Chủ Nhật, ngày 04 tháng 12 năm 2022

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Ngày phát hành: 15/01/2022 Lượt xem 6273

 


 

1. Khái quát về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam

Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam những năm gần đây cho thấy nhiều thành tựu vượt bậc của đất nước trong định hướng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, tăng cường hiệu quả của các lĩnh vực kinh tế và đẩy mạnh mở cửa, hội nhập quốc tế đối với tất cả các lĩnh vực, ngành nghề. Nông nghiệp trong suốt quá trình phát triển của Việt Nam luôn được xác định là ngành kinh tế căn bản, lĩnh vực kinh tế “gốc”, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của tất cả các ngành kinh tế khác. Thực tế cho thấy hơn 90% người nghèo của Việt Nam đang sinh sống tại các vùng nông thôn, miền núi. Đây cũng chính là lý do khiến cho mối biến động của ngành nông nghiệp sẽ có tác động quan trọng tới đại bộ phân dân số Việt Nam và chính sách nông nghiệp & phát triển nông thôn luôn được quan tâm hàng đầu trong các chiến lược phát triển trung hạn và dài hạn của đất nước. Từ nhìn nhận như vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được coi là văn bản có tính lịch sử đầu tiên của Đảng đề cập toàn diện đến cả 3 lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; trong đó khẳng định nông dân là chủ thể, xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện nông nghiệp là then chốt. Ngay từ năm 2009, để thực hiện Nghị quyết, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động gồm 3 chương trình mục tiêu quốc gia, 9 đề án quy hoạch và 36 đề án chuyên ngành. Nhưng điều cốt lõi khiến cho Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, là việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Kết quả thực hiện Nghị quyết 26 hơn 10 năm qua là rất đáng khích lệ và đã đem lại cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam một diện mạo phát triển mới.

Nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều biến chuyển tích cực với các kết quả phát triển được thừa nhận rộng rãi. Bức tranh toàn cảnh của ngành nông nghiệp Việt Nam được minh họa bằng các chỉ số cơ bản thể hiện trong Bảng 1 trong đó đề cập tới dân số nông thôn và đóng góp của ngành nông nghiệp vào phát triển kinh tế.

 

Bảng 1. Những chỉ số cơ bản về nông nghiệp Việt Nam

 

 

Năm

Chỉ số

Dân số nông thôn

2019

65,4%

Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP

2019

13,96%

Giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp (tỷ trọng % đóng góp vào tăng trưởng GDP)

2019

1,8%

Tăng trưởng nông, lâm, ngư nghiệp

9 tháng đầu năm 2021

2,74%

Tỷ lệ dân số nông thôn tiếp cận được nguồn nước hợp vệ sinh

2021

88,5%

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Tổng cục Thống kê.

 

Có nhiều nguồn số liệu khác nhau về thực trạng ngành nông nghiệp Việt Nam nhưng về cơ bản, các chỉ số thống kê (Bảng 1) cho thấy ngành nông nghiệp hiện nay đang đóng góp 13,96% vào giá trị gia tăng của nền kinh tế và trung bình tạo ra 1,8% tăng trưởng GDP trong 2019. Đại đa số người dân sống trong khu vực nông thôn sinh sống bằng các hoạt động nông nghiệp như canh tác hoa màu, bán lúa gạo, chăn nuôi gia súc, thủy sản và kinh tế lâm nghiệp. Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước và tiến độ hội nhập kinh tế quốc tế được tăng cường, nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc và ghi nhận sự phát triển mang tính toàn diện ở tất cả các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức ổn định từ 4 đến 5%/năm trong giai đoạn 2010 – 2020 đã giúp cho nền nông nghiệp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Hơn nữa, trong quá trình Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đồng thời cũng giúp giá trị xuất khẩu nông sản tăng mạnh qua các năm. Kết quả phát triển nông nghiệp thể hiện ở một số khía cạnh nổi bật bao gồm:

 

Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam qua các năm

 

Năm

Kim ngạch (tỷ USD)

2016

32,18

2017

36,51

2018

39,22

2019

41,12

2020

41,25

2021 (dự kiến)

44

 

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2021.

 

- Đáp ứng được đầy đủ nhu cầu lương thực và thực phẩm trong nước và đảm bảo an ninh lương thực

- Việt Nam đã thành công trong việc hình thành những vùng sản xuất nông sản hàng hóa quy mô tương đối lớn, góp phần tăng cương tính chất thương mại của ngành nông nghiệp, đem lại lợi ích trực tiếp cho người nông dân.

- Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đã có những thành công nhất định trong đẩy mạnh mở cửa, tiếp cận tới các thị trường nông sản lớn của thế giới. Trong năm 2020, dù bối cảnh dịch covid-19 diễn ra khá nặng nề nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam vẫn đạt 41,2 tỷ USD, tăng 2,5% so với năm 2019. Trong đó, các mặt hàng nông sản chính ước 18,54 tỷ USD, giảm 0,5%; thuỷ sản 8,47 tỷ USD, giảm 0,8%; lâm sản và đồ gỗ ước đạt trên 12,8 tỷ USD, tăng 13,4%. Nếu xem xét trong dài hạn, nông sản xuất khẩu của Việt Nam luôn tăng nhanh qua các năm với nhiều mặt hàng đã khẳng định được vị trí trên thị trường thế giới như rau quả, hạt điều, gạo, cà phê, cao su, thủy sản, v.v..

- Lĩnh vực nông nghiệp luôn là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất, thu hút sự tham gia của đai bộ phận lao động nông thôn và trở thành bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế ngay trong những lúc đất nước gặp nhiều khó khăn nhất của thiên tai, bệnh dịch các năm 2020, 2021.

 

 

2. Kinh nghiệm quốc tế

Từ thực trạng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam thời gian qua, khi so sánh, đối chiếu với kinh nghiệm một số quốc gia, khu vực trên thế giới cũng cho thấy nhiều vấn đề đáng quan tâm.

 

2.1. Chính sách của Liên minh châu Âu

Tại các quốc gia Liên minh châu Âu (EU), nông nghiệp được coi là lĩnh vực kinh tế truyền thống và nông thôn, nông dân là một trong những tài sản vô giá gắn liền với những giá trị quan trọng bao gồm lương thực khu vực này cung cấp, cuộc sống tự nhiên mà khu vực này duy trì và quan trọng hơn cả là môi trường sinh thái góp phần làm cân bằng cho cuộc sống giữa nông thôn, thành thị, đảm bảo cho thành quả phát triển bền vững. Chính sách nông nghiệp chung châu Âu (CAP) được xây dựng, thực hiện trong gần 60 năm qua vẫn được coi là công cụ quan trọng nhất để EU đảm bảo vấn đề tam nông trong đó đã xác lập quan hệ đối tác chặt chẽ giữa nông nghiệp và xã hội, giữa các nhà nước trong EU và những người nông dân của mình. Chính sách của EU tập trung vào các mục tiêu lớn bao gồm[1]:

 

- Hỗ trợ nông dân và cải thiện năng suất nông nghiệp, đảm bảo cung ứng lương thực ổn định với mức giá chấp nhận được với đa số người dân

- Bảo đảm cho người nông dân EU một mức sống hợp lý

- Hỗ trợ chống biến đổi khí hậu và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Bảo tồn các vùng nông thôn, giữ vững cảnh quan nông thôn trong khắp khu vực EU.

- Duy trì sức sống của kinh tế nông thôn thông qua thúc đẩy tạo việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm và các lĩnh vực liên quan khác.

Chính sách nông nghiệp chung châu Âu có thể coi là một chính sách điển hình về quản lý, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn được thực hiện ở cấp độ khu vực với nguồn lực từ ngân sách của EU. Quan điểm chính sách chung cho rằng sự thiếu chắc chắn trong hoạt động kinh doanh nông nghiệp và tác động môi trường của hoạt động canh tác đòi hỏi nhà nước phải đóng vai trò lớn hơn trong hỗ trợ nông dân. Trên cơ sở đó, các công cụ chính sách của CAP bao gồm:

- Hỗ trợ thu nhập thông qua chi trả trực tiếp để đảm bảo thu nhập ổn định và bù đắp cho những người nông dân có biện pháp canh tác thân thiện với môi trường. EU sẽ hỗ trợ bằng các dịch vụ công mà trong điều kiện thông thường sẽ không thể thực hiện được bằng các biện pháp thị trường.

- Các biện pháp thị trường: thực hiện để giải quyết các khó khăn của thị trường với các tình huống có thể xảy ra như sự giảm sút bất thường của nhu cầu hoặc giảm giá quá mức do thừa nguồn cung trên thị trường, v.v… Các biện pháp thị trường có mục đích là ổn định thị trường nông sản, hạn chế khủng hoảng leo thang, thúc đẩy cầu và giúp cho lĩnh vực nông nghiệp thích ứng tốt hơn với những thay đổi của thị trường. Đây là một phần của quy định về tổ chức thị trường chung tạo khuôn khổ cho nông nghiệp EU vận hành trong thị trường đơn nhất.

- Các biện pháp phát triển nông thôn bao gồm các chương trình phát triển ở cấp độ quốc gia và cấp độ khu vực nhằm giải quyết các nhu cầu cụ thể và những thách thức đặt ra đối với khu vực nông thôn. Phát triển nông thôn là một trụ cột trong chính sách CAP để tăng cường cho biện pháp hỗ trợ thu nhập và các biện pháp thị trường, từ đó đảm bảo tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường của khu vực nông thôn. Các mục tiêu dài hạn được đặt ra trong phát triển nông thôn bao gồm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nông, lâm nghiệp; đảm bảo quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu; duy trì phát triển cân bằng về lãnh thổ của các cộng đồng nông thôn, trong đó có chú trọng tới tạo việc làm.

Bảng 3. Hỗ trợ của EU cho nông dân năm 2019

 

Hình thức hỗ trợ

Kinh phí (tỷ euro)

Hỗ trợ thu nhập

41,43

Các biện pháp thị trường

2,37

Phát triển nông thôn

14,18

Tổng số

57,98

 

Nguồn: CAP Financing, https://ec.europa.eu, 2021

 

Với chính sách và các biện pháp hỗ trợ tam nông như nêu trên, tình hình phát triển nông nghiệp Châu Âu những năm gần đây cho thấy khả năng điều chỉnh và thích nghi tương đối tốt của lĩnh vực nông nghiệp trước các biến động nhanh chóng của môi trường kinh tế, xã hội và tiến bộ công nghệ. Các điều chỉnh này diễn ra trong khuôn khổ chính sách hỗ trợ phát triển tam nông được Châu Âu thực hiện theo nhiều cấp độ khác nhau bao gồm:

 

- Chính sách thực thi ở cấp độ khu vực: tức là các chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của EU do Uỷ ban Châu Âu giữ vai trò điều phối thực hiện.

- Chính sách thực thi ở cấp độ quốc gia: thông thường các chính sách tam nông của quốc gia gắn với sự điều phối chung của khu vực EU nhưng trong nhiều trường hợp, các chính sách quốc gia phải phản ánh điều kiện đặc thù của từng nước do nông nghiệp đang giữ vị trí rất quan trọng ở một số nước như Pháp, Italia, Tây Ban Nha... nhưng đối với một số nước như Đức, Thuỵ Điển, Luxembourg... thì nông nghiệp chỉ hiện diện ở mức tối thiểu.

- Ngoài ra các chính sách phát triển tam nông cũng được cân nhắc thực hiện ở cấp độ vùng lãnh thổ trong mỗi quốc gia do trong cùng một quốc gia nhưng điều kiện phát triển nông nghiệp không đồng nhất với nhau. Ví dụ miền Nam Italia, Ireland, miền nam nước Pháp, Bồ Đào Nha, Hungary...đều được xem xét ở cấp độ coi đó là các vùng lãnh thổ.

 

Các chính sách hỗ trợ phát triển liên quan tới tam nông đã và đang được EU thực hiện với nhiều ảnh hưởng lâu dài tới toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội tại nông thôn. Điều này là do lĩnh vực nông nghiệp tuy đang thu hẹp về quy mô và mức độ ảnh hưởng tới phát triển kinh tế nhưng vẫn đóng vai trò rất quan trọng nếu xét từ góc độ bảo vệ môi trường, cảnh quan và giữ gìn các giá trị truyền thống đã và đang tồn tại trong các vùng nông thôn.

 

Báo cáo thống kê của Cơ quan Thống kê Châu Âu (Eurostat) cho thấy mặc dù EU có cơ cấu kinh tế phát triển với trọng tâm ưu tiên là phát triển dịch vụ nhưng nông nghiệp vẫn được coi là một lĩnh vực quan trọng có đóng góp đáng kể vào giải quyết việc làm và tăng trưởng GDP. Cụ thể, lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm được thống kê là lĩnh vực thu hút một lượng đáng kể người lao động, tạo việc làm cho khoảng 19 triệu lao động vào năm 2020, tức là chiếm tới 8,6% tổng số việc làm của EU. Cùng với khả năng tạo việc làm đáng kể này, nông nghiệp cũng đóng góp khoảng 4% GDP của cả khối EU[2]. Tuy nhiên, nếu xem xét cụ thể từng nhóm quốc gia với trình độ phát triển tương ứng tại EU cũng cho thấy nhiều khác biệt giữa các nhóm quốc gia này. Đối với các quốc gia có trình độ phát triển cao nhất, chẳng hạn nhóm EU-12 quốc gia thành viên gia nhập đầu tiên thì lĩnh vực nông nghiệp đã thu hẹp và có quy mô tương đối nhỏ xét cả về đóng góp GDP và giải quyết việc làm. Ngược lại, đối với các quốc gia EU khác, đặc biệt là nhóm các quốc gia Đông Âu thì nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế tương đối quan trọng, có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, giải quyết việc làm và phát triển kinh tế nói chung. Ngoài ra, nông nghiệp đối với các quốc gia Đông Âu cũng là lĩnh vực quan trọng nếư xem xét từ góc độ phải thực thi chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.

 

Như vậy, thực trạng phát triển nông nghiệp của các quốc gia EU cho thấy bức tranh toàn cảnh của ngành nông nghiệp tại khu vực này với diễn biến chung là nông nghiệp đang thu hẹp về quy mô và số lượng lao động dù răng năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp vẫn được duy trì tốt và không ngừng gia tăng. Các số liệu thống kê của Châu Âu cũng cho thấy hiệu quả kinh tế của ngành nông nghiệp đang ngày càng được cải thiện và đây là tiền đề quan trọng để Châu Âu thực thi chính sách phát triển nông nghiệp gắn với các giải pháp về nông dân và nông thôn. Chính sách của EU đã bao quát tương đối đầy đủ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và trong hơn 60 năm qua luôn là vấn đề được coi trọng hàng đầu với minh chứng là các khoản chi tiêu rất lớn từ ngân sách của EU dành cho lĩnh vực này và công cụ quan trọng nhất của EU để thực hiện phát triển tam nông chính là CAP.

 

 

2.2. Kinh nghiệm của Thái Lan

 

Chính sách phát triển Nông nghiệp của Thái Lan cũng có nhiều đặc điểm đáng chú ý. Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu cấp nhà nước[3], nhóm nghiên cứu Viện Hàn lâm KHXH đã tiến hành nghiên cứu điển hình tại Vùng Đông Bắc Thái Lan và thấy được nhiều vấn đề chính sách đáng quan tâm

- Vùng Đông Bắc Thái Lan có vị trí địa chính trị quan trọng nằm trên cao nguyên Khorat, tiếp giáp sông Mekong ở phía Đông và phía Bắc, bên kia dòng sông Mekong là nước Lào; tiếp giáp Campuchia ở phía Nam, nằm trong khu vực hợp tác tiểu vùng sông Mekong (GMS) và tam giác phát triển Việt nam – Lào – Campuchia, là nơi có hành lang kinh tế Đông – Tây chạy qua với các trục đường giao thông quan trọng nối từ Đà Nẵng (Việt Nam) sang Lào, Thái Lan và Myanmar. Chính sách của Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào tạo điều kiện cho vùng này phát huy lợi thế đặc thù về khí hậu, điều kiện sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc thù của vùng cao nguyên như gạo, ngô, sắn, cao su, mía, cây trái (cam, sầu riêng, mãng cầu, chuối, vải thiều, táo, me ngọt, nhãn…).  Một nội dung chính sách quan trọng được thực hiện là Chính sách phát triển các cụm ngành như cụm ngành trong ngành công nghiệp chế tạo, các cụm ngành điện, điện tử và đặc biệt là các cụm ngành chế biến nông sản với nhiều ưu đã về thuế và phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nhân lực tại nông thôn.  cụm ngành chế biến nông sản được coi là đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế của khu vực này. Có thể chia thành hai nhóm cụm ngành chế biến nông sản ở phía Đông Bắc Thái Lan bao gồm:

+ Cụm phía Bắc: Chiang Mai, Chiang Rai, Lampang và Lamphun. Các nguyên liệu sẵn có là rau, trái cây và các sản phẩm thảo dược.

+ Cụm phía Đông Bắc: Khon Kaen, Nakhon Ratchasima, Chaiyaphum và Buriram. Nguyên liệu thô sẵn có là gạo, gia súc, sắn, mía và ngô.

Các cụm ở khu vực Đông Bắc hoạt động theo các ưu đãi đặc biệt của chính phủ Thái Lan, có các chức năng như: Cải tiến giống cây trồng và vật nuôi; Chiết xuất tự nhiên, sản phẩm từ chiết xuất tự nhiên; Chế biến từ nguyên liệu thô tự nhiên; Thực phẩm y tế hoặc thực phẩm chức năng; Phân loại, đóng gói và lưu trữ cây cối, rau, hoa quả bằng công nghệ cao; Trung tâm Thương mại Nông sản…

 

- Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Đất đai ở vùng Đông Bắc Thái Lan rất thích hợp cho các loại cây trồng của vùng cao nguyên. Cơ cấu nông nghiệp ở vùng đông bắc là như sau: lương thực chiếm 88% diện tích trồng trọt (gồm gạo ướt, gạo nương, đậu nành, sắn, ngô), cây công nghiệp dài ngày (cao su, bạch đàn, gỗ tếch) và cây ăn quả (me ngọt, xoài, mãng cầu, chuối, cam, vải thiều) chiếm 11% diện tích trồng trọt; còn lại là diện tích trồng các cây đặc sản, rau, hoa (chiếm 1%). Do cơ cấu đất trồng mang tính đặc thù của vùng miền núi: chất lượng đất thấp, lượng mưa thất thường và theo mùa, khan hiếm nước về mặt, sườn núi dốc, khan hiếm đất, tình trạng mất an ninh về đất vẫn thường xuyên xảy ra do tranh chấp đất đai và do điều kiện khí hậu, đất pha lẫn với đá, khả năng giữ nước thấp, tốc độ xói mòn đất cao, mùa khô kéo dài…, cho nên giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ được chính phủ Thái Lan lựa chọn để khai thác các lợi thế đặc thù về nông nghiệp nơi đây. Nông nghiệp hữu cơ có tác dụng phá vỡ các vòng luẩn quẩn về vốn sản xuất, nước tưới tiêu, sâu bệnh, sở hữu đất đai quy mô nhỏ… ở vùng Đông Bắc Thái Lan bởi canh tác nông nghiệp hữu cơ phải sử dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp tự nhiên để đảm bảo và tăng độ màu mỡ cho đất, hạn chế sâu bệnh, nông dân không phải thực hiện các quy mô đầu tư canh tác giống nhau vào mỗi mùa trồng trọt, đồng thời đảm bảo cho các hộ nông dân sản xuất nhỏ gìn giữ được các tập quán canh tác nông nghiệp truyền thống.

 

Chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ được áp dụng chủ yếu đối với diện tích trồng lúa ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Để thực hiện chính sách này, nông dân sẽ được hỗ trợ từ mua giống, kỹ thuật gieo trồng cho đến tiếp thị đầu ra để giảm hàm lượng thuốc từ sâu trên lúa. Ngân sách cho chiến lược phát triển nông nghiệp hữu cơ là khoảng 2000 Bath/0,16 ha đất trong năm đầu tiên; 3000 Bath/0,16 ha đất trong năm thứ hai và 4000 Bath/0,16 ha trong năm thứ ba. Chính phủ quy hoạch trên toàn quốc 8 làng nông nghiệp hữu cơ, mỗi làng sẽ phát triển một loại nông sản xuất phát từ thế mạnh và đặc điểm thổ nhưỡng của vùng. Tỉnh Surin vùng Đông Bắc Thái Lan được quy hoạch phát triển gạo thơm (hom mali) và gạo đen (berry) hữu cơ tại làng Thapthai; tỉnh Yasothon phát triển gạo thơm và gạo đen tại làng Sokhumpun. Đặc biệt, gạo Hom Mali được khuyến khích trồng hữu cơ tại 16/20 tỉnh ở vùng Đông Bắc Thái Lan, trong đó diện tích trồng gạo hữu cơ nhiều nhất thuộc tỉnh Surin (482.337 Rai), Yasothon (173.952 Rai), Roi Et (259.896 Rai), Ubon Ratchaithani (31.138 Rai), tỉnh Nakhon Ratchasima (20.389 Rai)[4] v.v…

 

Phát triển gạo hữu cơ ở vùng Đông Bắc Thái Lan còn đi đôi với việc cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý “Hom Mali” và giấy chứng nhận bảo hiểm liên quan đến sản xuất hữu cơ, được áp dụng phổ biến ở các tỉnh Surin, Ubon Ratchathani Yasathorn. Đây là các tỉnh có diện tích trồng gạo hữu cơ lớn nhất vùng và được các cơ sở công nghiệp chế biến trong vùng hỗ trợ trong việc đóng gói, hút chân không, bảo quản sản phẩm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ.

 

- Chính sách mỗi làng một sản phẩm: Học tập kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc, chính phủ Thái Lan đã thực hiện chính sách “mỗi làng một sản phẩm” (one tambon one product– OTOP). Nước này đã phát động phong trào OTOP từ năm 2001 theo đó chính phủ hỗ trợ về tiếp thị, xúc tiến bán hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân nhằm phát triển các nghề thủ công truyền thống của Thái Lan, tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo về mẫu mã, kiểu dáng, xuất khẩu rộng rãi trên thị trường thế giới.

 

Tại vùng Đông Bắc Thái Lan, chính sách OTOP đã được phổ biến áp dụng rất rộng sang các tỉnh thành khác nhau, nhưng tập trung nhiều nhất ở tỉnh Si Saket và tỉnh Surin. Các sản phẩm của OTOP sẽ được sàng lọc, phân loại dựa theo 4 tiêu chí: Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu; sản xuất liên tục và nhất quán; đảm bảo tiêu chuẩn hóa và có tính đặc biệt. Khi khách du lịch và người tiêu dùng đến thăm quan địa phương áp dụng mô hình OTOP, ngoài việc nhìn thấy các sản phẩm được bày bán trên kệ, họ có thể biết thêm về bối cảnh lịch sử của mỗi sản phẩm, quá trình sản xuất, câu chuyện bên lề về sản phẩm đó, lối sống và tập quán riêng của cộng đồng, từ đó, tạo sự hấp dẫn thu hút du khách và giá trị gia tăng cho mỗi sản phẩm, thay vì chỉ thấy mức giá niêm yết trên sản phẩm đó.

 

- Chính sách phát triển du lịch nông thôn: Chương trình “mỗi làng một sản phẩm” gắn với mục đích làm đa dạng và phong phú cho các sản phẩm du lịch nông thôn, tạo ra sức hút đối với khách du lịch. Chủ thể cung cấp các dịch vụ cho hoạt động du lịch nông thôn là chủ các nông trại, các hội người làm vườn, hội những phụ nữ làm công tác chế biến và thu hoạch nông sản.

Với lợi thế đặc thù về điều kiện tự nhiên, sinh thái và di sản văn hoá, chính sách phát triển du lịch nông thôn ở khu vực đông bắc chú trọng đến việc tổ chức và tạo không gian cho khách du lịch vãn cảnh, tổ chức sản xuất sản phẩm và tạo không gian tham quan và thưởng thức các sản phẩm là nông sản tại các địa phương, tổ chức các lễ hội truyền thống. Các sáng kiến du lịch vùng Đông Bắc Thái Lan bao gồm: (+) Chính quyền Trung ương tổ chức năm du lịch cho tỉnh; (+) Thành lập Hiệp hội Lữ hành sinh thái và mạo hiểm (năm 1997); (+) Phát triển chiến lược du lịch vì lợi ích người nghèo (pro-poor tourism).

 

Chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ phối hợp chặt chẽ để thúc đẩy du lịch liên kết với những việc làm khác nhau để giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số. Ngoài ra còn phát triển các hình thức du lịch lễ hội làng quê ở các tỉnh đông bắc. Ví dụ: Du lịch lễ hội Thần tiên; Du lịch Lễ hội Vải lụa và Du lịch nông nghiệp hữu cơ, Lễ hội văn hóa dân gian quốc tế; Lễ hội Khong Dee Muang... Các lễ hội này đều có những nét văn hoá và truyền thống địa phương đặc biệt. Du khách được khuyến khích tận dụng các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường, ở trong các homestay của làng và mua OTOP có nguồn gốc địa phương và các sản phẩm khác. Một số địa điểm du lịch sẽ tạo điều kiện cho nông dân tìm cách bán sản phẩm cho khách du lịch và nông dân gần đó được hưởng lợi từ du lịch thông qua việc mua thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác.

 

Do triển khai các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân tương đối hiệu quả nền trường hợp nghiên cứu vùng Đông Bắc Thái Lan cho thấy nhiều gợi ý thú vị. Vùng đông bắc hiện nay đang mọc lên nhiều nhà máy, siêu thị, các trung tâm thương mại lớn, trở thành một trong những thị trường mới nổi hàng đầu ở khu vực Đông Nam Á về phát triển các sản phẩm nông nghiệp. Đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài được cải thiện, chính sách hoà giải dân tộc và thống nhất xã hội đang đem lại sự cải thiện kinh tế - xã hội cho vùng đông bắc. Trong giai đoạn 2007-2011, thu nhập bình quân đầu người ở vùng đông bắc tăng 40% - là mức tăng cao nhất của Thái Lan so với các vùng khác. Từ 2011 đến 2020, khu vực này tiếp tục đạt được thành tựu phát triển rất tốt với khả năng thu hút đầu tư lớn. Cơ sở hạ tầng vùng đông bắc đang ngày càng phát triển, đặc biệt là hệ thống đường sắt cao tốc, đường hàng không đang đưa vùng Đông Bắc Thái Lan kết nối hiệu quả hơn với các vùng khác trên cả nước. Hàng loạt công ty, tập đoàn lớn của Thái Lan cũng như các công ty liên danh với nước ngoài, như CP All, Công ty Bia Thái, Công ty xi-măng Xiêm, Tập đoàn Panasonic, Tập đoàn lương thực Kraft... cũng đang có những dự án hoặc kế hoạch đầu tư ở nơi đây.

 

Là vùng biên giới có nhiều khó khăn nhưng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Thái Lại qua nghiên cứu trường hợp vùng Đông Bắc đã đem lại kết quả tốt, đưa vùng này thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác trong cả nước. Trong giai đoạn 2015 – 2020, Vùng Đông Bắc đã đạt được nhiều thành tựu phát triển và đưa thu nhập từ mức thuộc loại thấp nhất cả nước lên tiệm cận với mức trung bình toàn quốc.

 

3. Một số vấn đề rút ra

 

Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã và đang là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới. Thực tế khảo sát kinh nghiệm quốc tế cho thấy cả các nước phát triển và các nước đang phát triển đều có quan tâm thích đáng tới chính sách tam nộng và thể hiện tương đối rõ trong nghiên cứu trường hợp các nước phát triển thuộc khối EU và trường hợp nước đang phát triển Thái Lan.

 

Trong trường hợp của EU, Chính sách Nông nghiệp chung Châu Âu là một đại diện tiêu biểu cho việc thực hiện và giải quyết vấn đề tam nông tại khu vực này với một loạt các biện pháp can thiệp kinh tế, tài chính, trợ giá, thuế... để đảm bảo sự phát triển bền vững của lĩnh vực nông nghiệp, nâng cao đời sống của nông dânbảo vệ môi trường, cảnh quan nông thôn, tăng cường chất lượng đất canh tác. Tất cả các nội dung này đều được quan tâm và coi như yêu cầu không thể thiếu khi thực hiện chính sách tam nông tại Châu Âu trong suốt một giai đoạn rất dài kể từ khi thành lập Cộng đồng Châu Âu và phát triển Cộng đồng trở thành Liên Minh Châu Âu như hiện nay. Trong giai đoạn từ 2010 đến 2020, EU tiếp tục xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn mới gắn với các nội dung chung của CAP trong đó tìm cách giải quyết các vấn đề cấp thiết nhất về phát triển nông thôn và cải cách chính sách. Nhìn chung các thành quả đạt được là đáng khích lệ bao gồm:

 

- Cải thiện khả năng cạnh tranh của lĩnh vực nông nghiệp. Nội dung này đã được đảm bảo tốt với mục tiêu là đầu tư cho nguồn vốn nhân lực và vật lực tại các ngành nghề quan trọng như nông nghiệp, thực phẩm và lâm nghiệp. Chính sách đã giải quyết tốt các khó khăn liên quan tới chuyển giao kiến thức, công nghệ, đổi mới nông nghiệp và nâng cao chất lượng sản xuất.

 

- Nâng cao chất lượng môi trường và phát triển nông thôn thông qua các công cụ hỗ trợ chính sách để quản lý đất đai nông nghiệp.

 

- Cải thiện chất lượng sống của nông dân tại các vùng nông thôn, đồng thời đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn. Các biện pháp chính sách đã được thực hiện một cách thành công với trọng tâm là tăng cường kết nối kinh tế - xã hội giữa nông nghiệp, lâm nghiệp với các ngành nghề liên quan khác tại khu vực nông thôn.

Tất nhiên, vẫn còn có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về sự thành công cũng như thất bại của chính sách CAP trong giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn tại Châu Âu trong đó nổi lên một số nội dung đáng chú ý về những hạn chế của chính sách bao gồm:

 

- Tính bền vững về kinh tế - tài chính của CAP: Trong thời gian đầu khi Chính sách Nông nghiệp Chung mới được thực hiện giữa nhóm các thành viên đầu tiên của Công đồng Châu Âu, nhìn chung năng lực tài chính của các bên liên quan khi tham gia thực hiện chính sách là không có vấn đề gì thực sự khó khăn. Tuy nhiên, trong quá trình mở rộng EU để đưa tổng số thành viên EU lên 27 quốc gia thì nhiều hạn chế chính sách đã phát sinh, gây ra lo ngại về tính bền vững về mặt kinh tế của CAP. Sau lần mở rộng này, EU đã phải đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế chi tiêu của CAP. Nhiều thành viên mới, chẳng hạn như Ba Lan có lực lượng nông dân rất đông đảo và đã góp phần làm tăng mạnh những đối tượng tiếp nhận trợ cấp từ CAP. Thực tế cho thấy CAP vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong ngân sách của (khoảng 50% tổng ngân sách) trong khi ngành nông nghiệp với một số lượng nông dân khá khiêm tốn lại đóng góp tương đối ít vào GDP. Các yếu tố này khiến cho việc chi tiêu quá nhiều cho CAP là không phù hợp và được các giới chức EU coi là quá mức cần thiết.

- Các hạn chế của chính sách trong việc đem lại những lợi ích thiết yếu tới số đông người nông dân và những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp: Thực tế là CAP đã và vẫn đang chiếm một tỷ trọng rất lớn trong ngân sách của EU nhưng lại có rất ít công dân Châu Âu thực sự hưởng lợi từ chính sách này. Thống kê cho thấy chỉ khoảng 5% dân số EU là thuộc lĩnh vực nông nghiệp và lĩnh vực này chỉ đóng góp chưa đến 3% GDP của cả khối. Ngoài ra số lượng nông dân cũng đang giảm dần qua các năm. Dù rằng việc trợ cấp nông nghiệp được bảo vệ với quan điểm cho rằng đây là hành động cần thiết nhằm gìn giữ môi trường nông thôn, đảm bảo phát triển bền vững nhưng rõ ràng tương quan giữa quy mô chi tiêu ngân sách và số người hưởng lợi như hiện trạng là không phù hợp.

 

- Chính sách CAP vẫn mang tính bảo hộ nặng nề và ngày càng thể hiện sự bất cập trong xu thế phát triển mới của thế giới vốn coi trọng cạnh tranh lành mạnh và tự do hoá thương mại. Việc gia tăng hội nhập quốc tế, đảm bảo đối xử bình đẳng trong thương mại  đòi hỏi EU phải có điều chỉnh chính sách theo hướng dỡ bỏ trợ cấp, tạo ra thị trường nông sản cạnh tranh lành mạnh và minh bạch, tạo điều kiện cho sự tham gia thị trường của các nước đang phát triển còn nhiều khó khăn.

Trong trường hợp của Thái Lan, với tư cách một nước đang phát triển, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân được nhìn nhận tích cực hơn. Nghiên cứu trường hợp khu vực Đông Bắc Thái Lan cho thấy cách chính sách phát triển dành cho vùng này là tương đối hợp lý với đầu tư nguồn lực tương xứng, từng bước giúp cho vùng lãnh thổ còn nhiều khó khăn này có được sự bứt phá, tiệm cận dần với trình động phát triển chung của cả nước.

 

Bài học kinh nghiệm của EU và của Thái Lan là rất khác nhau dù rằng cả hai trường hợp này đều cho thấy sự quan tâm của các nhà nước tới phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Việc bố trí nguồn lực đầu tư cho tam nông phụ thuộc vào khả năng tài chính của quốc gia nhưng quan trọng hơn phải là cách tiếp cận mang tính thị trường. Trường hợp trợ giá nặng nề cho nông nghiệp của EU đã bị nhiều quốc gia bên ngoài chỉ trích. Đầu tư theo hướng lĩnh hoạt, kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội theo mô hình Thái Lan trên thực tế đã được đánh giá tương đối tích cực.

 

Từ nghiên cứu quốc tế, có thể nhìn nhận về một số bài học cho Việt Nam như sau:

- Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia có quy mô nông nghiệp, nông dân, nông thôn tương đối lớn và nông nghiệp vẫn luôn được coi là bệ đỡ, là lĩnh vực có khả năng hấp thụ và giúp nền kinh tế giảm bớt các “cú sốc” của bối cảnh bên ngoài, nhất là tác động tiêu cực của đại dịch covid đang diễn ra. Với một bộ phận lớn người dân sống tại khu vực nông thôn, chính sách tam nông của Việt Nam cần được đặc biệt chú trọng trong công cuộc đổi mới, hiện đại hoá đất nước hiện này và việc cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong thời gian vừa qua cơ bản đã đi đúng hướng, đem lại nhiều kết quả ấn tượng.

 

- Một trong những bài học quan trọng cần rút ra là đảm bảo tính bền vững của sản xuất nông nghiệp. Việt Nam có thể ghi nhận từ quá trình thực hiện chính sách CAP của Châu Âu, của Thái Lan để thẩy rằng nông nghiệp có thể được coi là thế mạnh của Việt Nam nhưng cách thức tổ chức sản xuất nông nghiệp rất cần được hiện đại hoá, chuyên nghiệp hoá để một mặt cải thiện năng suất, mặt khác giữ vững độ ổn định, chất lượng đất đai canh tác.

 

- Cùng với phát triển nông nghiệp, vấn đề nông dân cần được quan tâm sát sao với các biện pháp chính sách hỗ trợ cho thu nhập của nông dân, góp phần giúp họ cải thiện chất lượng sống và từ đó có ý thức giữ gìn môi trường nông thôn. Xét đến cùng, người nông dân vẫn là chủ thể của khu vực nông thôn và cần được đặt vào trung tâm của mọi chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

 

- Nông thôn Việt Nam hiện đang gặp rất nhiều vấn đề về môi trường sống với nguy cơ cao liên quan tới việc bị ô nhiễm từ quá trình mở rộng phát triển công nghiệp. Thực hiện chính sách phát triển nông thôn là rất cần thiết để cải thiện môi trường sống cho nhiều triệu hộ nông dân Việt Nam và góp phần quan trọng để nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng bền vững, có chất lượng.

 

- Cuối cùng, một nguyên tắc quan trọng hàng đầu cần được quán triệt trong thực thi chính sách tam nông ở Việt Nam chính là việc xác định phát triển nông nghiệp là phát triển kinh tế trong khi phát triển nông thôn liên quan trực tiếp tới phát triển xã hội. Ý thức được điều này sẽ giúp quá trình lập chính sách của Việt Nam không chỉ đạt hiệu quả kinh tế mà cỏn đạt được hiệu quả xã hội cần thiết trong giải quyết vấn đề tam nông gắn với thời kỳ phát triển mới của đất nước giai đoạn hiện nay. Nói cách khác, phát triển tam nông chÍnh là phát triển bền vững với các trụ cột quan trọng về kinh tế, xã hội và môi trường.

 

PGS.TS Bùi Nhật Quang

 Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,

Phó Chủ tịch kiêm nhiệm Hội đồng Lý luận Trung ương.

 




[1] The common agricultural policy at a glance, European Comission 2021.

[2] Theo phân loại của Eurostat, nông nghiệp ở đây bao gồm toàn bộ các lĩnh vực kinh tế sơ cấp như nông nghiệp, lâm nghiệp, săn bắn, công nghiệp thực phẩm.

[3] Đề tài cấp Nhà nước “Xác định các lợi thế đặc thù của Tây Nguyên trong bối cảnh gia nhập AEC và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”, Mã số TN16/X01, Chủ nhiệm Đề tài PGS.TS. Bùi Nhật Quang.

[4] Joel D.Moore, John Donaldson (2016), Human – scale economics: economic growth and poverty reduction in Northeastern Thailand, World Development, Vol 85, 1-15, September.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết