Biến đổi khí hậu và áp lực dân số đang đẩy nhiều khu vực ở châu Phi vào cuộc khủng hoảng mới khi xung đột giữa con người và động vật hoang dã (Human–Wildlife Conflict – HWC) đang leo thang với tốc độ đáng báo động. Những gì từng được coi là tai nạn rải rác nay đã trở thành thách thức về an ninh, sinh kế và bảo tồn tại các quốc gia như Zimbabwe, Kenya hay Botswana.

Theo phóng viên TTXVN tại châu Phi, ở Zimbabwe, Cơ quan Quản lý công viên và động vật hoang dã (ZimParks) cho biết từ năm 2016 - 2022 tại nước này đã có ít nhất 322 người thiệt mạng do bị động vật hoang dã tấn công, trong đó riêng năm 2025 có 62 người thiệt mạng và 81 người bị thương, trong khi số gia súc bị giết là 801 con. Tại Kenya, từ giữa năm 2023 đến giữa 2025, nước này ghi nhận 26.641 vụ xung đột, 255 người thiệt mạng, 725 người bị thương, hơn 5.200 gia súc và hàng nghìn ha hoa màu bị phá hoại – những con số đủ để các quan chức gọi đây là một “khủng hoảng” đối với cả an ninh con người lẫn tương lai bảo tồn động vật hoang dã. Linh cẩu, cá sấu và voi là những loài gây ra nhiều vụ việc nhất, chủ yếu tại các huyện giáp ranh khu bảo tồn, nơi người dân sống dựa vào chăn nuôi và trồng trọt.
Các chuyên gia chỉ ra sự cộng hưởng của 3 nhóm nguyên nhân chính: khí hậu cực đoan, hạn hán và nhiệt độ tăng khiến sông suối, hồ chứa cạn kiệt, thảm thực vật suy giảm, buộc động vật phải tiến gần hơn đến đất canh tác, giếng nước của con người và khu dân cư. Ở miền Nam châu Phi, nỗ lực bảo tồn thành công khiến quần thể voi tăng mạnh và riêng ở Zimbabwe ước tính có gần 100.000 cá thể voi, trong khi sức chịu tải môi trường chỉ vào khoảng từ 45.000 – 50.000 con, tạo áp lực lớn đối với môi trường sống. Song song với đó, dân số con người tăng nhanh, đất nông nghiệp và khu định cư mở rộng chèn lên các hành lang di cư truyền thống, khiến đường đi của động vật ngày càng trùng với không gian sống của người dân.
Để giảm xung đột, nhiều quốc gia đang thử nghiệm các giải pháp kết hợp công nghệ và tri thức bản địa. Các hệ thống như EarthRanger (hệ thống phân tích và trực quan hóa dữ liệu thời gian thực) được triển khai tại một số khu bảo tồn ở châu Phi để theo dõi voi bằng vòng cổ định vị GPS và dựng “hàng rào ảo”, giúp lực lượng kiểm lâm can thiệp sớm trước khi đàn voi tiếp cận khu dân cư hoặc ruộng đồng. Những “hàng rào ong” tại Kenya, Botswana hay Tanzania – dùng tổ ong treo quanh rìa trang trại để xua voi, đồng thời tạo thu nhập từ mật ong – là ví dụ về thành công của giải pháp dựa vào thiên nhiên.
Tuy vậy, việc ứng dụng công nghệ sẽ chưa đủ nếu thiếu thay đổi về chính sách và phân bổ lợi ích. Kenya đã xây dựng cơ chế bồi thường cho nạn nhân HWC, nhưng ngân sách thiếu hụt khiến nước này còn nợ một khoản lớn với gia đình các nạn nhân và chủ đàn gia súc. Ở Zimbabwe, nhiều báo cáo cho thấy người dân vùng đệm hiếm khi nhận được hỗ trợ sau khi mất người thân hay tài sản, trong khi các đề xuất về quỹ bồi thường và tăng chia sẻ lợi ích từ du lịch, bảo tồn vẫn đang trong quá trình tham vấn. Các mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng như Chương trình Quản lý các khu vực công cộng vì nguồn lực bản địa (CAMPFIRE) tại Zimbabwe nếu được thiết kế minh bạch và gắn với quyền lợi thực chất, được xem là chìa khóa để người dân nhìn nhận động vật hoang dã như một nguồn tài sản chung thay vì mối đe dọa phải loại bỏ.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, giới chuyên gia cảnh báo nếu không kịp thời quy hoạch lại hành lang di cư, tăng cường phòng ngừa và bảo đảm công bằng cho cộng đồng tuyến đầu, xung đột giữa con người và động vật hoang dã sẽ còn kéo dài và cái giá phải trả sẽ là cả sinh mạng con người lẫn di sản thiên nhiên của lục địa này./.
Theo TTXVN