Chủ Nhật, ngày 18 tháng 01 năm 2026

Đặc điểm và vai trò của thể chế phát triển văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập quốc tế ​

Ngày phát hành: 18/01/2026 Lượt xem 29

                                

Trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đã nhấn mạnh phải xây dựng đồng bộ thể chế phát triển văn hóa để tạo động lực nội sinh mạnh mẽ góp phần thúc đẩy phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới. Thể chế phát triển văn hóa có những bản chất, cấu trúc và cơ chế chung của thể chế phát triển. Tuy nhiên, do văn hóa, quá trình phát triển văn hóa có những bản chất, hình thức thể hiện, cơ chế phát triển và tác động xã hội khác với các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội…, cho nên thể chế phát triển văn hóa cũng có những đặc điểm và vai trò đặc trưng riêng, cần phải được nhận thức rõ trong quá trình nghiên cứu và xây dựng, hoàn thiện, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Bài viết này góp phần làm rõ hơn những vấn đề trên trong xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

 

 

I. BẢN CHẤT CỦA VĂN HÓA VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

 

1. Nhận thức về bản chất của văn hóa

 

Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia. Tuy nhiên, khi nhìn nhận về vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển hiện có những cách tiếp cận khác nhau, điều đó một phần quan trọng phụ thuộc vào quan niệm về văn hóa. Tuy nhiên, nhìn nhận về bản chất của văn hóa cần tiếp cận văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người gắn liền với toàn bộ hoạt động đời sống xã hội của con người, trong quá trình phát triển.

 

(i). Năm 2001, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” (Unesco, năm 2001)[1]. Theo định nghĩa này, văn hóa chứa đựng cả yếu tố vật chất và phi vật chất; tuy nhiên, vai trò chủ yếu của văn hóa là về lĩnh vực tinh thần - phi vật chất (tâm hồn, tri thức, cảm xúc, văn học, nghệ thuật, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, đức tin,…), vai trò của văn hóa trong cá nhân con người và vai trò của văn hóa trong thể chế chính trị - xã hội (nhất là nhà nước) đã không được đề cập tới.

 

(ii). Quan niệm của Đảng ta về văn hóa cũng có những bước phát triển. Sau năm 1986, bước vào công cuộc, Đảng ta đưa ra nhận thức: văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống.

 

Năm 1998, Nghị quyết T.Ư 5 (Khóa VIII) của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, khẳng định “Văn hóa Việt Nam là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”. Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã nhấn mạnh “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiên dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tiếp đó, Đại hội lần thứ XII, XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

 

Như vậy, quan niệm của Đảng ta về văn hóa đã khẳng định “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần”, nhưng đồng thời khẳng định vai trò của văn hóa “là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người”, “là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống”, “là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh”, “là mục tiêu, động lực phát triển đất nước”. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy, vị trí và vai trò của văn hóa vẫn chưa được nhận thức và coi trọng đúng mức, văn hóa chưa được tiếp cận đầy đủ là nội dung mang tính  bản chất, hữu cơ trong sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, vẫn còn được coi là yếu tố “bên ngoài, bên cạnh” tác động qua lại với các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội.

 

Khi chưa nhận thức rõ văn hóa là một trong những nền tảng cốt lõi, cơ bản, mang tính bản chất của sự phát triển của cả kinh tế, chính trị và xã hội, thì trên thực tế chưa xác định đúng vị trí và vai trò của văn hóa. Và khi đó văn hóa chưa thể đóng vai trò là sức mạnh nội sinh mạnh mẽ của sự phát triển.

 

 (iii). Để xác định đúng vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, cần thiết phải nhận thức sâu sắc quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa. Năm 1943 Người nêu văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn[2]. Quan niệm tổng quát của Hồ Chí Minh về văn hóa cho thấy văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần, văn hóa chính là đời sống lao động sáng tạo gắn với phương thức tổ chức đời sống của xã hội loài người, văn hóa vừa là nhân tố bản chất bên trong vừa là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển con người, của nền sản xuất xã hội loài người. Hay nói cách khái quát, văn hóa là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Có thể chính vì vậy mà cách đây bảy thập kỉ, từ những ngày đầu cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh đã nói đến nguyên lí “Văn hóa soi đường quốc dân đi”. Người đã xác định rất sâu sắc vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước. Văn hóa gắn liền với thiên nhiên, con người, xã hội và thiên nhiên hòa quyện với nhau trở thành một thực thể văn hóa. Điều đó đang nói lên một vai trò rất mới của văn hóa - văn hóa sinh thái. Chính vì vậy mà Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững cả về kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái. Có thể nói, quan niệm phát triển bền vững là một giá trị văn hóa tổng hợp của sự phát triển trong thời đại ngày nay, và trở thành một giá trị nhân loại.

 

iv) - Như vậy, văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Điều đó cho thấy văn hóa không chỉ đơn thuần là lĩnh vực tinh thần, mà chính là toàn bộ các giá trị do con người tạo nên gắn với toàn bộ quá trình hoạt động của con người, trong đó cốt lõi nhất là quá trình lao động sản xuất và sáng tạo, phát triển từ thấp lên caotừ thủ công lên công cụ hiện đại, từ cá nhân và gia đình lên xã hội, quốc gia và ngày nay là quốc tế hóa. Như vậy văn hóa ra đời và phát triển từ trong bản chất và song hành với quá trình phát triển lao động sản xuất xã hội, và đi liền với đó là sự phát triển các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, sự phát triển của xã hội và các thiết chế xã hội. Không có quá trình lao động sản xuất xã hội cũng không có cả kinh tế và văn hóa. Quan niệm trên của Hồ Chí Minh về văn hóa rất phù hợp với một trong những khái niệm “cổ xưa” nhất về văn hóa, nhưng có thể là khái niệm phản ánh đúng bản chất nhất quả trình hình thành và phát triển văn hóa là: “Văn hóa là gieo trồng, sự gieo trồng (Trong tiếng Anh từ “culture (văn hóa) có xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại nghĩa là gieo trồng”).  Khái niệm này thể hiện rõ mối quan hệ giữa con người (xã hội con người) với tự nhiên, với chính quá trình hoạt động của con người (xã hội con người), trước hết là hoạt động sản xuất xã hội, và gắn với đó là toàn bộ các hoạt động khác của mỗi con người, gia đình, cộng đồng dân cư, cộng đồng dân tộc, quốc gia, giữa các quốc gia, tạo ra bản chất của con người và xã hội loài người, và do đó tạo ra bản chất và nền tảng cốt lõi của văn hóa. 

 

v) - Nhận thức rõ bản chất mối quan hệ biện chứng giữa giá trị con người - giá trị văn hóa - giá trị xã hội trong quá trình phát triển. Hiện nay đang có những nhận thức khác nhau về mối quan hệ này. Ở đây xin nêu lên mối quan hệ giữa ba hệ giá trị này theo cách tiếp cận con người là chủ thể trung tâm của văn hóa và xã hội. Từ bản chất và đặc trưng của giá trị con người mà hình thành giá trị văn hóa và giá trị xã hội (văn hóa được xét ở đây theo nghĩa rộng như quan niệm của Hồ Chí Minh); chính giá trị con người là hạt nhân cốt lõi của giá trị văn hóa và giá trị xã hội. Giá trị văn hóa, giá trị xã hội cũng là những phương diện biểu hiện (thể hiện) giá trị con người ở những lát cắt khác, bình diện khác, quan hệ khác nhau. Nhưng điều này không có nghĩa là giá trị văn hóa và giá trị xã hội được quy định đơn nhất và một chiều từ hệ giá trị con người. Khi giá trị văn hóa và đặc biệt là hệ giá trị xã hội được định hình, sẽ có một vai trò chi phối quan trọng (có thể mang tính quyết định) đối với sự thay đổi và phát triển hệ giá trị con người. 

 

vi) - Cách mạng công nghiệp 4.0 (với nền tảng cốt lõi là trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, thông tin mạng…) đang và sẽ tác động sâu sắc làm thay đổi rất nhiều vấn đề mang tính bản chất về thể chế và cấu trúc phát triển của thế giới và mỗi nước; đặt ra nhiều vấn đề về giá trị con người, giá trị văn hóa và giá trị xã hội (mà cho đến nay chưa nhận thức hết được). Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu, nhận thức và dự báo được đầy đủ, sâu sắc các tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới xây dựng và phát triển các giá trị con người - văn hóa - xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới.

 

vii). Văn hóa không thể chỉ tồn tại ở những tuyên ngôn, triết lý về đạo đức, lối sống…, mà quan trọng nhất là được hiện thực hóa ở những hoạt động, hành động, thể chế, thiết chế hướng tới hình thành, phát triển những giá trị tốt đẹp của con người, của xã hội trong đời sống hiện thực.

 

2. Nhận thức về “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển”

 

Khi đã khẳng định “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển” thì cần nhận thức sâu sắc rằng để trở thành sức mạnh nội sinh, văn hóa phải ở “bên trong” và là một yếu tố - nội dung mang tính bản chất của kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái. Văn hóa không thể nhìn nhận chỉ như những yếu tố “bên ngoài, bên cạnh” tác động qua lại với kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái, mặc dù văn hóa được nhìn nhận có tính độc lập tương đối với các lĩnh vực này. Khi đã nhận thức “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển” thì một vấn đề cần được trả lời là văn hóa nằm ở đâu? trong các chủ thể nào? của chủ thể nào? trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái. Cần phải thấy rằng văn hóa nằm trong tất cả các chủ thể, các thiết chế, các tổ chức, các đối tượng chịu sự tác động qua lại của các chủ thể với con người và hoạt động của con người trong xã hội. Có thể nêu lên các chủ thể cơ bản của văn hóa là: Quốc gia - dân tộc; Hệ thống chính trị; Đảng và các tổ chức trong hệ thống của Đảng; Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống quyền lực nhà nước; Hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp; Hệ thống các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác; Các gia đình, dòng họ; Các cộng đồng, tộc người; Các cá nhân;…

 

Khi xác định “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển” thì tất yếu phải làm rõ sức mạnh nội sinh mang tính bản chất cốt lõi của văn hóa trong các chủ thể này trong quá trình vận động và phát triển. Bản chất văn hóa cốt lõi đặc trưng trong các chủ thể đó lại phụ thuộc một cách căn bản vào chức năng và vai trò xã hội của từng chủ thể. Có chủ thể có chức năng và vai trò là lãnh đạo - quản lí xã hội (như các tổ chức đảng cầm quyền và tổ chức nhà nước), có chủ thể hoạt động theo cơ chế tự chủ trong xã hội trong khuôn khổ pháp luật, có chủ thể có vị trí là người “bị lãnh đạo - quản lí”… Điều đó cho thấy trong mỗi chủ thể có hai chức năng văn hóa khác nhau: chức năng văn hóa là sức mạnh nội sinh cho hoạt động và sự phát triển của chính chủ thể đó, và chức năng văn hóa tác động (tương tác) với các chủ thể khác trong xã hội. Hai chức năng văn hóa này trong mỗi chủ thể liên quan mật thiết - biện chứng với nhau tạo thành bản chất văn hóa của chủ thể; đồng thời bản chất văn hóa của mỗi chủ thể lại tương tác hữu cơ với bản chất văn hóa của các chủ thể khác trong xã hội theo những phương thức khác nhau; thuận chiều, lệch chiều, ngược chiều, cộng hưởng, thúc đẩy hay kìm hãm, hạn chế, áp đặt,… Quá trình tương tác này tạo thành bản chất văn hóa ở cấp độ hệ thống cao hơn, rộng hơn, lên tới cấp quốc gia - dân tộc, kết nối với quốc tế.

 

Xét trên bình diện quốc gia - dân tộc thì bản chất - vị trí - vai trò - chức năng văn hóa của hai chủ thể là Đảng cầm quyền và Nhà nước có tầm quan trọng “áp đặt”, định hướng và chi phối mạnh nhất đối với tất cả các chủ thể khác trong xã hội, vì hai chủ thể này có vai trò lãnh đạo - quản lí sự phát triển của xã hội. Điều này không có nghĩa là các giá trị văn hóa của hai chủ thể bất kì đảng cầm quyền nào và Nhà nước nào, khi nào và luôn luôn có tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển xã hội. Điều này còn phụ thuộc một cách quyết định vào bản chất và giá trị văn hóa mà đảng cầm quyền và nhà nước xây dựng được cho mình và “đặt ra” cho xã hội, định hướng phát triển xã hội. Trên thế giới, không ít đảng cầm quyền cùng với nhà nước do đảng đó lãnh đạo đã bị thất bại (mất quyền lãnh đạo, hay để đất nước rơi vào trì trệ, khủng hoảng sau một thời gian cầm quyền), mà một trong những lí do cơ bản là đảng cầm quyền và nhà nước đó đã đưa ra những giá trị văn hóa - giá trị xã hội (thể hiện ở các mục tiêu và cơ chế phát triển) không phù hợp (hay mâu thuẫn) với yêu cầu khách quan của sự phát triển, mâu thuẫn (có khi tạo nên sự xung đột) với những giá trị văn hóa của các chủ thể khác trong xã hội, nhất là giá trị văn hóa của con người, của gia đình, các cộng đồng và hệ thống các doanh nghiệp. Khi đó văn hóa không tạo được (và không là) sức mạnh nội sinh của sự phát triển của từng chủ thể, và nhất là không tạo được sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống phát triển xã hội - của quốc gia. Bởi vì khi áp đặt các giá trị không phù hợp, trái quy luật có thể đưa lại sức mạnh nhất thời, nhưng rồi sẽ phải “trả giá” bằng những thất bại, khi động lực phát triển bị suy giảm, nếu không có sự điều chỉnh kịp thời. Trong thời đại ngày nay, văn hóa của Đảng cầm quyền và Nhà nước quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh - bền vững của một quốc gia; được thể hiện ở những giá trị cốt lõi (nội dung - cơ chế vận hành) nội bộ hệ thống Đảng và Nhà nước và trong nội dung lãnh đạo, quản lý và cơ chế tương tác (mang tính chất lãnh đạo - quản lí - quản trị) với xã hội trên nhiều bình diện và cấp độ khác nhau.

 

Văn hóa được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, nhưng có thể thấy được thể hiện tập trung nhất là ở Hệ các giá trị phát triển. Nền văn hóa của một quốc gia có hệ giá trị chung của tất cả các chủ thể tạo nên đặc trưng của nền văn hóa quốc gia - dân tộc. Nhưng trong đó mỗi chủ thể xã hội có hệ giá trị đặc trưng riêng của mình, có thể có những giá trị thống nhất với hệ giá trị văn hóa chung của dân tộc, có thể có những hệ giá trị không thống nhất, khác biệt (thậm chí mâu thuẫn) với hệ giá trị văn hóa chung của dân tộc, với hệ giá trị văn hóa của các chủ thể khác. Hệ giá trị văn hóa của mỗi chủ thể chứa đựng hai loại giá trị: Loại những giá trị thể hiện bản chất bên trong (sự vận động bên trong) của mỗi chủ thể, những giá trị này của chủ thể được thể hiện (giới thiệu) ra thành “ta là ai” trong mắt các chủ thể khác và trong xã hội; và loại những giá trị tương tác với các chủ thể khác và với toàn xã hội theo chức năng xã hội của mình. Về nguyên tắc, có sự thống nhất biện chứng giữa hai loại giá trị đó trong mỗi chủ thể và thể hiện bản chất thực tế của mỗi chủ thể. Tuy nhiên, trong những điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan nào đó, hai loại giá trị đó của một chủ thể có thể có những giá trị không thống nhất với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Đây là vấn đề phức tạp. Có thể nói, hiện tượng tồn tại các mâu thuẫn nhau giữa thực chất và hình thức biểu hiện, khoảng cách giữa “lời nói và việc làm” có thể xảy ra trong tất cả các chủ thể ở mức độ khác nhau, ngay trong mỗi con người. Chức năng là “sức mạnh nội sinh của sự phát triển” của văn hóa mạnh hay yếu, bền vững hay không phụ thuộc một cách căn bản vào mức độ thống nhất giữa hai loại giá trị đó trong mỗi chủ thể và mức độ thống nhất giữa hai loại giá trị đó của tất cả các chủ thể trong toàn bộ hệ thống xã hội - toàn bộ dân tộc, đặc biệt là sự thống nhất giữa các giá trị của Đảng cầm quyền - Nhà nước quản lý với toàn xã hội.

 

Trong hệ thống các giá trị văn hóa, xét về phương diện động lực phát triển có ba giá trị là quan trọng nhất là: Giá trị lợi ích (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần); Giá trị pháp lí; Giá trị đạo đức, tinh thần. Sự phát triển mạnh mẽ, lành mạnh và bền vững của từng chủ thể trong xã hội, cũng như của toàn xã hội ở mức nào phụ thuộc một cách cơ bản vào sự thống nhất biện chứng giữa ba giá trị này. Việc tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa ba giá trị đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Đảng cầm quyền và Nhà nước quản lý trong việc chế định và thực thi các giá trị đó trong bản chất hoạt động của mình, trong việc tạo ra khung khổ pháp lý để thực hiện hóa các giá trị đó trong cuộc sống; trong việc Đảng cầm quyền và Nhà nước (tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức) làm gương thực hiện hóa các giá trị đó trong thực thi công vụ.

 

3. Vai trò của Văn hóa trong phát triển

 

Vai trò động lực nội sinh của sự phát triển được thể hiện ở vai trò và nội dung văn hóa mang tính bản chất trong hoạt động của mỗi chủ thể và trong toàn xã hội, gắn với vai trò và chức năng của từng chủ thể; thể hiện những giá trị cốt lõi định hướng, chi phối hoạt động của các chủ thể và toàn xã hội trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái. Một cách khái quát, văn hóa có những vai trò chủ yếu sau:

 

(i) - Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của mô hình - con đường - thể chế phát triển của một quốc gia - dân tộc, xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế chính trị thực sự “của dân, do dân và vì dân”. Xác lập mục tiêu bao trùm của sự phát triển là vì con người. Các giá trị này thường được xác định, chế định trong cương lĩnh của các Đảng cầm quyền, trong hiến pháp, pháp luật, chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển của quốc gia.

 

(ii) - Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế kinh tế, triết lí và đạo đức kinh doanh thúc đẩy phát triển năng động, hiệu quả, hài hòa và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển bao trùm “không để ai tụt lại phía sau”. Xác lập hệ giá trị phát triển quốc gia trong từng giai đoạn; và được cụ thể hóa thành các giá trị phát triển trong các lĩnh vực con người, chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.

 

(iii) - Là cơ sở để xác lập các giá trị xã hội, lối sống xã hội, nền đạo đức xã hội thượng tôn pháp luật, nhân văn, nhân ái, tôn trọng quyền con người, quyền công dân. Là cơ sở để tạo nên “sức mạnh mềm” trong phát triển. Là cơ sở để xây dựng cơ chế liên kết - điều tiết sự phát triển thông qua liên kết các giá trị giữa các chủ thể và trong toàn xã hội, tạo nên nền tảng cố kết cộng đồng, đồng thuận xã hội; hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình phát triển.

 

(iv) - Là cơ sở để xác lập hệ giá trị phát triển cùng với cơ chế hoạt động tương ứng của từng chủ thể trong xã hội (thể hiện những giá trị mà chủ thể đó tuân thủ theo và hướng tới); tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của từng chủ thể cũng như toàn xã hội với tư cách là một hệ thống mở trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

(v) - Là cơ sở để xác lập hệ giá trị hợp tác và hội nhập quốc tế trên cơ sở nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, đồng thời tôn trọng các lợi ích chính đáng của các quốc gia - dân tộc khác, hợp tác bình đẳng cùng phát triển và cùng có lợi, cùng bảo vệ các giá trị chung của nhân loại.

 

Để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của sự phát triển trong mỗi chủ thể và liên kết thành sức mạnh nội sinh phát triển của cả xã hội, cần phải xây dựng và phát triển đồng bộ các trụ cột văn hóa chủ yếu sau: Một là, xây dựng và phát triển các giá trị sống, đời sống - lối sống văn hóa. Hai là, phát triển sáng tạo các giá trị văn hóa. Ba là, xây dựng và phát triển đồng bộ các thiết chế văn hóa. Bốn là, thúc đẩy phát triển thị trường văn hóa, công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa phù hợp, hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nghĩa là các giá trị đó phải trở thành giá trị bản chất trong đời sống thường nhật của tất cả các chủ thể, được phát triển sáng tạo trong và gắn liền với sự phát triển của mọi lĩnh vực của xã hội, và được một hệ thống đồng bộ thể chế làm “giá đỡ” cho sự phát triển và phát huy các giá trị đó.

 

Xét trên bình diện quốc gia - dân tộc, để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững, thì các giá trị con người - văn hóa - xã hội phải trở thành nền tảng cốt lõi trong mọi hoạt động của tất cả các chủ thể trong xã hội; trong đó trọng trách hàng đầu đã được đặt vào vai trò giá trị văn hóa của đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền. Có lẽ chính vì vậy mà tại lễ kỉ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

                             “Đảng ta vĩ đại … biết bao nhiêu tình,

                               Đảng ta là đạo đức, là văn minh

                              Là thống nhất, là độc lập, là hòa bình ấm no…

 

Trong các câu thơ trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về những “giá trị” văn hóa thể hiện bản chất của Đảng ta cần phải đấu tranh, phấn đấu giữ gìn và phát triển. Đảng có những giá trị đó, phát triển những giá trị đó trở thành giá trị đặc trưng bản chất tiêu biểu của quốc gia - dân tộc trong quá trình phát triển thì mới tạo thành sức mạnh nội sinh phát triển của cả dân tộc (trong đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng đất nước).

 

 

 

II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

Từ bản chất và vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển sẽ chế định đặc điểm và vai trò của thể chế phát triển văn hóa. Có thể khái quát như sau:

 

1. Đặc điểm cơ bản của thể chế phát triển văn hóa

 

Thể chế văn hóa có những đặc điểm chung của thể chế phát triển; đồng thời, do đặc điểm và tính chất của hoạt động văn hóa, có những đặc điểm riêng sau:

 

(i) - Thể chế văn hóa liên quan trực tiếp đến lĩnh vực đời sống tinh thần, hoạt động sản xuất - xã hội của tất cả các chủ thể trong xã hội và toàn xã hội; chứa đựng những giá trị phát triển cốt lõi tạo động lực nội sinh cho sự phát triển. Trọng tâm của Thể chế văn hóa phải hướng tới, thúc đẩy phát triển, kích hoạt và phát huy cao các giá trị văn hóa, con người, góp phần tạo động lực phát triển (của các cá nhân, gia đình, các tập thể, đơn vị, công đồng dân cư và của cả dân tộc) trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

(ii) - Do liên quan trực tiếp đến phát huy năng lực sáng tạo, lan tỏa các giá trị trong hoạt động văn hóa, nên Thể chế văn hóa phải tạo được không gian và môi trường tự do sáng tạo phù hợp trong hoạt động văn hóa của tất các chủ thể; đồng thời, phải hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực trong các hoạt động văn hóa.

 

(iii) - Do liên quan đến phát huy trí tuệ sáng tạo của con người - lĩnh vực tinh thần, tư tưởng, đạo đức, nên Thể chế văn hóa phải đề cao phát triển giá trị con người, giá trị sáng tạo, giá trị xã hội, giá trị cộng đồng, giá trị quốc gia - dân tộc, đặc biệt là những giá trị phát triển đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn mới.

 

(iv) - Sức mạnh nội sinh của văn hóa được thể hiện không chỉ ở giá trị phát triển của từng chủ thể cụ thể, từng đơn vị cụ thể, mà còn được thể hiện ở sự liên kết - kết nối - tích hợp thành giá trị phát triển của cộng đồng, của của quốc gia - dân tộc. Do đó, thể chế văn hóa còn là cơ chế kết nối, tích hợp, nâng tầm các giá trị phát triển của các chủ thể thành giá trị phát triển chung.

 

(v) - Sự phát triển văn hóa của một quốc gia trong mỗi giai đoạn đều luôn chứa đựng sự “tương tác”, “sự đấu tranh”, “sự chuyển hóa” giữa các giá trị truyền thống, các giá trị chủ đạo hiện tại với các giá trị mới (là nhân tố thúc đẩy sự phát triển đáp ứng với yêu cầu mới). Thể chế văn hóa phải tạo được cơ chế để phát huy cao, tích hợp được các mặt tích cực của các giá trị trên, phát triển mạnh, phù hợp, hiệu quả các giá trị mới, tạo được động lực thức đẩy phát triển đáp ứng với yêu cầu phát triển mới.

 

(vi) - Văn hóa (các giá trị văn hóa) ngày càng trở thành một nhân tố hữu cơ, động lực bên trong, góp phần điều tiết sự phát triển của tất cả các lĩnh vực trong xã hội; vì vậy, Thể chế văn hóa không đơn thuần chỉ là thể chế về phát triển các lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật theo nghĩa hẹp; mà phải là một thể chế tổng hợp, kết nối sự phát triển các giá trị văn hóa với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái…trong tất cả các lĩnh vực.

 

(vii) - Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, có những hoạt động văn hóa vừa mang những giá trị lợi ích chung của toàn xã hội (là phúc lợi xã hội chung), có những hoạt động văn hóa mang tính chất dịch vụ, hàng hóa. Thể chế văn hóa cũng chứa đựng những yếu tố của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, Thể chế văn hóa không hoàn toàn tuân theo những quy luật của thị trường như trong kinh tế; chứa đựng mối quan hệ đặc thù giữa Nhà nước, cơ chế thị trường và xã hội (các chủ thể tham gia hoạt động và thụ hưởng văn hóa).

 

(viii) - Để tạo được động lực phát triển bền vững, Thể chế văn hóa phải tạo được cơ chế gắn kết hài hòa các giá trị về tinh thần, tư tưởng, đạo đức, lối sống của tất cả các chủ thể với các giá trị lợi ích (lợi ích kinh tế và các lợi ích khác), sự chia sẻ về trách nhiệm và lợi ích giữa các chủ thể liên quan; giữa cá nhân với tập thể, đơn vị, cộng đồng và quốc gia - dân tộc.

 

(ix) - Trong điều kiện kinh tế thị trường, Thể chế văn hóa không chỉ chứa đựng những nhân tố thuần túy về văn hóa, mà còn chứa đựng nhân tố về kinh tế như một thành tố hữu cơ (bên trong) của phát triển văn hóa, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội (như phát triển công nghiệp văn hóa); tạo nên mối quan hệ đặc thù giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển.

 

(x) - Trong thể chế văn hóa, mỗi chủ thể có vai trò và chức năng khác nhau, trong đó Nhà nước là một chủ thể (người chơi) có vị trí đặc biệt về tư cách đa diện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thể chế nhà nước pháp quyền, Nhà nước đồng thời “đóng nhiều tư cách” trong thể chế văn hóa: người quyết định luật chơi, người quản lý - tổ chức thực thi luật chơi, người kiểm soát quá trình thực thi luật chơi, người đầu tư phát triển các nguồn lực văn hóa, là người chơi khi thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với các chủ thể khác và toàn xã hội trong thực thi các “luật chơi” về phát triển văn hóa.

 

(xi) - Trong điều kiện kinh tế thị trường, xét theo mức độ tiếp cận cơ chế thị trường, các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa với nhiều cấp độ khác nhau: Hoàn toàn mang tính chất cộng đồng - xã hội, không vì lợi nhuận, “bán” vì lợi nhuận (không hoàn toàn theo cơ chế thị trường), vì lợi nhuận (hoàn toàn theo cơ chế thị trường). Thể chế văn hóa phải có cơ chế phù hợp bao quát đầy đủ các cấp độ này, để thúc đẩy phát triển hiệu quả các lĩnh vực, loại hình, chủ thể hoạt động văn hóa.

 

(xii) - Tính chất, trình độ, cấu trúc, cơ chế vận hành của Thể chế văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm hoạt động văn hóa (chung và từng lĩnh vực), vào trình độ phát triển văn hóa và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vào mức độ hội nhập quốc tế.

 

(xiii) - Mục tiêu bao trùm của phát triển văn hóa là xây dựng một nền văn hóa “tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, “dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học”, góp phần tạo động lực nội sinh cho sự phát triển nhanh - bền vững đất nước. Vì vậy thể chế văn hóa, về bản chất, phải là thể chế tạo động lực phát triển cả về giá trị con người, giá trị đạo đức - xã hội, giá trị kinh tế, giá trị môi trường sinh thái…

 

(xiv) - Thể chế phát triển văn hóa chứa đựng trong đó hai thành tố cơ bản, đó là: Một là, thể chế chính thức, bao gồm toàn bộ đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa) của Nhà nước; các chế định này mang tính pháp lý mà tất cả các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa (trực tiếp hay gián tiếp, sáng tạo văn hóa hay thụ hưởng văn hóa) đều phải tuân theo. Hai là, các thể chế phi chính thức, bao gồm các “khế ước xã hội”, thỏa thuận xã hội, chuẩn mực xã hội, thể hiện chí chung của toàn thể cộng đồng, được toàn thể cộng đồng công nhận, coi đó là những giá trị điều tiết mọi hành vi, hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng, của mỗi đơn vị, cá nhân.

 

(xv) - Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế và phát triển văn hóa “thẩm thấu” vào nhau, đan xen vào nhau, trở thành nội dung bản chất “của nhau” trong quá trình phát triển, mà nếu tách biệt ra một cách cơ học, mỗi lĩnh vực sẽ phát triển lệch lạc, không hiệu quả cao cả về kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường sinh thái, đặc biệt là sẽ không bền vững. Do đó, trong thể chế phát triển kinh tế phải bao hàm nội dung, mục tiêu và cơ chế phát triển các giá trị văn hóa; ngược lại, trong thể chế phát triển văn hóa, phải bao hàm nội dung, mục tiêu và cơ chế phát triển các giá trị kinh tế (theo những yêu cầu và cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào từng lĩnh vực văn hóa). Điều này được thể hiện rõ ở phát triển văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn hóa sản xuất kinh doanh; được thể hiện ở giá trị thương hiệu sản phầm, dịch vụ đưa ra thị trường, không chỉ thể hiện chất lượng sản phầm, mà còn thể hiện chữ tín, uy tín, lòng tin của xã hội đối với sản phầm, dịch vụ; cao hơn nữa còn thể hiện giá trị, uy tín, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, của cả quốc gia - dân tộc.

 

 

2. Vai trò của Thể chế văn hóa: Trong thể chế phát triển tổng hợp của một nước, Thể chế văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện ở những phương diện yếu sau:

1). Thể chế văn hóa xác định đường lối, chiến lược, mô hình, mục tiêu phát triển văn hóa phù hợp trong từng giai đoạn, trong từng lĩnh vực; hướng tới phát triển các giá trị con người, giá trị xã hội tốt đẹp, lành mạnh.

2). Thể chế văn hóa xác lập nền tảng pháp lý cho cấu trúc và vận hành của hệ thống tổ chức, các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa của một quốc gia; xác lập cơ chế phát triển, cơ chế lan tỏa, “thẩm thấu” trở thành động lực nội sinh của sự phát triển trong tất cả các chủ thể, các lĩnh vực.

3). Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý, điều kiện và môi trường thúc đẩy phát triển tư duy và năng lực đổi mới sáng tạo trong phát triển văn hóa - hạt nhân cốt lõi tạo nên động lực phát triển văn hóa của tất cả các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa ở các cấp độ khác nhau (cá nhân, gia đình, đơn vị, cộng đồng, tập thể, lĩnh vực, quốc gia…).

4). Thể chế văn hóa xác lập địa vị, vai trò, trách nhiệm, quyền và lợi ích, trách nhiệm xã hội của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa trong quá trình phát triển, nhất là vai trò của Nhà nước, vai trò của các tổ chức, vai trò của các cá nhân tham gia hoạt động văn hóa. Tạo lập khung pháp lý và điều kiện để kiến tạo và phát triển năng lực sáng tạo văn hóa của các chủ thể; liên kết các chủ thể, các nguồn lực, các yếu tố theo những mô hình phát triển văn hóa có hiệu quả.

5). Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý và cơ chế hiện thực hóa mối quan hệ mang tính đặc thù giữa Nhà nước - thị trường - các chủ thể hoạt động văn hóa (chung và trong từng lĩnh vực); phát huy hiệu quả vai trò của Nhà nước, vai trò của cơ chế thị trường, vai trò của các chủ thể hoạt động văn hóa và vai trò của xã hội để tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển văn hóa theo đúng định hướng. Tạo lập môi trường lành mạnh, bình đẳng, minh bạch, phù hợp, hiệu quả đối với các chủ thể hoạt đông văn hóa trong từng lĩnh vực; thúc đẩy phát triển hiệu quả thị trường văn hóa, công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa.

6). Thể chế văn hóa xác lập đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên kết hữu cơ giữa phát triển văn hóa với phát triển các lĩnh vực khác của xã hội, nhất là trong kinh tế, chính trị, đạo đức, lối sống xã hội; góp phần tạo động lực phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững đất nước. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, kinh tế và văn hóa thẩm thấu vào nhau, “trở thành của nhau”, thì thể chế phát triển tổng hợp hai lĩnh vực này có thể gọi là thể chế phát triển kinh tế - văn hóa, hoặc thể chế phát triển văn hóa - kinh tế, thùy theo lĩnh vực nào đóng vai trò chủ đạo chi phối trong quá trình phát triển.

7). Tạo lập cơ sở pháp lý, cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho sự phát triển văn hóa theo các mục tiêu đặt ra; thúc đẩy phát triển tiềm lực văn hóa; đặc biệt là thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. 

8). Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý cho hội nhập và hợp tác quốc tế về văn hóa; tiếp thu có chọn lọc, phù hợp, sáng tạo, hiệu quả các giá trị văn hóa của nhân loại; đồng thời đưa văn hóa Việt Nam hội nhập với thế giới với bản sắc đặc trưng của mình; để văn hóa thực sự đóng vai trò quan trọng vào kiến tạo môi trường hòa bình, hợp tác, phát triển của đất nước; góp phần vào đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước nhanh - bền vững, nhất là trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang tăng tốc.

9). Vai trò cốt lõi của thể chế văn hóa không đơn thuần là phát triển các hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ văn hóa phục vụ mọi đối tượng trong xã hội (“văn hóa cho”); mà là thúc đẩy hình thành và phát triển các giá trị nội tại (“văn hóa của”) trong đời sống, lối sống, mang tính bản chất con người, giá trị sống, giá trị xã hội, giá trị phát triển lành mạnh của mọi chủ thể, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển của tất cả các chủ thể, các tổ chức, cộng đồng dân cư và của toàn xã hội.

10). Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Thể chế văn hóa không chỉ có vai trò tạo động lực phát triển các giá trị tinh thần, đạo đức, ý thức xã hội, ý thức công dân, ý thức dân tộc, trách nhiệm xã hội…góp phần  tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia - dân tộc; mà còn trực tiếp tham gia vào phát triển sức mạnh cứng” (phát triển tiềm lực kinh tế…) của đất nước thông qua quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 

3. Vai trò của thể chế chính thức và thể chế phi chính thức trong phát triển văn hóa

 

Thể chế chính thức và thể chế phi chính thức là hai loại thể chế khác nhau, song đều đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quản lý phát triển xã hội và hành vi của con người. Thể chế chính thức là các quy tắc, luật lệ được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thường được ghi thành văn bản. Thể chế phi chính thức là những chuẩn mực, quy tắc được hình thành bởi cộng đồng xã hội, có thể được ghi thành văn bản dưới dạng ví dụ như “hương ước”, quy chế cộng đồng, cũng có thể không được ghi thành văn bản và tồn tại dưới dạng quy ước xã hội, “lệ làng”. 

 

Trong phát triển văn hóa, thể chế chính thức là đường lối, chủ trương phát triển văn hóa của Đảng, là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, quy định về quản lý - quản trị phát triển văn hóa do Nhà nước ban hành, có tính pháp lý, được áp dụng, cho mọi chủ thể, cho toàn xã hội; được ghi thành văn bản, có tính cưỡng chế, được thực thi bởi các cơ quan nhà nước. Trong thể chế chính thức quy định rõ nghiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội của tất cả các chủ thể liên quan đến phát triển văn hóa, nhất là vai trò, trách nhiệm của nhà nước, vai trò trách nhiệm của các chủ thể sáng tạo văn hóa, vai trò của cơ chế thị trường, vai trò của xã hội…, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển văn hóa. Thể chế chính thức còn là nền tảng pháp lý cho sự tồn tại và phát triển thể chế phi chính thức trong phát triển văn hóa; bảo trợ, tạo điều kiện cho các chủ thể xã hội tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.

 

Thể chế phi chính thức trong phát triển văn hóa là những quy tắc, chuẩn mực xã hội, giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống được hình thành trong cộng đồng trong quá trình phát triển, thường không có tính pháp lý (nhưng có tính giàng buộc cộng đồng rất cao), được thực hiện một cách tự nguyện, có thể truyền qua nhiều thế hệ. Thể chế phi chính thức đóng một vai trò rất quan trọng trong duy trì và phát huy bản sắc dân tộc, tạo môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nên giá trị văn hóa, giá trị sống, lối sống, đạo đức, sự kết nối của một cộng đồng (như các lễ hội văn hóa ở các vùng miền, điển hình như lề hội Đền Hùng, hương ước ở các vùng nông thôn, lễ cúng thần lúa, thần núi, thần nước, các tập quán, tín ngưỡng dân gian...), thúc đẩy sự đồng thuận và ổn định xã hội. Đây cũng là sức mạnh nội sinh của văn hóa, góp phần phát triển các giá trị văn hóa, con người theo yêu cầu mới, tạo động lực phát triển bền vững trong các cộng đồng dân cư. Thể chế phi chính thức cũng có khả năng linh hoạt và thích ứng cao, điều chỉnh theo điều kiện và trình độ phát triển, giúp duy trì sự gắn kết cộng đồng, thúc đẩy sự đồng thuận, giảm xung đột, nâng cao ổn định xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, có những thể chế phi chính thức trở nên lạc hậu, không thích ứng được với yêu cầu mới, cản trở sự phát triển, cần phải thay đổi.

 

Thể chế chính thức và phi chính thức trong phát triển văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Thể chế chính thức đóng vai trò nền tảng chính trị - pháp lý cho sự phát triển văn hóa với vai trò chủ đạo, điều tiết của Nhà nước; tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển thể chế phi chính thức, điều chỉnh sự phát triển thể chế phi chính thức theo những mục tiêu chung, hạn chế những tác động tiêu cực của thể chế phi chính thức khi không phù hợp với yêu cẩu của sự phát triển. Thể chế phi chính thức góp phần thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các giá trị văn hóa cộng đồng, đề cao tính tự nguyện - tự chủ, trách nhiệm xã hội, xây dựng đời sống, lối sống văn minh, nghĩa tình, hạnh phúc; góp phần đưa thể chế chính thức thành những giá trị sống thường nhật của cộng đồng, củng cố thể chế chính thức. Cả hai loại thể chế đều đóng vai trò quan trọng trong phát triển văn hóa, xây dựng con người, quản lý - quản trị phát triển xã hội, đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội. 

 

Thể chế chính thức tạo ra khung pháp lý rõ ràng, đảm bảo quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm xã hội của người và tất cả các chủ thể trong phát triển văn hóa. Thể chế không chính thức giúp duy trì và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống, điều chỉnh hành vi xã hội một cách mềm dẻo, linh hoạt. Khi kết hợp hài hòa, hai loại thể chế này tạo nên một hệ thống điều chỉnh phát triển văn hóa - xã hội toàn diện, vừa có tính pháp lý, vừa có tính nhân văn và cộng đồng.

 

So sánh vai trò của thể chế chính thức và thể chế không chính thức

 

Tiêu chí

Thể chế chính thức

Thể chế không chính thức

Chủ thể ban hành

Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Hình thành từ cộng đồng, truyền thống, tập quán…

Hình thức thể hiện

Văn bản pháp luật: Hiến pháp, luật, nghị định, có chế, chính sách...

Có văn bản mang tính quy ước xã hội; hoặc không văn bản, truyền miệng, thực hành xã hội.

Tính pháp lý

Có giá trị pháp lý, bắt buộc thi hành

Không có giá trị pháp lý, tuân thủ mang tính tự nguyện của cá nhân và cộng đồng

Phạm vi điều chỉnh

Toàn xã hội, áp dụng rộng rãi và thống nhất

Mang tính địa phương, cộng đồng, linh hoạt theo vùng, miền

Cơ chế thực thi

Thực thi bởi Nhà nước, có chế tài xử phạt rõ ràng

Thực thi bởi cộng đồng, dựa vào dư luận, quy tắc và và đạo đức xã hội

 

Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn có thể nảy sinh “mâu thuẫn” (không tương hợp) giữa thể chế chính thức và thể chế phi chính thức, dẫn đến làm giảm hiệu lực của pháp luật, cơ chế, chính sách (ví dụ như khi pháp luật có những quy định ngược với tập quán lâu đời của người dân, người dân có xu hướng không tuân thủ, dẫn đến tình trạng “pháp luật trên giấy”, không đi vào cuộc sống. Sự mâu thuẫn này cũng có thể dẫn đến xung đột giá trị trong xã hội, ảnh hưởng đến sự thống nhất trong định hướng phát triển văn hóa và xã hội. Sự mâu thuẫn này cũng có thể gây trở ngại cho đổi mới và phát triển (như những phong tục, tập quán lạc hậu có thể cản trở việc thực thi chính sách tiến bộ về bảo vệ môi trường, xóa bỏ phân biệt đối xử, xây dựng lối sống kỷ cương, văn minh, hiện đại, phát triển văn hóa số...). Sự mâu thuẫn này dẫn đến làm tăng chi phí xã hội về quản lý, quản trị và thực thi cả thể chế chính thức và phi chính thức trong phát triển.

 

Để khắc phục những mâu thuẫn này, đòi hỏi trong xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa phải đảm bảo sự hài hòa giữa thể chế chính thức và thể chế phi chính thức, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển thực tế; trong đó phải có cơ chế tham vấn cộng đồng khi xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách để đảm bảo pháp luật, cơ chế, chính sách phản ánh thực đúng thực tiễn văn hóa xã hội; tôn trọng và khai thác giá trị tích cực của thể chế không chính thức, biến các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục thành nguồn lực văn hóa thay vì rào cản; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để người dân, cộng đồng và xã hội hiểu rõ lợi ích của pháp luật và từ bỏ những giá trị văn hóa không còn phù hợp, lạc hậu, cản trở sự phát triển.

 

 PGS.TS Trần Quốc Toản

                                        Chuyên gia cao cấp

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia 2011.
  2. Văn kiện Đại hội địa biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng cộng sản Việt Nam, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016.
  3. Văn kiện Đại hội địa biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng cộng sản Việt Nam; NXB CTQGST, Tập 1, Tập 2, Hà Nội - 2021
  4. PGS.TS. Trần Quốc Toản (Chủ biên), GS.TS. Phùng Hữu Phú (Đồng chủ biên) , GS.TS. Tạ Ngọc Tấn (Đồng chủ biên): Thể chế phát triển nhanh - bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn mới; NXB CTQGST, Hà Nội - 2019.
  5. PGS.TS Trần Quốc Toản: Cách tiếp cận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển; Hdll.vn, ngày11/08/2020
  6. PGS.TS Trần Quốc Toản: Xây dựng hệ giá trị quốc gia trong tương quan với hệ giá trị con người, giá trị gia đình, giá trị văn hóa, giá trị xã hội; Hdll.vn, ngày 20/12/2022.
  7. PGS.TS Trần Quốc Toản: Vị trí và vai trò của văn hóa trong đổi mới - phát triển: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra; Hdll.vn, ngày 18/09/2018.


           [1] Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng của văn hóa , ngày 2/11/2001

        [2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 3, tr.431

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết