Thứ Sáu, ngày 06 tháng 11 năm 2026

Nền giáo dục quốc dân hiện đại: Trụ cột phát triển con người, động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Ngày phát hành: 06/11/2026 Lượt xem 30

TCCS - Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tái định hình sâu sắc đời sống kinh tế - xã hội, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trở thành yêu cầu chiến lược của phát triển đất nước. Nền giáo dục đó phải hướng tới phát triển con người Việt Nam toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, củng cố sức mạnh nội sinh và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

 

Thiếu nhi dân tộc tỉnh Lạng Sơn chào đón Tổng Bí thư Tô Lâm tới dự Lễ khởi công, động thổ đồng loạt các trường nội trú liên cấp biên giới, ngày 19-3-2026_Ảnh: Tư liệu 

 

Giáo dục mở đường phát triển, con người giữ vị trí trung tâm

 

Trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm đó không chỉ thể hiện tầm nhìn chính trị - nhân văn sâu sắc của Đảng, mà còn phản ánh quy luật phát triển của thời đại: trong nền kinh tế tri thức, xã hội số và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, lợi thế bền vững nhất của quốc gia ngày càng phụ thuộc vào chất lượng con người, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ tri thức, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng xã hội.

 

Từ góc nhìn đó, giáo dục không thể chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực dịch vụ công, một hoạt động truyền thụ kiến thức hay một thiết chế xã hội có chức năng tái sản xuất lao động đơn thuần. Giáo dục phải được đặt vào đúng vị thế của nó: một trụ cột phát triển con người, một nền tảng kiến tạo nguồn lực quốc gia, một động lực trực tiếp của phát triển nhanh và bền vững. Nói cách khác, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại là xây dựng năng lực phát triển bền vững của dân tộc.

 

Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới với những đòi hỏi cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ, sức cạnh tranh quốc gia và bản lĩnh hội nhập. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, kinh tế số và mạng lưới tri thức toàn cầu đang làm thay đổi căn bản cấu trúc việc làm, phương thức sản xuất, mô hình quản trị và tiêu chuẩn năng lực của con người. Trong bối cảnh đó, một nền giáo dục chậm đổi mới, nặng về truyền thụ, thiên về thi cử, tách rời thực tiễn và thiếu liên thông với nhu cầu phát triển sẽ không thể đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

 

Chính vì vậy, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới phải được nhìn nhận là một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách, lâu dài. Mục tiêu cốt lõi của quá trình đó không phải chỉ là hiện đại hóa cơ sở vật chất hay số hóa hoạt động dạy học theo nghĩa kỹ thuật, mà là kiến tạo một nền giáo dục lấy phát triển con người làm trung tâm, lấy chất lượng, công bằng, hiện đại, dân tộc, khoa học, dân chủ, nhân văn làm định hướng; gắn chặt giáo dục với phát triển văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thị trường lao động và chiến lược phát triển quốc gia.

 

Yêu cầu phát triển bứt phá đặt ra nhiệm vụ phải chuyển mạnh tư duy giáo dục từ dạy cái có sẵn sang hình thành năng lực để thích ứng và sáng tạo; từ chú trọng bằng cấp sang coi trọng năng lực thực chất; từ quản lý theo mệnh lệnh hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, trách nhiệm giải trình và liên kết đa bên; từ một hệ thống khép kín, phân mảnh sang một hệ thống mở, liên thông, học tập suốt đời. Đây là sự chuyển đổi mô hình phát triển giáo dục.

 

Về bản chất, nền giáo dục quốc dân hiện đại mà chúng ta hướng tới phải bảo đảm hài hòa nhiều mối quan hệ lớn: giữa dân tộc và hiện đại; giữa toàn dân và tinh hoa; giữa toàn diện và chuyên sâu; giữa truyền thống và đổi mới; giữa phổ cập công bằng và phát hiện, bồi dưỡng nhân tài; giữa giáo dục nhân cách với phát triển năng lực; giữa yêu cầu xây dựng con người Việt Nam và yêu cầu đào tạo công dân toàn cầu. Chỉ trên nền tảng giải quyết hài hòa những quan hệ đó, giáo dục mới thực sự trở thành lực lượng sản xuất đặc biệt của xã hội tri thức, đồng thời là môi trường nuôi dưỡng hệ giá trị, bản sắc văn hóa và khát vọng phát triển đất nước.

 

Đặt trong mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, vấn đề không chỉ là cải cách giáo dục để “theo kịp” thế giới, mà sâu xa hơn là xây dựng một nền giáo dục có bản sắc, có năng lực tự đổi mới và góp phần nâng tầm vị thế quốc gia. Giáo dục phải trở thành nơi khơi dậy khát vọng cống hiến, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; đồng thời trang bị cho thế hệ trẻ năng lực hội nhập, năng lực số, năng lực sáng tạo và năng lực thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại.

 

Hiện đại về tư duy, đồng bộ về thể chế, sâu sắc về nền tảng lý luận

 

Cơ sở lý luận của việc xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về phát triển con người và phát triển giáo dục, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận giáo dục hiện đại của nhân loại trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Sự kết hợp đó phản ánh một yêu cầu có tính quy luật: giáo dục muốn hiện đại phải vừa bám chắc nền tảng tư tưởng, giá trị và mục tiêu phát triển của quốc gia, vừa phải mở ra để tiếp nhận những tri thức mới, mô hình mới, phương thức mới của thế giới.

 

Trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể cải biến hoàn cảnh; sự phát triển tự do và toàn diện của con người là điều kiện cho sự phát triển tự do và toàn diện của mọi người. Tư tưởng ấy đặt nền tảng cho việc nhìn nhận giáo dục không chỉ như hoạt động truyền bá tri thức, mà như một phương thức cơ bản để phát triển con người, giải phóng năng lực sáng tạo, hình thành nhân cách xã hội và nâng cao trình độ văn minh của cộng đồng. Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển sâu sắc quan niệm đó khi nhấn mạnh mục tiêu đào tạo con người toàn diện, “vừa hồng, vừa chuyên”, coi việc học là để làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ở đây, giáo dục mang một sứ mệnh kép: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đồng thời xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng và trách nhiệm xã hội.

 

Từ nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta qua các kỳ đại hội và nhiều nghị quyết quan trọng đã từng bước phát triển nhận thức lý luận về vai trò của giáo dục trong chiến lược phát triển đất nước. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” là dấu mốc đặc biệt quan trọng khi xác định phải đổi mới căn bản, toàn diện, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là sự điều chỉnh có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc: giáo dục không chỉ nhằm “biết gì”, mà quan trọng hơn là “làm được gì”, “sống như thế nào” và “phát triển ra sao” trong một thế giới biến động và hội nhập.

 

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã đặt giáo dục, đào tạo vào vị trí nền tảng trong việc hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, nhân lực số và đội ngũ trí thức sáng tạo. Giáo dục không chỉ là lĩnh vực thụ hưởng thành quả khoa học, công nghệ, mà phải trở thành một trong những động lực tạo ra hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Nghị quyết số 59-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của ngoại giao văn hóa và giáo dục trong việc nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, qua đó mở rộng thêm một chiều cạnh quan trọng: giáo dục không chỉ phục vụ phát triển trong nước, mà còn góp phần tạo dựng sức mạnh mềm quốc gia. Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” khẳng định yêu cầu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, dân tộc, khoa học, dân chủ, nhân văn; xác lập rõ giáo dục và đào tạo là trụ cột phát triển con người, là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực và tương lai phát triển bền vững của đất nước. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam” tiếp tục khẳng định mối liên hệ hữu cơ giữa phát triển văn hóa với hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới, trong đó giáo dục là một kênh quan trọng hình thành và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng một lần nữa nhấn mạnh con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển; xây dựng nền giáo dục hiện đại trở thành một trong những nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển nhanh và bền vững đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

 

Như vậy, nền giáo dục quốc dân hiện đại nước ta là kết quả phát triển tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa con người - giáo dục - văn hóa - khoa học - công nghệ - phát triển quốc gia. Chính mối quan hệ này tạo nên cơ sở lý luận cho việc khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và phát triển giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cũng như cả hệ thống chính trị.

 

Ở bình diện lý luận giáo dục hiện đại, nhiều nghiên cứu quốc tế gần đây cho thấy sự thay đổi căn bản trong cách hiểu về giáo dục. Giáo dục hiện đại không còn được nhìn nhận là một hệ thống truyền thụ kiến thức theo lối tuyến tính, mà là một cấu trúc xã hội phức hợp, một hệ thống mở, liên thông, tương tác chặt chẽ với khoa học, công nghệ, thị trường lao động, quản trị công và đời sống văn hóa - xã hội.

 

Điều đáng chú ý là lý luận giáo dục hiện đại ngày càng nhấn mạnh ba chuyển dịch lớn. Thứ nhất, chuyển từ mô hình dạy học lấy nội dung làm trung tâm sang mô hình lấy người học và chuẩn đầu ra năng lực làm trung tâm. Thứ hai, chuyển từ một hệ thống đóng sang một hệ thống mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời. Thứ ba, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và sự tham gia của các bên liên quan.

 

Một điểm rất quan trọng về mặt phương pháp luận là hiện đại hóa giáo dục không đồng nghĩa với việc cắt đứt khỏi truyền thống, càng không phải sao chép mô hình bên ngoài. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam: xây dựng nền giáo dục hiện đại phải đồng thời là quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị tốt đẹp của dân tộc, củng cố bản lĩnh văn hóa và nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng của thế hệ trẻ. Một nền giáo dục hiện đại về công nghệ mà “lỏng” nền tảng giá trị thì sớm muộn cũng “hụt gốc”; một nền giáo dục nặng bảo tồn mà thiếu sáng tạo, thiếu thích ứng thì sẽ tụt hậu. Vấn đề là phải kiến tạo được sự thống nhất biện chứng giữa dân tộc và hiện đại, bản sắc và hội nhập.

 

Từ những căn cứ đó, có thể hiểu nền giáo dục quốc dân hiện đại là một hệ thống giáo dục quốc gia tổng thể, mở, liên thông, lấy người học làm trung tâm, hướng tới phát triển toàn diện con người; đồng thời gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đặc trưng cốt lõi của hệ thống này gồm: phát triển toàn diện năng lực cá nhân; bảo đảm công bằng, nhân văn và chất lượng; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình giáo dục; kết nối sâu rộng với mạng lưới tri thức toàn cầu; dung hòa sáng tạo giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế.

 

Về phương diện thể chế, quan điểm của Đảng đã được Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền từng bước thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế tổ chức thực hiện. Luật Giáo dục năm 2019 xác định rõ mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và năng lực công dân; xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, liên thông, công bằng, chất lượng và hiệu quả; khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong phát triển giáo dục, đồng thời gắn giáo dục với phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng xã hội học tập. Đây là bước thể chế hóa quan trọng, tạo cơ sở chính trị - pháp lý để chuyển từ nhận thức đúng sang hành động đúng trong xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại.

 

Kiến tạo nền giáo dục hiện đại: Từ truyền thụ tri thức đến bồi đắp năng lực, từ quản lý hành chính đến quản trị đa bên

 

Trên thế giới, quốc gia phát triển bền vững nào cũng đặt giáo dục vào vị trí ưu tiên chiến lược. Những nền giáo dục thành công đều có điểm chung như: xây dựng như một hệ thống tổng thể, mở, liên thông, lấy người học làm trung tâm, đồng thời gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia. Kinh nghiệm đó càng có ý nghĩa đối với Việt Nam khi đất nước đang đứng trước yêu cầu phải phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn và sáng tạo hơn.

 

Một trong những bài học nổi bật của cải cách giáo dục thế giới là xây dựng hệ thống giáo dục mở, thúc đẩy học tập suốt đời và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi công dân. Giáo dục mở không chỉ là câu chuyện công nghệ hay học liệu số; sâu xa hơn, đó là triết lý tổ chức hệ thống giáo dục theo hướng mở rộng cơ hội, giảm rào cản, tăng linh hoạt, tạo điều kiện để con người có thể học tập, cập nhật, chuyển đổi và phát triển trong suốt vòng đời. Điều này đặc biệt phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam.

 

Song song với đó là xu hướng giáo dục dựa trên năng lực. Nếu mô hình giáo dục truyền thống đánh giá chất lượng giáo dục bằng thời lượng lên lớp, số tín chỉ và khả năng tái hiện kiến thức của người học thì mô hình hiện đại lấy chuẩn đầu ra năng lực làm hạt nhân. Theo đó, đánh giá chất lượng giáo dục phải dựa trên kết quả người học “đạt được gì”, “thành thạo đến đâu”, “giải quyết được vấn đề gì trong thực tiễn” sau mỗi khóa học. Học không phải để “đủ thời lượng”, mà để “đủ năng lực”. Có như thế, cách đánh giá chất lượng mới “chạm” đến “gốc” của giáo dục.

 

Nụ cười rạng rỡ của cô giáo và các em học sinh trong ngày khai giảng năm học mới 2026 - 2027_Ảnh: daidoanket.vn

 

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số như một nhân tố có khả năng tái cấu trúc toàn bộ hệ sinh thái giáo dục. Nhưng chuyển đổi số trong giáo dục phải được hiểu là quá trình tái cấu trúc toàn diện hoạt động giáo dục: từ quản trị hệ thống đến tổ chức dạy học, từ xây dựng dữ liệu đến dự báo nhu cầu nhân lực, từ cung ứng dịch vụ công giáo dục đến hình thành môi trường học tập linh hoạt, tương tác và cá nhân hóa.

 

Một bài học lớn khác từ quốc tế là hiện đại hóa giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu công bằng và hòa nhập. Chất lượng giáo dục cao mà chỉ dành cho số ít người được tiếp cận thì không phải là nền giáo dục hiện đại phát triển bền vững. Chúng ta không thể kiến tạo nền giáo dục quốc dân hiện đại nếu chênh lệch cơ hội học tập giữa các vùng, miền, nhóm xã hội và các đối tượng còn lớn; không thể phát triển con người toàn diện nếu còn tồn tại rào cản khiến một bộ phận người dân đứng ngoài cơ hội tiếp cận tri thức nhân loại.

 

Bên cạnh đó, quản trị đa bên đang trở thành xu hướng nổi bật. Thực tiễn thế giới cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - thị trường lao động đã nâng cao hiệu quả đào tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia. Như thế, giáo dục hiện đại không thể vận hành như một “ốc đảo ngành”. Nó phải là một hệ sinh thái, trong đó nhà nước giữ vai trò định hướng và kiến tạo; cơ sở giáo dục giữ vai trò thực thi và đổi mới; gia đình giữ vai trò nền tảng xã hội hóa đầu tiên; doanh nghiệp tham gia đặt hàng và đồng kiến tạo kỹ năng; giới khoa học góp phần phát triển tri thức và người học là trung tâm, là chủ thể của toàn bộ quá trình.

 

Nhìn lại 40 năm đổi mới, nhất là ba nhiệm kỳ gần đây, công cuộc đổi mới giáo dục đã tạo ra những chuyển biến quan trọng. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước đã bước đầu tạo nền tảng cho việc hình thành và phát triển nền giáo dục theo hướng hiện đại, mở và hội nhập. Nhận thức về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện ngày càng rõ hơn; giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo, tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho thế hệ trẻ được nhấn mạnh hơn. Hạ tầng công nghệ thông tin trong các cơ sở giáo dục từng bước được đầu tư; các nền tảng dạy học trực tuyến, học liệu số, hệ thống quản lý học tập được triển khai tích cực; tư duy về xã hội học tập và học tập suốt đời tiếp tục được củng cố. Những thay đổi đó, dù chưa đồng đều, vẫn là tiền đề quan trọng cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

 

Tuy vậy, giáo dục nước ta vẫn còn không ít hạn chế, điểm nghẽn. Có nơi, có lúc, đổi mới còn thiên về hình thức. Tình trạng nặng thi cử, nặng bằng cấp, nặng “đủ chương trình”, chưa thật sự mạnh về năng lực thực chất vẫn còn. Liên kết giữa giáo dục với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp và thị trường lao động nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Chuyển đổi số có tiến triển nhưng chưa đồng bộ; còn có khoảng cách giữa tiếp cận giáo dục và chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền, loại hình cơ sở giáo dục. Quản trị giáo dục ở nhiều cấp vẫn mang dấu ấn của mô hình hành chính tập trung, trong khi cơ chế trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng độc lập, phân cấp gắn với tự chủ và kiểm soát quyền lực chưa thật sự hoàn thiện.

 

Chính vì thế, kiến tạo nền giáo dục quốc dân hiện đại trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số phải được tiếp cận như một chương trình cải cách hệ thống, toàn diện, đồng bộ và dài hạn.

 

Thứ nhất, Đảng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh quá trình chuyển đổi tư duy từ giáo dục dựa trên thời gian học sang giáo dục dựa trên năng lực người học. Trong mô hình giáo dục dựa trên năng lực, tiến trình học tập không còn đo bằng số giờ học, số tín chỉ hay khả năng ghi nhớ, mà bằng mức độ thành thạo của người học đối với chuẩn năng lực đầu ra. Điều này cho phép cá nhân hóa lộ trình học tập, tôn trọng nhịp độ phát triển của người học, đồng thời buộc hệ thống giáo dục phải tái cấu trúc đồng bộ từ chương trình, học liệu, phương pháp đến cách đánh giá. Trọng tâm của đánh giá phải chuyển từ kiểm tra tái hiện tri thức sang đo lường năng lực tư duy, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo và thích ứng.

 

Thứ hai, nền giáo dục quốc dân hiện đại phải giữ vai trò hạt nhân trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Giáo dục không thể đứng ngoài dòng chảy lớn của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhà trường phải trở thành không gian ươm tạo tri thức mới, phát hiện tài năng, bồi dưỡng tinh thần sáng tạo và kết nối nghiên cứu với ứng dụng. Điều này đòi hỏi phải hình thành các mô hình liên kết thực chất giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp; phát triển mạnh giáo dục STEM/STEAM, các lĩnh vực công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ giáo dục; gắn đào tạo với chuỗi giá trị sản xuất và yêu cầu phát triển ngành, lĩnh vực chiến lược của đất nước. Trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, giáo dục càng phải được nhìn như “hạ tầng mềm” của chiến lược phát triển.

 

Thứ ba, tiếp tục xây dựng hệ thống giáo dục mở, liên thông, học tập suốt đời và bảo đảm công bằng, hòa nhập xã hội. Một nền giáo dục hiện đại được đánh giá bằng khả năng tạo cơ hội học tập cho mọi người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau tri thức. Tính mở của hệ thống cần thể hiện ở sự liên thông giữa các cấp học, bậc học, giữa giáo dục chính quy với không chính quy và phi chính quy, giữa học tập trong nhà trường với học tập trong đời sống, trong công việc, trong cộng đồng. Tài nguyên giáo dục mở, khoa học mở và học liệu số cần được thúc đẩy để thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, nhóm xã hội và các đối tượng nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển của mỗi người dân.

 

Thứ tư, hiện đại hóa quản trị giáo dục phải trở thành một trụ cột cải cách. Quản lý nhà nước về giáo dục cần chuyển mạnh từ mô hình hành chính tập trung sang quản trị hiện đại dựa trên phân cấp, phân quyền hợp lý, gắn với tự chủ, trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và giám sát xã hội. Chính sách giáo dục chỉ phát huy hiệu quả khi có sự tham gia thực chất của các chủ thể liên quan như: Nhà nước, cơ sở giáo dục, gia đình, doanh nghiệp, giới khoa học, tổ chức xã hội và người học. Điều đó đòi hỏi phải hoàn thiện thể chế để huy động, điều phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đồng thời nâng cao năng lực dự báo, hoạch định, quản trị dữ liệu, quản trị chất lượng và điều phối hệ thống.

 

Thứ năm, xác định rõ mục tiêu duy nhất của đổi mới giáo dục là phát triển con người Việt Nam toàn diện trong kỷ nguyên mới. Giáo dục không chỉ đào tạo người lao động có kỹ năng, mà phải bồi dưỡng công dân có nhân cách, lý tưởng, trách nhiệm, bản lĩnh văn hóa và năng lực hội nhập. Vì vậy, cùng với tri thức chuyên môn, cần chú trọng phát triển tư duy khai phóng, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức, năng lực số, tinh thần pháp luật, ý thức công dân, khả năng hợp tác, lòng yêu nước và khát vọng cống hiến. Giáo dục và văn hóa phải cùng hướng tới kiến tạo con người - chủ thể sáng tạo tương lai của đất nước.

 

Đại hội XIV của Đảng xác định đất nước phải phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Như thế, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại phải được triển khai mạnh mẽ. Đây không phải là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà là sự nghiệp chung của Đảng và hệ thống chính trị cùng toàn xã hội. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai đất nước phát triển bền vững, cho vị thế quốc gia, cho hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn binh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới./.

 

TS Lê Thị Mai Hoa

Ban Tuyên giáo Trung ương

 

Link gốc: 

Ngày phát hành: 02-11-2026

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết