Chủ Nhật, ngày 04 tháng 12 năm 2022

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp và những gợi mở hiện nay

Ngày phát hành: 07/01/2022 Lượt xem 2330

Bác Hồ tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quang Tó, xã Đại Thanh,

huyện Thanh Trì, Hà Nội (12/01/1958).

1

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người am hiểu rất sâu sắc về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức nghiên cứu lý luận và thực tiễn nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhiều quốc gia, đặc biệt là một số quốc gia châu Á, nhằm tham chiếu, giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đương nhiên, Người đặc biệt am hiểu nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam. Người đã phê phán mạnh mẽ chế độ thống trị của thực dân, đế quốc và tay sai cùng những chính sách phản động của chúng đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam. Người thấy rõ những đặc điểm của nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam, cả những điểm mạnh và điểm yếu, ưu điểm và hạn chế, để khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Người đã lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hoạch định và thực hiện nhiều đường lối, chính sách phát triển đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Cho đến tận cuối đời, trong Di chúc thiêng liêng, Người vẫn dành sự quan tâm đối với người nông dân, lĩnh vực nông nghiệp và địa bàn nông thôn: Người “có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”[1].

 

Với sự am hiểu và mối quan tâm đặc biệt như thế, trong sự nghiệp của Người, Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều tư tưởng quan trọng và có giá trị về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Mặc dù những tư tưởng đó ra đời trong bối cảnh cụ thể, gắn với những điều kiện cụ thể, và bối cảnh, tình hình Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều khác biệt so với Việt Nam lúc sinh thời của Hồ Chí Minh, nhưng nhiều tư tưởng của Người về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn có giá trị và sức sống vượt thời gian, có sức gợi mở, định hướng nhận diện, giải quyết nhiều vấn đề có liên quan của Việt Nam hiện nay. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi tập trung nghiên cứu một số nội dung có giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, từ đó đúc rút một số gợi mở cho Việt Nam hiện nay.

 

2

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về vai trò, mục tiêu, biện pháp nhằm tạo nên sự biến đổi về chất của nông nghiệp Việt Nam theo hướng văn minh, hiện đại.

 

2.1. Về vai trò của nông nghiệp

Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp đối với kinh tế Việt Nam, xã hội Việt Nam. Người nêu quan điểm: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.  Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”[2]. Đây là quan điểm toàn diện, tổng quát của Hồ Chí Minh về vai trò của nông dân và nông nghiệp Việt Nam, theo đó, Việt Nam là một nước nông nghiệp; “canh nông” là gốc của nền kinh tế; trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, người nông dân và lĩnh vực nông nghiệp một điểm tựa quan trọng của nhà nước và của xã hội; đời sống của người nông dân và trình độ phát triển của lĩnh vực nông nghiệp là một thước đo, một cội nguồn của sự giàu mạnh, phát triển của dân tộc, của quốc gia.

Không chỉ đưa ra quan điểm về vai trò của nông nghiệp, nông dân đối với tổng thể quốc gia, Hồ Chí Minh còn chỉ ra những vai trò rất cụ thể của nông nghiệp. Những vai trò này thể hiện trong các quan hệ cụ thể.

Trước hết, nông nghiệp đảm bảo các điều kiện cơ bản nhất cho sự sinh tồn của con người, đó là ăn, mặc và ở cho người dân. Người nói rõ: “Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân, muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ. Muốn nông dân có lực lượng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở”[3].

 

Để có cơm ăn, cần phải phát triển nông nghiệp: “Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác). Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương thực. Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng”[4]. Hồ Chí Minh phê phán những người không quý trọng nông nghiệp và chỉ rõ, chỉ có nông nghiệp mới đảm bảo được nhu cầu sống còn của con người là cơm ăn. Người viết: “Thấy hạn thì bỏ ruộng đi buôn, vậy thử hỏi có tiền mà không có gạo thì có ăn được không? Nếu ai cũng bỏ ruộng đi buôn cả thì dù có ngồi trên đống vàng cũng không có gì mà ăn. Thóc lúa ăn được, vàng có ăn được không?”[5]. Nạn đói năm 1945 với hơn 2 triệu đồng bào chết đói là nỗi đau mà mỗi người Việt Nam đều không thể nào quên. Chính vì thế, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ và quốc dân, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “chống giặc đói” với giải pháp lâu dài là tăng gia sản xuất, phát triển nông nghiệp, và trực tiếp, trước mắt là mở ngay một cuộc lạc quyên, mỗi người dân Việt Nam cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, đem gạo tiết kiệm được phát cho người nghèo.

 

Để có áo mặc, cũng cần phải phát triển nông nghiệp. Bài học từ những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về phát triển ngành nông nghiệp trồng bông để có thể đảm bảo thỏa mãn nhu cầu mặc và xa hơn là để chủ động và có cơ hội cạnh tranh trong công nghiệp may mặc đến nay vẫn còn nóng hổi[6]. Ngày 8/12/1961, trong bài nói chuyện với Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Người đã chỉ rõ: “nếu chú trọng lương thực mà không có bông thì tức là có ăn chứ chưa có mặc. Mình có cần mặc không? Cần. Nếu không toàn diện, tức là chú trọng cái ăn chứ chưa chú trọng cái mặc. Thế cho nên, vừa phải chú trọng cái ăn, vừa phải chú trọng cả cái mặc”[7].

 

Để có nhà ở, nông nghiệp cũng góp phần quan trọng. Theo Hồ Chí Minh “Dân sinh là cái gì? Là cái ăn, cái mặc, cái ở. Ba cái đó đều quan trọng. Ăn, mình tăng gia sản xuất được. Mặc, mình tăng gia sản xuất được. Chứ còn nhà ở thì sao? Muốn làm nhà ở phải có cái gì? Gỗ. Muốn có gỗ thì phải trồng cây”[8]. Rõ ràng, Hồ Chí Minh hoàn toàn tán đồng quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, hoàn toàn tán đồng quan điển duy vật biện chứng về lịch sử. Nếu Ph.Ăngghen từng nhấn mạnh: “trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học,…”[9], thì Hồ Chí Minh cũng luôn đặc biệt quan tâm đến những nhu cầu cơ bản này của con người và một trong những giải pháp chủ yếu mà Người đưa ra chính là phát triển nông nghiệp.

 

Ngoài chuyện ăn, mặc và ở, sự phát triển nông nghiệp cũng tạo điều kiện cho việc nâng cao đời sống tinh thần, giải quyết các vấn đề xã hội khác của nông dân ở nông thôn. Theo Hồ Chí Minh, “nền kinh tế của ta như nước hồ, nước sông, đời sống của ta như chiếc thuyền. Nước càng lên cao, thuyền càng cao. Vì thế, nên nền kinh tế càng cao thì đời sống của nhân dân mới cao. Vậy, muốn cải thiện đời sống, phải thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm”[10]. Đời sống của người dân ở đây, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bao gồm toàn diện cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tư tưởng cùng các hưởng thụ khác về văn hóa.

 

Bác Hồ thăm nông dân Bắc Giang, tháng 2/1955 

 

Hồ Chí Minh còn khẳng định vai trò của nông nghiệp đối với các ngành kinh tế khác trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Quan điểm này được Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định. Chẳng hạn, nông nghiệp “cung cấp nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp và cung cấp lâm thổ sản…”[11]; “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra”[12], v.v.. Tất nhiên, Hồ Chí Minh không nhấn mạnh một chiều vai trò quan trọng của nông nghiệp. Nhưng rõ ràng, với đặc điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam, thì quan điểm của Hồ Chí Minh coi nông nghiệp là “gốc” của các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân là hoàn toàn xác đáng và có cơ sở khách quan.

 

Một vai trò rất quan trọng khác của nông nghiệp trong bối cảnh nông thôn là địa bàn chủ yếu và nông dân chiếm tới 90% dân số, cũng được Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh, đó là nhờ có phát triển nông nghiệp, quyền kinh tế của nông dân được bảo đảm, và nhờ đó quyền chính trị của nông dân ở nông thôn cũng được nâng cao và bảo đảm. Tổng kết kinh nghiệm cách mạng quốc tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Ở nông thôn, đối với người nông dân, nếu “quyền kinh tế đã được nâng cao thì quyền chính trị cũng được nâng cao và được đảm bảo”[13]. Nhìn lại tình hình nông thôn Việt Nam, Hồ Chí Minh thấy rõ thực trạng: “… vì sao việc sản xuất của ta không tiến kịp thắng lợi quân sự? Vì đại đa số nhân dân ta là nông dân, mà nông dân thì một phần đông chưa thật thà nắm quyền chính trị, chưa thật thà được giải phóng về kinh tế”[14]. Rõ ràng, phát triển nông nghiệp là cơ sở trực tiếp của quyền kinh tế, và sâu xa hơn, là cơ sở của quyền chính trị của nông dân, thậm chí là của cả chế độ chính trị. Người khẳng định: với phát triển nông nghiệp, “nông dân lao động đã thành cột trụ của chính quyền ở nông thôn, do đó mà nhân dân dân chủ chuyên chính và công nông liên minh trở nên vững chắc”[15]. Đây thực chất là quan điểm về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc và vận dụng rất sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

 

Cuối cùng, với những lợi thế mà điều kiện tự nhiên mang lại, nông nghiệp Việt Nam có rất nhiều tiềm năng phát triển, và sự phát triển của nông nghiệp sẽ cung cấp các nguồn lực quan trọng để “mở rộng quan hệ buôn bán với các nước ngoài”[16]. Nói cách khác, đối với một nước nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao như Việt Nam, thì nông nghiệp không chỉ là điều kiện quan trọng để giải quyết các vấn đề đối nội của Việt Nam, mà còn là điều kiện để giải quyết nhiều vấn đề đối ngoại, vấn đề quan hệ quốc tế.

 

2.2. Về mục tiêu phát triển nông nghiệp

Nếu mục đích của phát triển nông nghiệp theo tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong luận điểm của Người: “Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”, thì mục tiêu phát triển nông nghiệp của Người thể hiện trên hai phương diện bên trong và bên ngoài của lĩnh vực nông nghiệp.

Bên trong lĩnh vực nông nghiệp, Hồ Chí Minh chủ trương phát triển một nền nông nghiệp toàn diện. Tính toàn diện của nền nông nghiệp phát triển được Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiều lần. Khi về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, Người nhắc nhở: “Trung ương thường nói nông nghiệp phải toàn diện. Mình không những cốt gạo, ngô, khoai, sắn, bông, mà còn cốt các thứ khác nữa. Cho nên phải toàn diện. Tăng diện tích mà không tăng sản lượng là vô ích, mất công. Nhưng tăng sản lượng cũng phải toàn diện. Lúa là chính, nhưng ngô, khoai, sắn, cũng phải có, cũng phải chú trọng. Nếu chỉ chú trọng lúa mà không chăm nom ngô, khoai, sắn, cũng không được. Hoặc chỉ chăm về cây lương thực mà không chăm về cây công nghiệp cũng là khuyết điểm”[17]. Tại hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp ở các tỉnh miền núi, Người nhấn mạnh: “Sản xuất phải toàn diện, sản xuất thóc là chính đồng thời phải rất coi trọng hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi, thả cá và nghề phụ. Phải coi trọng tăng vụ, vỡ hoang và tăng năng suất”[18], v.v..

 

Có thể thấy, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng tính toàn diện trong cơ cấu nông nghiệp. Người đề cập đến phát triển toàn diện các loại hình cây trồng. Trong cây trồng, Hồ Chí Minh nói đến lúa và các loại hoa màu. Người chỉ rõ, “coi trọng cây lúa là tốt”, nhưng còn phải “hết sức phát triển hoa màu. Chỉ có thóc, không có hoa màu là không được. Hoa màu không những là cây lương thực quý của người, mà còn dùng để chăn nuôi”[19]. Không chỉ chú trọng trồng cây lương thực, Hồ Chí Minh còn thường xuyên nhắc nhở phải trồng cây công nghiệp: “cây công nghiệp không đạt được kế hoạch thì ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp”[20]. Trong các loại cây công nghiệp, ngoài bông, Người còn nói đến những loại cây trồng vừa đáp ứng nhu cầu trong nước, vừa có lợi thế xuất khẩu. Nói chuyện với cán bộ công nhân nông trường Đông Hiếu (Nghệ An), Người nhắc nhở: “Trong trồng trọt phải chú ý toàn diện. Trồng cà phê, trồng lúa nhưng đồng thời phải chú ý trồng lạc, trồng vừng vì lạc, vừng là thứ hàng xuất khẩu rất tốt để đổi lấy máy móc”[21].

 

Cùng với cây trồng, Hồ Chí Minh rất chú trọng phát triển chăn nuôi. Người lưu ý: “phải chú ý phát triển chăn nuôi càng nhiều càng tốt”[22]. Chăn nuôi không chỉ chú ý đến số lượng, mà còn phải chú ý đáp ứng đa dạng các nhu cầu khác nhau: “Phải phát triển mạnh chăn nuôi để bảo đảm có thêm thịt ăn, thêm sức kéo, thêm phân bón”[23].

Ngoài trồng trọt và chăn nuôi, Hồ Chí Minh còn rất chú ý đến lâm nghiệp. Người chỉ rõ: “phải chú ý bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng. Tục ngữ nói: “Rừng vàng, biển bạc”. Chúng ta chớ lãng phí vàng, mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”[24]. Theo Hồ Chí Minh, “cây và rừng là nguồn lợi lớn”. Người đã sớm cảnh báo một “tệ hại” mà chúng ta đã không thực sự chú ý, để đến nay, hậu quả đã trở nên hết sức nghiêm trọng, đó là “phá rừng”: “Gây rừng và bảo vệ rừng là rất cần thiết. Hiện nay tỉnh ta còn có cái tệ phá rừng, thế thì khác nào đem vàng đổ xuống biển? Đồng bào và chính quyền phải nghiêm khắc ngăn ngừa tệ hại ấy”[25], và “khai thác bừa bãi”: “phải có kế hoạch chu đáo, phải chấm dứt tình trạng khai thác bừa bãi như hiện nay”[26]. Rõ ràng, tính toàn diện trong lâm nghiệp không phải chỉ ở trồng nhiều, trồng đa dạng, mà còn là sự toàn diện giữa trồng và bảo vệ, khai thác.

 

Nói đến phát triển nông nghiệp toàn diện, Hồ Chí Minh còn nói đến ngư nghiệp. Khi ra thăm và nói chuyện với nhân dân huyện đảo Cô Tô, Người nhắc: “Cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu, v.v..”[27]. Người lưu ý nông dân các tỉnh đồng bằng: “Cần đẩy mạnh thả cá để cung cấp thêm thực phẩm bổ sung cho thịt, cải thiện đời sống nhân dân. Nuôi cá cũng dễ. Có nước và có công người thì cá phát triển”[28].

 

Tính toàn diện trong phát triển nông nghiệp còn thể hiện rõ ở việc phải “khoanh vùng nông nghiệp”. Theo Hồ Chí Minh, phải “khoanh vùng nông nghiệp”, tức là “nơi nào sản xuất lúa nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất lúa là chính, nơi nào sản xuất chè nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất chè là chính, v.v..”[29] Điều quan trọng thể hiện tư duy quản trị nông nghiệp rất hiện đại của Hồ Chí Minh là, “khoanh vùng” phải dựa trên nguyên tắc “sử dụng một cách hợp lý và có lợi nhất của cải giàu có của đất nước ta và sức lao động dồi dào của nhân dân ta. Làm như vậy thì sau này dùng máy móc cũng dễ và tiện”[30]. Đây chính là vấn đề quy hoạch phát triển nông nghiệp sao cho “hợp lý và có lợi”, phù hợp với các nguồn lực của từng địa phương, vùng miền cũng như khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp mà đến nay vấn là một vấn đề đang đặt ra cấp bách.

 

Tính toàn diện trong phát triển nông nghiệp theo quan điểm của Hồ Chí Minh không chỉ về cơ cấu, mà còn về quan hệ giữa “tăng diện tích” và “tăng sản lượng”, giữa “tăng vụ, vỡ hoang và tăng năng suất, v.v., như trong các luận điểm đã dẫn ở trên và nhiều luận điểm khác của Người.

Xét trên phương diện mối quan hệ giữa nông nghiệp với các lĩnh vực ngoài nông nghiệp, Hồ Chí Minh chú ý đến tính hài hòa, cân đối, có trọng tâm, trọng điểm trong phát triển.

 

Tư duy phát triển nông nghiệp trong quan hệ hài hòa, cân đối với các lĩnh vực kinh tế khác thể hiện rõ trong hình ảnh so sánh rất hay được Hồ Chí Minh sử dụng khi nói về quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp. Hồ Chí Minh nói: “Người thì có hai chân. Kinh tế một nước thì có hai bộ phận chính: Nông nghiệp và công nghiệp. Người không thể thiếu một chân, thì nước không thể thiếu một bộ phận kinh tế”[31]. Cách mượn hình ảnh về mối quan hệ hài hoà, cân đối trong tự nhiên để nói đến tính hài hòa, cân đối trong chính sách phát triển là cách tư duy độc đáo và điển hình ở Hồ Chí Minh, chẳng hạn như cách người so sánh 4 đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính của con người với 4 mùa của Trời, 4 phương của Đất. Hình ảnh quan hệ hài hòa, cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp như quan hệ giữa hai chân của một con người được Hồ Chí Minh sử dụng nhiều lần. Năm 1962, Người đã nói: “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân; cung cấp đủ nguyên liệu (như bông, mía, chè...) cho nhà máy, cung cấp đủ nông sản (như lạc, đỗ, đay...) để xuất khẩu đổi lấy máy móc. Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hóa học, thuốc trừ sâu... để đẩy mạnh nông nghiệp; và cung cấp dần dần máy cấy, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh, và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân”[32].

 

Hồ Chí Minh còn nói đến quan hệ hài hòa, cân đối giữa phát triển nông nghiệp với công nghiệp và thương mại. Chẳng hạn: “trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên minh. Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc”[33]. Người còn nói: “Giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục... với nhau và trong mỗi một ngành phải phát triển cân đối”[34].

Hài hòa, cân đối, nhưng có trọng tâm, trọng điểm. Theo Hồ Chí Minh, trong từ bối cảnh cụ thể, phù hợp trình độ phát triển của nền kinh tế và phục vụ các nhiệm vụ chiến lược của đất nước, cần có có trọng tâm trọng điểm trong phát triển kinh tế. Tư duy đó chi phối quan điểm phát triển nông nghiệp. Trong những năm đầu xây dựng chế độ mới, chuẩn bị các nguồn lực cho sự nghiệp kháng chiến, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp. Ngành nào cũng quan trọng. Nhưng lúc này, quan trọng nhất là nông nghiệp, vì “có thực mới vực được đạo””[35]. Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, Hồ Chí Minh lưu ý: “Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế, v.v.. Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm”[36]. Và nếu tiếp cận ở tầm nhìn chiến lược, lâu dài, ta sẽ thấy quan điểm phát triển của Hồ Chí Minh: “… con đường phải đi của chúng ta: Con đường công nghiệp hoá nước nhà”. Người chỉ rõ: “Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính. Vì muốn mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu... Nhưng công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”[37]. Rõ ràng là phát triển nông nghiệp với mục tiêu tạo nên sự hài hòa, cân đối, nhưng có trọng tâm, trọng điểm là một quan điểm độc đáo, sáng tạo và đầy tính hiện đại của Hồ Chí Minh. Thực tiễn đã chứng minh, quan điểm phát triển nói trên của Hồ Chí Minh là đúng đắn và đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

 

2.3. Về các biện pháp phát triển nông nghiệp

Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm phát triển nông nghiệp. Có những biện pháp rất cụ thể gắn liền với bối cảnh đương thời, có giá trị đương thời. Nhưng cũng có những biện pháp mang tính chiến lược, còn giữ nguyên giá trị gợi mở hiện nay.

Nguyên lý chung về phát triển kinh tế trong chế độ dân chủ mới của chúng ta, bao gồm cả phát triển nông nghiệp, của Hồ Chí Minh là: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”[38]. Dựa trên nguyên lý ấy, có thể thấy một số biện pháp phát triển nông nghiệp của Hồ Chí Minh là:

 

Thứ nhất, nhà nước cần phải có đường lối phát triển nông nghiệp đúng đắn, phải có các chính sách phù hợp. Người chỉ rõ, nhà nước phải đầu tư “vào những công việc có ích cho nông dân, cho hợp tác xã”. Cụ thể là: “Chính phủ phải xuất tiền xây những trường học, mời thầy để đào tạo cán bộ các ngành về nông nghiệp. Chính phủ có trách nhiệm xây dựng những công trình thủy lợi lớn và cùng nông dân, hợp tác xã làm những công trình thủy lợi vừa. Để phát triển nông nghiệp, hợp tác xã phải tậu trâu bò, sắm nông cụ, mua phân hóa học, v.v.. Hợp tác xã còn nghèo, thường thường Chính phủ phải giúp đỡ, phải cho vay vốn”[39]. Ngoài việc nhà nước phải đầu tư cho các hoạt động giáo dục - đào tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn, cho vay vốn, Hồ Chí Minh còn nêu ra một loạt chính sách hỗ trợ khác của nhà nước đối với phát triển nông nghiệp, chẳng hạn như chính sách mua - bán sản phẩm nông nghiệp theo hình thức ký hợp đồng, v.v., và đặc biệt là chính sách thuế. Theo Hồ Chí Minh, “về thuế, cũng phải làm sao cho Nhà nước, hợp tác xã và nông dân cùng có lợi. Thuế phải khuyến khích sản xuất”[40]. Nói tóm lại, “Chính phủ cố gắng phục vụ lợi ích của hợp tác xã, của nông dân và của nhân dân nói chung”[41].

 

Thứ hai, đó là phát triển các hình thức hợp tác xã. Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã coi trọng hình thức hợp tác xã. Theo nghiên cứu của Người, hợp tác xã là một hình thức đơn vị kinh tế ra đời ở phương Tây và mục đích của nó: “hợp tác xã trước là có ích lợi cho dân, sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa”[42]. Ra đời ở phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh chỉ rõ, có thể tìm thấy tinh thần của nó từ trong tư tưởng, văn hóa phương Đông. Lý luận của hợp tác xã, một cách giản dị, theo Hồ Chí Minh, chính là: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó”, “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao”. Thực chất của hợp tác xã là: “Nếu chúng ta đứng riêng ra, thì sức nhỏ, mà làm không nên việc… Nhóm… những sức ấy… Ấy là hợp tác xã”[43]. Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng về hợp tác xã từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX và sau này, trong phát triển nông nghiệp, xây dựng hợp tác xã được Người coi là một biện pháp quan trọng. Điều có giá trị ở đây là, khi đề cập đến hợp tác xã, để nó thực sự là một biện pháp phát triển nông nghiệp, cần có nhiều điều kiện. Chẳng hạn, Hồ Chí Minh đã nhiều lần lưu ý Ban quản trị hợp tác xã: “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển mạnh nông nghiệp là: chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt. Ban quản trị tốt thì hợp tác xã tốt. Hợp tác xã tốt thì nông nghiệp nhất định phát triển tốt”[44]. Người chỉ rõ: “Ban quản trị phải dân chủ”, “phải công bằng, không được thiên vị”, “phải minh bạch”, “công khai”, “phải chống tham ô, lãng phí”[45], v.v.; Người nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của tổ chức Đảng trong hợp tác xã: “cái gốc trong việc lãnh đạo hợp tác xã vẫn là chi bộ đảng ở cơ sở”[46]. Người còn nhấn mạnh phải đảm bảo dân chủ, hợp lý, công bằng trong quản lý và hoạt động của hợp tác xã: “muốn xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã được tốt phải đoàn kết, phải làm cho mọi người tự nguyện tham gia, phải bàn bạc dân chủ và phải tính toán cho công bằng, hợp lý”[47]. Người chỉ rõ: “Phân phối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít. Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít. Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”[48]. Và một điều rất quan trọng đảm bảo cho hợp tác xã hoạt động tốt, có hiệu quả và thực chất, có là sự chủ động, tích cực, nêu cao tinh thần làm chủ và trách nhiệm làm chủ của chính xã viên. Hồ Chí Minh nhiều lần nói với bà con nông dân là phải tin tưởng, nhìn xa thấy rộng, chăm nom, săn sóc, giám sát, kiểm soát, phê bình, v.v., các hoạt động hợp tác xã; có thực sự đối xử với hợp tác xã như là nhà của mình, thì hợp tác xã mới vững mạnh và hoạt động có hiệu quả được.

 

Thứ ba, ứng dụng khoa học - công nghệ vào nông nghiệp. Hồ Chí Minh chỉ rõ một thực tế, đó là “nông nghiệp của ta rất lạc hậu”: “Mấy triệu nông dân và ngót một nửa triệu thợ thủ công … hiện vẫn dùng những đồ rất thô sơ để sản xuất. Như vậy thì làm sao cho đời sống nhân dân thật dồi dào được?”[49]; “Hiện nay, sức lao động của nông dân ta ít nhất cũng là 50%, 60% bị lãng phí vào việc gánh gồng, cày cấy... Bởi vì nông cụ của ta quá lạc hậu. Cho nên, công nhân giúp đỡ nông dân, trước hết nên giúp việc cải tiến nông cụ”[50]. Để khắc phục hạn chế đó, cần phải công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp. Hồ Chí Minh nêu quan điểm: “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp. Máy sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường. Muốn có nhiều máy, thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu...”[51].

 

Thứ tư, mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước, trong đó có nông nghiệp. Có thể nói, đây là tư tưởng lớn, nhất quán và xuyên suốt sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh. Ngay từ khi cách mạng chưa thành công, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chú trọng công tác đào tạo cán bộ, chú trọng việc gửi cán bộ ra nước ngoài đào tạo, mà cụ thể lúc đó là Trung Quốc, Nga, v.v.. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã viết thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đề nghị: “được gửi một phái đoàn khoảng năm mươi thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”[52]. Sau này, rất nhiều trí thức trẻ Việt Nam đã được gửi đi học tập, tiếp thu khoa học hiện đại, trong đó có khoa học về nông nghiệp, nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp của Việt Nam. Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng thu hút trí thức Việt kiều, trí thức nước ngoài phục vụ phát triển đất nước, trong đó có phát triển nông nghiệp. Thậm chí, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chủ trương thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà tư bản, đầu tư vào kinh tế, trong đó có nông nghiệp, miễn là họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và đôi bên cùng có lợi. Ngày 12/6/1949, trả lời phỏng vấn của nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng tôi hoan nghênh ngoại quốc đầu tư, miễn là hai bên cùng hưởng lợi ngang nhau và người ta không lợi dụng sự đầu tư ấy để áp bức chúng tôi”[53]. Với Hồ Chí Minh, thu hút và sử dụng các nguồn lực quốc tế, đó là một biện pháp rất quan trọng và hiện đại để phát triển nông nghiệp Việt Nam.

 

Thứ năm, xây dựng nền tảng và động lực cho phát triển nông nghiệp là nông thôn mới, nông dân mới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”[54]. Trong một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đến 90% dân số như Việt Nam, thì cách mạng xã hội phải hướng đến tạo dựng nên nông thôn mới, nông dân mới - đây chính là một nội dung quan trọng khi Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề xây dựng đời sống mới, con người mới, xã hội mới, đạo đức mới. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến một “cuộc chiến đấu khổng lồ”. Đó là “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”[55]. Xây dựng nông thôn mới, người nông dân mới làm nền tảng và động lực chính là một nội dung của cuộc chiến đấu khổng lồ đó, là điều kiện tiên quyết để có thể phát triển nông nghiệp Việt Nam.

3

Đã hơn 10 năm kể từ khi Nghị quyết số 26-NQ/TƯ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đi vào cuộc sống. Nông nghiệp Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển. Tuy vậy, không ít vấn đề vẫn đang tồn tại, cần được nhận diện và giải quyết.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên nhiều quan điểm lớn, mới và rất quan trọng định hướng cho sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam thời gian tới.

Để phát huy những thành tựu đã đạt được, nhận diện đúng và giải quyết được những tồn tại, thực hiện thắng lợi quan điểm phát triển nông nghiệp của Đại hội XIII, việc trở lại nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng.

 

Trên cơ sở nghiên cứu một số nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp, có thể bước đầu từ đó đúc rút mấy gợi mở như sau:

Một là, với tiềm năng và lợi thế sẵn có, đồng thời căn cứ trên trình độ phát triển của nền kinh tế, cần thống nhất nhận thức về vai trò nền tảng, vai trò gốc, vai trò nguồn lực căn bản của nông nghiệp đối với nền kinh tế nói riêng, tổng thể đất nước nói chung. Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ làm thay đổi căn bản đất nước ta trong một, hai thập niên tới, nhưng cũng rất chắc chắn là, nông nghiệp vẫn sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển của Việt Nam. Tất nhiên, đây phải là một nền nông nghiệp mới, trên địa bàn nông thôn mới và gắn với mẫu hình người nông dân mới.

Hai là, nền nông nghiệp mới cần được phát triển, và trên thực tế đang từng bước hình thành trên đất nước ta, phải là một nền nông nghiệp toàn diện, phát triển trong chỉnh thể hài hòa, cân đối của nền kinh tế đất nước, đồng thời phát triển có trọng tâm, trọng điểm, sao cho hợp lý và có lợi nhất cho đất nước và cho chính nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Ba là, cần triển khai đồng bộ các biện pháp để phát triển nông nghiệp, bao gồm cả các giải pháp về chính trị, kinh tế, văn hóa, hợp tác quốc tế, v.v.. Trong đó, các biện pháp về phát huy “quyền chính trị” để thúc đẩy, củng cổ, mở rộng, tăng cường “quyền kinh tế” của nông dân ở nông thôn; “khoanh vùng” trong phát triển nông nghiệp; xây dựng mô hình hợp tác xã văn minh, hiện đại; ứng dụng khoa học - công nghệ vào nông nghiệp, bao gồm cả quản lý, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực quốc tế, từ khoa học, nhân lực, đến vốn đầu tư, v.v., cho phát triển nông nghiệp. Và đặc biệt là, nhìn từ tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng một văn hóa phát triển mới ở nông thôn thông qua xây dựng nông thôn mới, con người mới, làm cho các giá trị văn hóa phát triển mới “soi đường”, “ở trong” phát triển nông nghiệp, tạo nên chất và lượng mới của phát triển nông nghiệp Việt Nam, rất kinh tế, rất hiện đại, rất quốc tế, nhưng cũng thật đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

 

Có thể khẳng định rằng, những giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp là vô cùng sâu sắc, có tính gợi mở rất cao cho và cần tiếp tục đươc nghiên cứu, học tập, vận dụng trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

 

PGS.TS Lại Quốc Khánh

 Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội,

Uỷ viên Hội đồng Lý luận Trung ương.

 

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 617.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 246.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 42.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 375.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 228.

[6] Các số liệu thống kê cho thấy, hiện nay ngành Dệt may Việt Nam vẫn bị phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Việt Nam mới chỉ tự đáp ứng được chưa đến 1% nhu cầu về bông, 30% nhu cầu xơ, còn lại là phải nhập khẩu từ Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan, v.v..

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 255.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 255.

[9] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 19, Nxb. CTQG, Hà Nội,  1995, tr.166.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 296.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 212.

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 635.

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 24.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 76.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 24.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 212.

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 254-255.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 199.

[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 212.

[20] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 81.

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 286.

[22] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 476.

[23] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 213.

[24] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 81.

[25] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 180.

[26] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 460.

[27] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 129.

[28] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 213.

[29] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 214.

[30] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 214.

[31] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 182.

[32] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 375.

[33] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 355.

[34] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 470.

[35] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 212.

[36] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 493.

[37] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 445.

[38] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 81.

[39] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 220.

[40] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 221.

[41] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 221.

[42] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 343.

[43] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 343.

[44] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 375.

[45] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 216 - 217.

[46] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 222.

[47] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 358.

[48] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 216.

[49] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 444.

[50] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 631.

[51] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 445.

[52] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 91.

[53] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 141.

[54] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 284.

[55] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 617.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết