề đã xuất hiện, được đặt ra xem xét và giải quyết trong suốt lịch sử hình thành và phát triển kinh tế thị trường trên thế giới.

Thời kỳ đầu khi kinh tế thị trường mới phát triển ở các nước tư bản phương Tây thế kỷ 17, 18, các nền kinh tế thị trường đều được điều tiết tự phát bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, bởi các quy luật kinh tế khách quan của kinh tế thị trường. Các học thuyết kinh tế ra đời trong thời kỳ này đều cổ vũ cho vai trò điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường. Mặc dù vai trò kinh tế của nhà nước không hoàn toàn bị phủ nhận, nhưng thời kỳ này, nhà nước chỉ có chức năng bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, duy trì trật tự xã hội mà không can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Các nền kinh tế thị trường tự do, được điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường đã thúc đẩy nền kinh tế các nước tư bản phát triển mạnh mẽ, tạo ra khối của cải khổng lồ, vượt xa các thời đại trước. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế thị trường tự do, được điều tiết bởi thị trường cũng đưa đến những hậu quả tiêu cực: đưa đến các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, phá hủy, đẩy lùi sự phát triển kinh tế; dẫn đến phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng, gây mất ổn định xã hội và làm ô nhiễm môi trường; ảnh hưởng tới môi trường sống của con người; dẫn đến độc quyền, cản trở cạnh tranh, hạn chế động lực phát triển. Những hậu quả này được coi là những thất bại của thị trường.

Do những thất bại của thị trường, đặc biệt là sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản đầu thế kỷ 20, ở một số nước kinh tế phát triển hàng đầu lúc đó, nhà nước đã có nhiều chính sách điều chỉnh, can thiệp vào nền kinh tế. Đồng thời, cũng xuất hiện những lý thuyết kinh tế mới phê phán mô hình kinh tế thị trường tự do đề cao vai trò điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường và khẳng định kinh tế thị trường phải có vai trò điều tiết của “bàn tay hữu hình” của nhà nước để hạn chế những khuyết tật của thị trường. Vai trò của nhà nước được đề cao trong quản lý nền kinh tế thị trường ở nhiều nước đã đưa lại những kết quả tích cực, ngăn ngừa khủng hoảng kinh tế chu kỳ, giảm bớt hậu quả tiêu cực khi khủng hoảng nổ ra, đem lại sự phát triển kinh tế ổn định hơn. Tuy nhiên, lại xuất hiện những hiện tượng mới: sự lạm dụng, sự can thiệp quá mức, không hợp lý của nhà nước đã làm “méo mó” các quan hệ thị trường, cản trở cạnh tranh công bằng, bình đẳng giữa các doanh nghiệp; làm các nguồn lực cho phát triển kinh tế, nhất là đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, nguồn lực tài chính, không được phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả; làm nảy sinh, phát triển nạn quan liêu, tham nhũng, quan hệ “thân hữu” giữa công chức nhà nước với doanh nghiệp. Từ thực tiễn đó, vào những năm nửa cuối thế kỷ 20, đã ra đời những lý thuyết kinh tế mới, những mô hình kinh tế thị trường mới, hỗn hợp, vừa có điều tiết của thị trường, vừa có điều tiết của nhà nước, chức năng của nhà nước, của thị trường, mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường được điều chỉnh theo hướng cân bằng và linh hoạt hơn, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Đây là mô hình kinh tế thị trường hiện đại phổ biến ở các nước phát triển trên thế giới hiện nay, dù có những biến thể khác nhau.

Với những thành tựu phát triển kinh tế đạt được, cùng với trình độ dân trí, dân chủ ngày càng cao ở các nước kinh tế phát triển, các nước này ngày càng quan tâm tới lĩnh vực xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, quan tâm tới phát triển con người, bảo vệ môi trường; đồng thời, đề cao vai trò, tạo khung khổ, cơ sở pháp luật, điều kiện cho các tổ chức xã hội tham gia vào các quan hệ kinh tế, vào cơ chế vận hành và điều tiết hoạt động của nền kinh tế thị trường, như: tham gia vào bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quan hệ với giới chủ, người sử dụng lao động; phối hợp, điều tiết hoạt động, bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong cùng một hiệp hội ngành hàng, một địa phương, một vùng; hình thành nên những tổ chức xã hội tự quản, hình thức làm chủ trực tiếp của người dân, được nhà nước ủy quyền thực hiện chức năng quản lý trên một số lĩnh vực, trong những phạm vi nhất định; tổ chức các cuộc vận động bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người, bảo vệ người tiêu dùng... Vai trò của các tổ chức xã hội trong vận hành nền kinh tế thị trường hiện đại có xu hướng ngày càng tăng. Đây là xu hướng tiến bộ.

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, thị trường, với tác động của các quy luật kinh tế khách quan, đặc thù của mình, là yếu tố trực tiếp điều tiết giá cả, sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc doanh nghiệp yếu kém, điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Nhà nước tạo khung khổ pháp luật, môi trường cho thị trường vận hành, cho các tổ chức xã hội ra đời, hoạt động. Đồng thời, Nhà nước tôn trọng, tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường; hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước và việc phân bổ các nguồn lực nhà nước phải theo cơ chế thị trường. Các tổ chức xã hội kết nối Nhà nước và thị trường, phản ánh với Nhà nước tình hình thị trường, phản biện và giám sát thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước; đồng thời tác động cả đến cung, cầu trên thị trường.

Ở nước ta, ngay từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001), khi Văn kiện Đại hội xác định kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã quan tâm tới giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường khi đề ra nhiệm vụ “hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh; tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, tạo môi trường pháp luật thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển...”[1]. Sau Đại hội IX, qua các Đại hội X, XI, tới Đại hội XII (2016) của Đảng, nhận thức, quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường ngày càng rõ, đầy đủ, hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, với các nền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn của đất nước. Vai trò của Nhà nước là ban hành luật pháp, chính sách, xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp luật, môi trường, định hướng cho hình thành và vận hành các thị trường, cho các quy luật của kinh tế thị trường hoạt động; đồng thời, sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước để tác động tới các quan hệ thị trường. Song luật pháp, chính sách của Nhà nước, thể chế kinh tế phải phù hợp, đáp ứng yêu cầu vận hành, phát triển của kinh tế thị trường định hướng XHCN; hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, huy động, phân bổ các nguồn lực của kinh tế nhà nước phải theo cơ chế thị trường. Thị trường, với sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan, như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, là yếu tố quyết định giá cả hàng hóa, huy động và phân bổ các nguồn lực (kể cả các nguồn lực kinh tế của Nhà nước), điều tiết sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc doanh nghiệp yếu kém (kể cả doanh nghiệp nhà nước). Đến Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), lần đầu tiên, Đảng nêu quan điểm cần phải quan tâm tới phát huy vai trò của yếu tố xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương yêu cầu cần phải xác định rõ “vai trò, chức năng và mối quan hệ của nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường”[2].

Trong những năm qua, chủ trương, quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội đã được thể chế hóa thành luật pháp, chính sách của Nhà nước, được tổ chức thực hiện có kết quả trong thực tế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng mệnh lệnh hành chính như trong nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây, mà tập trung vào xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế để phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế; bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, kiểm soát độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cho sự hình thành, phát triển các loại thị trường. Doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi phải được cơ cấu lại, đổi mới tổ chức, quản lý để hoạt động theo cơ chế thị trường. Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước cũng đòi hỏi phải được huy động, phân bổ theo cơ chế thị trường để sử dụng có hiệu quả. Đồng thời, Nhà nước bằng luật pháp, chính sách và nguồn lực kinh tế của mình đã hạn chế, khắc phục những khiếm khuyết, thất bại của thị trường, duy trì các cân đối lớn, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa khủng hoảng kinh tế; hạn chế sự cách biệt quá lớn về thu nhập, tài sản giữa các tầng lớp xã hội và tình trạng ô nhiễm môi trường...

Các thị trường phát triển ngày càng đồng bộ, ngày càng phát huy vai trò thúc đẩy phát triển và điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Hầu hết giá cả hàng hóa, dịch vụ đã do thị trường xác định, kể cả giá các dịch vụ công; cơ chế đấu giá, thẩm định giá, đấu thầu ngày càng được mở rộng; không lồng ghép các chính sách xã hội vào giá mà các hỗ trợ của Nhà nước được chuyển trực tiếp tới các đối tượng được hưởng lợi. Sản xuất và lưu thông hàng hóa, về cơ bản, đã do thị trường điều tiết. Hàng hóa được chuyển tới nơi có giá cao, cung nhỏ hơn cầu. Doanh nghiệp cũng điều chỉnh sản xuất theo tín hiệu giá cả, cung - cầu trên thị trường. Việc huy động, phân bổ các nguồn lực phát triển, nhất là các nguồn lực kinh tế của Nhà nước, việc thực hiện các dự án đầu tư của Nhà nước cũng đã từng bước được thực hiện theo cơ chế thị trường; thông qua đấu thầu cạnh tranh, công khai, minh bạch với sự tham gia của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Mặc dù đến Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII, 6/2017), Nghị quyết của Đảng mới đặt ra yêu cầu xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng của yếu tố xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhưng trong thực tế vai trò của các tổ chức xã hội đã được coi trọng, các tổ chức xã hội đã tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội đã tham gia phản biện, giám sát hoạt động của các cơ quan, công chức Nhà nước; tổ chức công đoàn đã tham gia vào ký kết các thỏa ước lao động tập thể giữa người lao động và người sử dụng lao động. Nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp đã liên kết, phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp thành viên, tham gia xử lý các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên; được Nhà nước ủy quyền cấp chứng chỉ xác định trình độ nghề nghiệp, đào tạo nghề, thẩm định giá, thẩm định chất lượng các sản phẩm, các công trình...

Tuy nhiên, nhận thức về mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội và nhất là xử lý mối quan hệ này trong quản lý sự vận động, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đến nay vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Vẫn còn tình trạng các cơ quan nhà nước chưa tập trung làm tốt vai trò, chức năng của mình, luật pháp, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục hành chính còn phiền hà, môi trường đầu tư kinh doanh chưa thông thoáng, ổn định, công khai, minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp và các thị trường hoạt động; nhưng lại làm thay vai trò, chức năng của thị trường, hạn chế vai trò của thị trường. Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ quan trọng vẫn do Nhà nước quyết định. Quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chưa được thực hiện đầy đủ. Huy động và phân bổ các nguồn lực, nhất là các nguồn lực của Nhà nước, trong rất nhiều trường hợp, vẫn còn chưa thực hiện theo cơ chế thị trường, chưa thông qua đấu thầu cạnh tranh công khai, minh bạch mà vẫn còn cơ chế “xin - cho”. Các thị trường vận hành, phát triển còn nhiều vướng mắc, vai trò còn hạn chế. Thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ, phát triển chậm, quy mô nhỏ, vận hành chưa thống suốt; thị trường đất đai, bất động sản phát triển chưa lành mạnh; tình trạng vi phạm pháp luật, đầu cơ, tranh chấp, khiếu kiện còn nhiều; việc quản lý chất lượng hàng hóa, chống hàng giả, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chống buôn lậu, trốn thuế trên thị trường hàng hóa, dịch vụ vẫn là nhiệm vụ cấp bách... Vai trò của các tổ chức xã hội chưa được phát huy đầy đủ. Chất lượng hoạt động phản biện, giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội còn hạn chế. Nhiều tổ chức chưa làm tốt được vai trò bảo vệ lợi ích của các thành viên, hội viên trong nền kinh tế thị trường. Nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp vai trò còn mờ nhạt, chưa kết nối, phối hợp, hỗ trợ giải quyết có kết quả các xung đột lợi ích giữa các thành viên...

Do đó, cần phải tiếp tục thống nhất nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta. Về nhận thức, cần khẳng định đây là những quan hệ có vai trò rất lớn, quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế thị trường. Việc giải quyết các quan hệ này, một mặt, cần phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực chung, những thông lệ của các nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế trên thế giới; mặt khác, phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù, trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta hiện nay. Trong mối quan hệ này, vấn đề không phải nhà nước nhiều, thị trường ít, nhà nước mạnh, thị trường yếu hay ngược lại nhà nước nhỏ, thị trường lớn mà là cả nhà nước, thị trường và xã hội đều phải có vai trò, chức năng hợp lý trong từng hoàn cảnh, giai đoạn, trình độ phát triển của nền kinh tế và phải thực hiện đúng vai trò, chức năng của mình để thúc đẩy sự phát triển nhanh, hiệu quả bền vững kinh tế đất nước và bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế.

Theo nhận thức và quan điểm đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước. Nhà nước tập trung vào xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, khắc phục những chồng chéo, mâu thuẫn; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật, kỷ cương trong việc tổ chức thực hiện... để thực hiện tốt vai trò kiến tạo phát triển, tạo ra điều kiện, môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các thị trường hoạt động hiệu quả. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cơ chế thị trường...

Đồng thời, phát triển mạnh, đồng bộ các thị trường theo hướng hiện đại từ cơ sở hạ tầng, phương thức giao dịch, phương thức thanh toán; kiểm định, đánh giá, quản lý chất lượng hàng hóa; bảo đảm an ninh, an toàn, xử lý tranh chấp, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia thị trường, nhất là lợi ích của người mua, người tiêu dùng. Phát huy đầy đủ vai trò của thị trường trong việc xác định giá cả hàng hóa, thu hẹp tối đa phạm vi giá cả hàng hóa do nhà nước quy định; trong việc phân bổ các nguồn lực, nhất là các nguồn lực của nhà nước, xóa bỏ cơ chế “xin - cho” gây tham nhũng, lãng phí, để các nguồn lực được sử dụng có hiệu quả cao; trong việc điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thanh lọc doanh nghiệp yếu kém bằng việc cho phá sản những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật, kể cả đối với doanh nghiệp nhà nước...

Tiếp tục phát huy vai trò, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội đối với chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, với các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong việc tổ chức thực hiện. Phát huy vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của công nhân, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Tạo điều kiện phát triển và phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội ngành nghề trong việc phối hợp, điều hòa quan hệ giữa các thành viên hiệp hội, trong việc tham gia cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, tiếp cận và phát triển thị trường...

5. Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Lực lượng sản xuất, bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động, và quan hệ sản xuất, những quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất, tái sản xuất; trong đó, bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối, là hai mặt của mọi nền sản xuất xã hội. Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau. Lực lượng sản xuất là những yếu tố vật chất của quá trình sản xuất, thể hiện khả năng, trình độ khai thác thế giới tự nhiên của con người, biến những vật chất có sẵn trong tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho con người. Song, để tiến hành quá trình sản xuất, con người phải có quan hệ với nhau, đó là những quan hệ sản xuất, chỉ trong những quan hệ sản xuất đó mới có thể diễn ra quá trình sản xuất. Quan hệ sản xuất là do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định, phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; ở các trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có các quan hệ sản xuất khác nhau. Nhưng, quan hệ sản xuất có tác động ngược lại, tạo ra động lực thúc đẩy phát triển hay kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Cụ thể là, quan hệ sản xuất khi phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; khi không phù hợp thì kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, lực lượng sản xuất xã hội luôn phải phát triển không ngừng do tiến bộ của khoa học công nghệ và trình độ, kinh nghiệm của người lao động ngày càng cao, do đó, nhất định sẽ phá vỡ những quan hệ sản xuất lạc hậu, không phù hợp, tạo ra những quan hệ sản xuất mới, phù hợp, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đây là quy luật vận động khách quan của lịch sử, quy luật đã thúc đẩy xã hội loài người phát triển từ xã hội nguyên thủy sang xã hội nô lệ, sang xã hội phong kiến, xã hội tư bản và sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội.

Ở nước ta, khi miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra những đường lối công nghiệp hóa để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thay thế lao động thủ công bằng sử dụng máy móc, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; đồng thời, tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ; cải tạo, xóa bỏ kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư nhân nhỏ, cá thể; tiến hành tập thể hóa sản xuất trong nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, các lĩnh vực thương mại, dịch vụ; xây dựng các nhà máy, xí nghiệp của Nhà nước; thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp và phân phối bình quân để xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, với ý tưởng thiết lập quan hệ sản xuất mới đi trước, mở đường cho phát triển lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã cho thấy đường lối cải tạo, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa đó là chủ quan, duy ý chí, không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của nước ta còn là sản xuất nhỏ, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã làm mất động lực, cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế. Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đường lối kinh tế đó được thực hiện trên quy mô cả nước đã đưa đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài những năm 70-80 của thế kỷ trước.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 30 năm qua trên cơ sở đổi mới tư duy, quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH của nước ta. Đổi mới bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế mà nội dung cốt lõi là xóa bỏ quan hệ sản xuất không phù hợp, trói buộc, cản trở phát triển lực lượng sản xuất trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Những quan hệ sản xuất mới được xây dựng chính là những quan hệ của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Song đó là một quá trình dài.  Những đổi mới ban đầu mới chỉ là rỡ bỏ những trói buộc của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, mở rộng quyền tự chủ của người sản xuất bằng thực hiện khoán đến sản phẩm cuối cùng cho hộ gia đình trong nông nghiệp (theo chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóa V, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI); thực hiện kế hoạch 3 phần, phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh ở các xí nghiệp quốc doanh (theo Nghị định 25-CP và Nghị định 26-CP của Chính phủ năm 1981). Tiến thêm một bước nữa, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân được thừa nhận, cho phép tồn tại, phát triển và khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (theo Luật đầu tư nước ngoài năm 1988). Từ nền kinh tế chỉ có 2 hình thức sở hữu, hai thành phần kinh tế là sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước (toàn dân), kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, đã hình thành và phát triển nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước vẫn được xác định giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể là nền tảng của cả nền kinh tế. Cơ chế phân phối, lưu thông hàng hóa theo kế hoạch từng bước được xóa bỏ; hàng hóa, đầu tiên là hàng tiêu dùng, sau đó cả tư liệu sản xuất, các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất, đều được tự do lưu thông; các thị trường hình thành và phát triển. Giá cả cũng từng bước được chuyển từ cơ chế một giá (giá kế hoạch) sang cơ chế hai giá (giá kế hoạch và giá kinh doanh) và cuối cùng chuyển sang cơ chế một giá là giá thị trường với hầu hết hàng hóa. Nền kinh tế lúc này (cho đến Đại hội VIII của Đảng, năm 1996) rất nhiều quan hệ sản xuất cũ đã bị xóa bỏ, hình thành, phát triển nhiều quan hệ sản xuất mới, hình thành nên nền kinh tế mới được Đảng, Nhà nước xác định là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN.

Đến Đại hội IX của Đảng (2001), Đảng mới xác định kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Từ Đại hội IX đến nay, nhận thức, quan điểm của Đảng về kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục có những đổi mới, phát triển. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện để xây dựng, củng cố những quan hệ sản xuất đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trở thành một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được đổi mới, doanh nghiệp nhà nước được cơ cấu lại, cổ phần hóa để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh. Quản lý kinh tế được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước không sử dụng mệnh lệnh hành chính can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà quản lý kinh tế bằng pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, xây dựng, hoàn thiện thể chế và bằng sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước, để thực hiện mục tiêu giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và nền kinh tế hoạt động, đồng thời, thúc đẩy, điều tiết, định hướng phát triển của nền kinh tế. Các thị trường hình thành và phát triển ngày càng đồng bộ, quy mô ngày càng lớn, kết nối thị trường trong nước với thị trường thế giới; các quy luật của kinh tế thị trường phát huy tác động, trở thành yếu tố chủ yếu quyết định giá cả hàng hóa, huy động và phân bổ các nguồn lực sản xuất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém... Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam, về cơ bản, đã vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với đoạn phát triển hiện nay của đất nước.

Những quan hệ kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đó là những quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của nền kinh tế nước ta hiện nay, do đó, đã tạo động lực thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử những năm vừa qua, đã đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài nhiều năm; nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài, quy mô, trình độ khoa học công nghệ của nền kinh tế tăng lên, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng trở thành nước công nghiệp. Đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, đời sống nhân dân được cải thiện. Thế và lực, uy tín quốc tế của đất nước tăng lên, tạo ra những tiền đề, điều kiện quan trọng để đất nước tiếp tục phát triển trong thời kỳ mới.

Tuy nhiên, vẫn còn không ít những vấn đề về hoàn thiện thể chế kinh tế, hoàn thiện quan hệ sản xuất cần phải giải quyết để thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển, như: vẫn còn những rào cản thể chế đối với quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; tiềm năng phát triển của các thành phần kinh tế chưa được phát huy. Các thị trường, nhất là thị trường các yếu tố đầu vào, các nguồn lực của sản xuất còn chưa phát triển, bị “méo mó” bởi cơ chế “xin - cho” và nhiều rào cản làm cho các nguồn lực chưa được huy động, phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả. Việc cơ cấu lại, đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước còn chậm; hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, nguồn lực nhà nước đầu tư. Sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường còn chưa chặt chẽ, kinh tế phát triển nhưng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội xuống cấp, phân hóa giàu nghèo gia tăng...

Để thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế đất nước, cần phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp, trong đó, có một số vấn đề cấp thiết phải tập trung giải quyết là:

- Hoàn thiện thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tinh giản tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế của Nhà nước, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, công khai, minh bạch, thực hiện đầy đủ quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Thể chế phải tạo ra những quan hệ kinh tế khuyến khích đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp, hình thành những mô hình kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh mới trên cơ sở ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất (thị trường đất đai, tài nguyên; thị trường vốn, tài chính, tiền tệ; thị trường khoa học công nghệ; thị trường lao động). Thực hiện đầy đủ quyền tự do kinh doanh, tự do luân chuyển hàng hóa; xóa bỏ những rào cản, phân biệt đối xử khi gia nhập thị trường và sự vận hành thông suốt của thị trường. Phát huy vai trò của thị trường, các quy luật của kinh tế thị trường trong việc quyết định giá cả, huy động và phân bổ các nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp và thành lọc doanh nghiệp yếu kém. Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động và phát huy vai trò của các hiệp hội ngành nghề, các hội xã hội nghề nghiệp trong liên kết, phối hợp, điều chỉnh và bảo vệ lợi ích của người sản xuất, nhất là người sản xuất nhỏ và vừa, người tiêu dùng trong kinh tế thị trường.

- Đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Đẩy mạnh việc thoái vốn, cổ phần hóa; thực hiện mô hình sở hữu công, quản trị tư, tổ chức đầu thầu lựa chọn doanh nghiệp tư nhân quản lý kinh doanh tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới công nghệ, tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước theo mô hình doanh nghiệp hiện đại. Đổi mới việc phân bổ các nguồn lực kinh tế của nhà nước theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đồng thời phải theo cơ chế thị trường, xóa bỏ cơ chế “xin - cho” để các nguồn lực được sử dụng có hiệu quả, kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Đẩy mạnh việc chuyển các đơn vị sự nghiệp công sang cơ chế tự chủ đầy đủ và xã hội hóa, thu hút các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ công.

- Tập trung đầu tư, đổi mới quản lý để phát triển mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ để khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo thật sự là quốc sách hàng đầu, động lực và nguồn lực quan trọng nhất phát triển đất nước. Nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; có chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, tiếp thu, nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ; phát triển thị trường khoa học công nghệ... để đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành nước công nghiệp phát triển.

- Gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Thực hiện phân phối theo đóng góp lao động, vốn, các yếu tố sản xuất khác vào kết quả hoạt động kinh tế, đồng thời phân phối theo hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau.  Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời thực hiện giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, chệnh lệch về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư; bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

(còn tiếp)

 

PGS.TS Nguyễn Văn Thạo

Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII; VIII, IX); H, Nxb Chính trị quốc gia, 2005, tr.648-649.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), H, Văn phòng Trung ương, 2017, tr.28.

 

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết