Thứ Sáu, ngày 16 tháng 10 năm 2026

Xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Ngày phát hành: 16/10/2026 Lượt xem 42

TCCS - Sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), qua Đại hội XIII đến Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu xây dựng, hoàn thiện “quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại” trong điều kiện phát triển lực lượng sản xuất mới của chủ nghĩa xã hội công nghệ số và nhân văn là một bước phát triển lý luận mang tính đột phá. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp hoàn thiện quan hệ sở hữu dữ liệu, tổ chức - quản lý hiện đại và phân phối công bằng chính là chìa khóa để giải phóng toàn bộ sức sản xuất xã hội, tạo động lực bứt phá đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

 

Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam ngày 25-8-2026_Ảnh: TTXVN

 

Tính tất yếu của xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại ở Việt Nam

 

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong điều kiện mới.

 

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ rõ, lực lượng sản xuất (LLSX) là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, quyết định sự biến đổi của quan hệ sản xuất (QHSX); còn QHSX là mặt tương đối ổn định, đóng vai trò hình thức xã hội của LLSX. Trong kỷ nguyên số, LLSX mới kế thừa và mở rộng nội hàm các yếu tố cấu thành thông qua sự bùng nổ của các công nghệ trụ cột, như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet vạn vật, bán dẫn... LLSX đã có sự biến đổi mang tính cách mạng dẫn đến yêu cầu tất yếu khách quan: nếu không chủ động điều chỉnh, đổi mới quan hệ sở hữu, tổ chức - quản lý và phân phối trên nền tảng số, QHSX cũ dựa trên nền tảng công nghiệp truyền thống sẽ trở thành “xiềng xích” cản trở, thậm chí triệt tiêu sự phát triển của các phương thức sản xuất thông minh.

 

Thứ hai, xuất phát từ sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. 

 

Xây dựng và hoàn thiện QHSX tiến bộ, phù hợp, hiện đại là nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt của Đảng nhằm giải phóng triệt để sức sản xuất và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư duy của Đảng ta về vấn đề này thể hiện sự phát triển liên tục, ngày càng toàn diện và sâu sắc từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đến các kỳ Đại hội XIII, XIV của Đảng.

 

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định QHSX tiến bộ, phù hợp là một đặc trưng bản chất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng “nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Xây dựng QHSX được quán triệt qua 3 mặt: Về sở hữu, phát triển nền kinh tế đa sở hữu, trong đó “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, kinh tế tập thể cùng kinh tế nhà nước làm nền tảng, còn “Kinh tế tư nhân là một động lực của nền kinh tế”; đồng thời yêu cầu “phân định rõ quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước”. Về quản lý, bảo đảm “mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm”, cạnh tranh bình đẳng. Về phân phối, bảo đảm “công bằng và tạo động lực cho phát triển”, phân phối chủ yếu “theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”. 

 

Đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhận thức của Đảng tiếp tục được thể chế hóa và đồng bộ hơn khi nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp...”(1). Điểm đột phá nằm ở việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, xác định “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh... Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực...”(2). Trong quan hệ sở hữu, kinh tế tư nhân nâng tầm thành “một động lực quan trọng”, kết hợp với phát triển các thị trường yếu tố sản xuất và cải cách phân phối, chính sách tiền lương, an sinh xã hội.

 

Đại hội XIV của Đảng, tư duy của Đảng có bước đột phá khi bổ sung hàm lượng “hiện đại” vào QHSX để thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra yêu cầu cấp bách về “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính”(3). Sự đột phá này được thể hiện đồng bộ trên cả ba yếu tố cấu thành QHSX. Về quan hệ sở hữu được khơi thông triệt để nguồn lực khi khẳng định “Phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất”(4) gắn liền với tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh. Về quan hệ quản lý và quan hệ phân phối chuyển dịch mạnh mẽ sang phương thức quản trị quốc gia theo hướng “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả”(5), minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình. Việc kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, giảm tối đa thủ tục hành chính và đẩy mạnh số hóa toàn diện là nền tảng để hướng tới “thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường sinh thái”(6) bảo đảm một sự phát triển công bằng và bao trùm.

 

Như vậy, nhận thức lý luận của Đảng về QHSX đã có bước phát triển mới khi đặt ra yêu cầu xây dựng “quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại”. Điểm mới trong tư duy này là QHSX không chỉ cần phù hợp một cách thụ động, cơ học với trình độ hiện tồn của LLSX, mà một cách hợp quy luật, còn phải chủ động mở đường, tạo động lực cho LLSX phát triển. Trong đó tính tiến bộ (bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến bộ và công bằng xã hội, chống bất bình đẳng số) và tính hiện đại (bắt kịp chuẩn mực quản trị toàn cầu, thích ứng với kinh tế số, kinh tế xanh và chuỗi giá trị tri thức). Trên nền tảng đó, Đảng đồng thời xác định rõ cơ chế vận hành phù hợp là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước kiến tạo, quản lý - Thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ nguồn lực - Xã hội giám sát, phản biện và tham gia quản trị. 

 

Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới và thích ứng với các mô hình kinh tế hiện đại tại Việt Nam.

 

Trong kỷ nguyên số, LLSX không chỉ phát triển về trình độ mà đã chuyển biến về chất, hình thành LLSX mới. Hệ thống này vận hành dựa trên cấu trúc các thành tố gắn kết hữu cơ: 

 

Con người (yếu tố quyết định): Giữ vai trò chủ thể sáng tạo và điều khiển toàn bộ quá trình sản xuất. Lao động chân tay dần nhường chỗ cho “lao động tri thức”. Người lao động hiện đại tham gia vào sản xuất bằng kỹ năng số, tư duy hệ thống và năng lực hợp tác giữa người với máy thay vì thao tác cơ bắp đơn thuần. 

 

Tư liệu sản xuất số (công cụ tối ưu): Công cụ lao động dịch chuyển từ máy móc cơ khí sang tài sản phi vật chất như phần mềm, thuật toán, robot và hệ thống AI có khả năng tự học, ra quyết định. Dù không tự tạo ra giá trị mới, tư liệu sản xuất số giúp tối ưu hóa quy trình, tái sử dụng với chi phí biên thấp, tạo nền tảng để lao động sống tạo ra giá trị vượt trội. 

 

Tri thức xã hội - Dữ liệu lớn (nguồn lực mới): Tri thức xã hội - dữ liệu lớn là tri thức đã được số hóa, xã hội hóa và khách quan hóa (tồn tại độc lập với từng cá nhân), bao gồm các quy luật, mô hình, kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu; là “nguyên liệu” sản xuất đặc biệt trong nền kinh tế số, được lao động số khai thác qua công cụ số để tạo ra sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Đặc trưng vượt trội là có tính phi vật chất, khả năng tái sử dụng vô tận và càng khai thác, kết nối thì giá trị càng tăng. Đây là một yếu tố mới của LLSX mới (bên cạnh con người và tư liệu sản xuất truyền thống). 

 

Hạ tầng và hệ sinh thái sản xuất số (môi trường vận hành): Bao gồm mạng viễn thông (5G/6G), trung tâm dữ liệu, chuỗi cung ứng bán dẫn và các nền tảng kết nối (có tính quốc gia và quốc tế). Thay thế nhà xưởng truyền thống, môi trường này mang tính mở và linh hoạt, xóa bỏ rào cản không gian - thời gian để thúc đẩy mạng lưới sản xuất xuyên biên giới.  

 

LLSX mới vận hành dựa trên vai trò trung tâm của con người tri thức, ứng dụng tư liệu sản xuất số để khai thác nguồn tri thức - dữ liệu lớn trên nền tảng hạ tầng số. Dù lao động sống vẫn là nguồn gốc cốt lõi của giá trị, lao động trí tuệ đã trở thành hình thức tạo giá trị chủ đạo. Sự phát triển tất yếu này đòi hỏi QHSX (sở hữu, quản lý, phân phối) phải chủ động chuyển đổi tương ứng để thích ứng với nền kinh tế số.

 

Sự xuất hiện của kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế xanh, kinh tế nền tảng tại Việt Nam đòi hỏi phải có sự đổi mới căn bản khung khổ thể chế. Những hình thức lao động linh hoạt cùng các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu xuyên biên giới đòi hỏi phải xác lập rõ quyền sở hữu, cơ chế quản trị và phân phối giá trị từ dữ liệu, đồng thời bảo đảm an sinh cho người lao động. Trước sự biến đổi mang tính cách mạng đó của LLSX, việc chủ động đổi mới QHSX cũ vốn dựa trên nền tảng công nghiệp truyền thống là yêu cầu khách quan nhắm mở đường cho phương thức sản xuất số phát triển.

 

Quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại - cấu trúc và đặc trưng

 

Quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại ở Việt Nam là tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội giữa các chủ thể trong sở hữu, quản lý, tổ chức khai thác và phân phối các nguồn lực vật chất, tri thức, dữ liệu, công nghệ và các nền tảng số; được xây dựng trên nền tảng chế độ đa dạng sở hữu dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm nhằm giải phóng sức sản xuất, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

 

Cấu trúc của QHSX tiến bộ, phù hợp và hiện đại bao gồm 3 mặt:  

 

Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Từ sở hữu tư liệu sản xuất vật chất truyền thống mở rộng sang công nhận, luật hóa và bảo vệ đa dạng hóa các đối tượng sở hữu mới phát sinh trong kỷ nguyên số (dữ liệu số, tài sản trí tuệ, thuật toán, phần mềm, hạ tầng tính toán, tài sản số). Xác định rõ mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản, quyền truy cập, quyền chia sẻ, quyền khai thác và sử dụng.

 

Quan hệ tổ chức - quản lý sản xuất: Chuyển đổi từ cơ chế quản lý hành chính sang mô hình quản trị hiện đại, quản trị số, quản trị dựa trên dữ liệu lớn và quản trị thuật toán. Vận hành dựa trên sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước (kiến tạo, quản lý, kiểm soát rủi ro công nghệ) - Thị trường (đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ nguồn lực) - Xã hội (tham gia, giám sát, phản biện và tự quản số). 

 

Quan hệ phân phối: Thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối. Bên cạnh phân phối theo lao động là chủ đạo và phân phối theo vốn, tài sản; bổ sung mạnh mẽ các hình thức phân phối dựa trên giá trị tri thức, tài năng sáng tạo, bản quyền dữ liệu, đóng góp công nghệ; đồng thời duy trì hệ thống an sinh xã hội bao trùm để phòng ngừa rủi ro bất bình đẳng số. 

 

Trong quan hệ sản xuất mới, quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất mở rộng tới dữ liệu, AI và tri thức đóng vai trò quyết định, định hình bản chất nền kinh tế. Sự chuyển dịch này kéo theo quan hệ quản lý - tổ chức tiệm cận mô hình mạng lưới, quản trị bằng thuật toán, trong khi quan hệ phân phối mở rộng theo giá trị tri thức và đổi mới sáng tạo. Ba yếu tố này gắn kết hữu cơ, với quản lý và phân phối tác động ngược lại mạnh mẽ, giúp gia tăng giá trị sở hữu và tạo động lực phát triển. Tất cả cùng hợp thành nền tảng kinh tế khách quan, quyết định kiến trúc xã hội và pháp lý trong kỷ nguyên số.

 

Những đặc trưng cơ bản của quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, hiện đại: Tính tiến bộ: Phản ánh bản chất QHSX xã hội chủ nghĩa mang tính nhân văn. Phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; hướng tới giải phóng con người khỏi lao động nặng nhọc nhờ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, bảo đảm công nghệ phục vụ con người, không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Tính phù hợp: Phản ánh tính quy luật khách quan, tương thích với trình độ phát triển thực tế của LLSX mới. Không duy ý chí áp đặt QHSX vượt quá trình độ LLSX, nhưng cũng không để QHSX lạc hậu kìm hãm công nghệ. Tính hiện đại: Phản ánh trình độ phát triển đạt chuẩn mực quốc tế. Thể hiện ở thể chế minh bạch; ứng dụng quản trị số, chính phủ số; tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và các quy tắc quản trị dữ liệu thế giới. 

 

Các nhân tố chi phối quá trình xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất 

 

Xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại ở Việt Nam là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội nhằm hình thành, điều chỉnh và phát triển đồng bộ các quan hệ sở hữu, tổ chức - quản lý và phân phối theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời bổ sung, hoàn thiện các quan hệ kinh tế mới liên quan đến tri thức, dữ liệu, công nghệ và nền tảng số, bảo đảm QHSX ngày càng phù hợp với trình độ phát triển của LLSX hiện đại, giải phóng và huy động hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Quá trình xây dựng, hoàn thiện QHSX tiến bộ, phù hợp, hiện đại chịu sự chi phối của các nhân tố cơ bản sau đây:

 

Trình độ phát triển và tốc độ cấu trúc lại LLSX mới: Sự phát triển của hạ tầng số, mạng 5G, 6G, trung tâm dữ liệu quốc gia, trí tuệ nhân tạo, công nghệ vi mạch bán dẫn và chất lượng nguồn nhân lực số quyết định trực tiếp đến hình thức và tốc độ chuyển đổi của QHSX. 

 

Sự hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN: Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường với giữ vững định hướng XHCN chi phối chất lượng vận hành của QHSX. 

 

Tác động của bối cảnh quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh: Cạnh tranh chiến lược công nghệ, bán dẫn, các rào cản kỹ thuật mới (CBAM, tiêu chuẩn ESG, Luật AI) buộc Việt Nam phải nhanh chóng hiện đại hóa QHSX để tự chủ và chủ động hội nhập. 

 

Năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước: Vai trò của Đảng trong việc hoạch định đường lối và năng lực thể chế hóa của Nhà nước thành pháp luật, cơ chế, chính sách vận hành trên không gian thực lẫn không gian số đóng vai trò quyết định tốc độ và hiệu quả của quá trình này. 

 

Thực trạng xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay

 

Về quan hệ sở hữu và phát triển các thành phần kinh tế: Thể chế sở hữu tiếp tục được hoàn thiện theo hướng thừa nhận, bảo vệ đa sở hữu và bảo đảm bình đẳng pháp lý, bình đẳng trước pháp luật giữa các thành phần kinh tế. Hiện nay, khối kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, hiện đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động(7).Nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân lớn đã chủ động tự chủ công nghệ, đẩy mạnh nghiên cứu & phát triển và tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu thuộc những lĩnh vực sản xuất, công nghệ hiện đại, như VinFast phát triển hệ sinh thái xe điện toàn cầu, FPT dẫn đầu về giải pháp AI và phần mềm chip bán dẫn, Thaco, Hòa Phát...

 

Song song đó, khối kinh tế nhà nước từng bước được sắp xếp, tinh gọn, nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế, tập trung nguồn lực vào các ngành then chốt, hạ tầng chiến lược, năng lượng xanh và hạ tầng số quốc gia với vai trò chủ đạo từ EVN, PVN, Viettel, VNPT. Đặc biệt, nhận thức về tầm quan trọng của “dữ liệu” trong LLSX mới bước đầu được cụ thể hóa mạnh mẽ; các hành lang pháp lý như Luật Dữ liệu cùng việc đẩy nhanh tiến độ Đề án Trung tâm Dữ liệu Quốc gia và triển khai diện rộng Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 đã tạo bước ngoặt trong khai thác giá trị kinh tế từ tài nguyên dữ liệu, hình thành thị trường dữ liệu mở và thúc đẩy kinh tế số phát triển vượt bậc.

 

Về quan hệ tổ chức - quản lý: Thể chế quản lý nhà nước dịch chuyển mạnh mẽ từ quản lý hành chính đơn thuần sang mô hình “Nhà nước kiến tạo phát triển” với tinh thần cắt giảm thủ tục, tháo gỡ điểm nghẽn và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Quản trị công hiện đại gắn liền với chuyển đổi số toàn diện và mô hình Chính phủ số được triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương.

 

Công nhân Công ty Kim Long Motor Huế thực hiện quy trình sản xuất động cơ_Ảnh: TTXVN

 

Trong khu vực doanh nghiệp, mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, tự động hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã chuyển từ giai đoạn thí điểm sang tích hợp sâu vào quy trình vận hành thực tế. Năm 2025, kinh tế số tiếp tục đóng góp quan trọng trong tăng tưởng kinh tế Việt Nam, với tỷ trọng giá trị tăng thêm ước đạt 14,02% GDP, tương đương với khoảng 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần so với năm 2020 (năm 2020 đạt 43,8 tỷ USD), gấp 1,5 lần so với năm 2021 (năm 2021 đạt 53 tỷ USD). Tốc độ tăng quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số theo giá hiện hành bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 12,1%, trong đó năm 2021 đạt mức thấp nhất là 7,2%, năm 2025 cao nhất là 18,4%(8). Sự hội nhập sâu rộng của các nền tảng thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và dịch vụ công trực tuyến đã góp phần tối ưu hóa chi phí giao dịch, nâng cao đáng kể năng suất lao động xã hội.

 

Về quan hệ phân phối: Phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức độ đóng góp nguồn lực được thực hiện ngày càng rõ nét, tạo động lực cạnh tranh lành mạnh. Đồng thời, Nhà nước phát huy vai trò điều tiết thu nhập hiệu quả thông qua công cụ ngân sách, thuế và các chương trình an sinh xã hội toàn dân nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm sâu xuống còn 1,30% và tiếp tục đà giảm bền vững trong giai đoạn 2025 - 2026(9); phong trào chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi toàn quốc đạt kết quả ấn tượng. Việt Nam tiếp tục được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế ghi nhận là điểm sáng toàn cầu trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt ở các chỉ số về giảm nghèo, bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân và bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế.

 

Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất ở Việt Nam: Thể chế sở hữu chưa đồng bộ, chưa giải phóng hết nguồn lực vật chất và nguồn lực số. Thể chế đất đai vẫn còn vướng mắc trong khâu định giá, tích tụ và lưu thông quyền sử dụng đất. Khung pháp lý về sở hữu dữ liệu, quyền truy cập/chia sẻ dữ liệu, tài sản số, giao dịch số và tài sản trí tuệ còn thiếu đồng bộ. Chưa có quy định pháp lý rõ ràng về định giá tài sản số và tài sản trí tuệ để làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng, gây khó khăn cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Quan hệ tổ chức - quản lý còn nhiều nút thắt, quản trị công nghệ chưa theo kịp thực tiễn. Bộ máy quản lý nhà nước ở một số ngành, địa phương còn mang nặng tư duy can thiệp hành chính. Tình trạng một bộ phận cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm làm chậm tiến độ xử lý công việc và cản trở việc thí điểm các mô hình kinh tế mới. Cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các công nghệ và dịch vụ mới như công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, mô hình kinh tế chia sẻ, tài sản số triển khai còn chậm và dè dặt. Hệ thống quy định về quản trị thuật toán và an toàn trí tuệ nhân tạo chưa hoàn thiện. Quan hệ phân phối còn bất cập, nguy cơ gia tăng phân hóa và bất bình đẳng số. Cơ chế phân phối giá trị gia tăng từ dữ liệu và nền tảng số đang có xu hướng nghiêng lệch về các tập đoàn công nghệ xuyên biên giới, trong khi nhóm lao động tự do trên các nền tảng công nghệ chưa được bảo vệ bằng hệ thống an sinh xã hội tương xứng. Chính sách tiền lương trong khu vực công chưa thực sự tạo động lực đột phá để thu hút và giữ chân nhân tài công nghệ cao. Khoảng cách về hạ tầng số, kỹ năng số giữa khu vực đô thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn chưa được thu hẹp triệt để.

 

Một số giải pháp xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và hiện đại ở Việt Nam hiện nay

 

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận về phát triển lực lượng sản xuất mới và xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, hiện đại.

 

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số toàn diện, việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là yêu cầu khách quan và cấp thiết. Trước hết, cần làm rõ nội hàm lý luận về một “QHSX tiến bộ, phù hợp và hiện đại”, xác định rõ tiêu chí của sự phù hợp này là năng lực giải phóng, mở đường và kích thích các yếu tố LLSX mới - đặc biệt là nguồn nhân lực số, hạ tầng dữ liệu và công nghệ lõi; qua đó coi đây là thước đo thực tiễn cao nhất để đánh giá hiệu quả của các thể chế kinh tế.

 

Bên cạnh đó, hệ thống lý luận kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa cần tích hợp sâu sắc nội dung phát triển LLSX mới gắn liền với QHSX tiến bộ, phù hợp, hiện đại theo mô hình tổng quát “Kinh tế số - Nhân văn - Phát triển bền vững”. Trong cơ chế vận hành, cần đổi mới tư duy quản trị quốc gia theo hướng phát huy đồng bộ vai trò của các chủ thể: coi thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất, kết hợp với vai trò kiến tạo, quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an ninh kinh tế và duy trì vững chắc chủ quyền số quốc gia.

 

Hai là, hoàn thiện đồng bộ thể chế sở hữu - tập trung vào thể chế hóa sở hữu dữ liệu và tài sản số.

 

Tiếp tục triển khai hiệu quả Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023, hoàn thiện thể chế để đất đai, tài nguyên được vận hành theo cơ chế thị trường. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung nguồn lực vào các hạ tầng chiến lược (hạ tầng số, chip bán dẫn, năng lượng mới); tạo điều kiện thuận lợi nhất cho kinh tế tư nhân phát triển không giới hạn về quy mô. Cùng với đó, tiếp tục triển khai thực hiện Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Dữ liệu. Luật hóa chi tiết các hình thức sở hữu dữ liệu: quy định rõ quyền sở hữu, quyền truy cập, quyền chia sẻ và quyền thương mại hóa dữ liệu. Xây dựng cơ chế tài chính, định giá công khai cho phép coi tài sản trí tuệ, phần mềm, dữ liệu số là tài sản bảo đảm chính thức trong các giao dịch vốn. 

 

Ba là, đổi mới quan hệ tổ chức - quản trị sản xuất, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và doanh nghiệp.

 

Hoàn thiện mô hình Nhà nước - thị trường - xã hội trong môi trường số. Theo đó, Nhà nước tập trung vào quy hoạch, kiến tạo môi trường kinh doanh số, đầu tư hạ tầng chiến lược và quản trị rủi ro công nghệ. Thị trường đóng vai trò quyết định trong việc định giá dữ liệu và phân bổ các nguồn lực mới. Xã hội (các hội, hiệp hội công nghệ) tham gia phản biện, giám sát thuật toán và bảo vệ quyền lợi người dùng. Thúc đẩy Chính phủ số và quản trị dựa trên dữ liệu, thuật toán. Áp dụng cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát mở, linh hoạt cho các mô hình kinh doanh mới, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính, tài sản số. Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số, áp dụng tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG) và quản trị chuỗi cung ứng số. 

 

Bốn là, hoàn thiện quan hệ phân phối bảo đảm công bằng, tạo động lực sáng tạo và an sinh bao trùm.

 

Tiếp tục thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế; hoàn thiện cơ chế phân phối theo tri thức, tài năng và mức độ đóng góp dữ liệu, công nghệ. Xây dựng thể chế phân phối lại giá trị gia tăng từ các nền tảng kinh tế số; bảo vệ quyền lợi an sinh cho lao động tự do. Bố trí nguồn lực thực hiện nghiêm túc chính sách tiền lương mới trong khu vực công, bảo đảm tiền lương phản ánh đúng giá trị sức lao động, tạo động lực cho cán bộ, công chức, trí thức và chuyên gia công nghệ cao. Sử dụng hiệu quả công cụ thuế để điều tiết khoảng cách giàu nghèo. Đầu tư ngân sách phát triển hạ tầng số vùng sâu, vùng xa, cung cấp “kỹ năng số cơ bản” cho toàn dân để xóa bỏ “khoảng cách số”. 

 

Năm là, xây dựng các thiết chế mới đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại.

 

Xây dựng và hoàn thiện Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Trung tâm tính toán hiệu năng cao và các sàn giao dịch dữ liệu, sàn giao dịch tài sản trí tuệ công khai, minh bạch; từng bước hoàn thiện hạ tầng số và thể chế quản trị dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Giải pháp này giúp hoàn thiện quan hệ sở hữu và lưu thông đối với tư liệu sản xuất mới, bảo đảm dữ liệu được khai thác như tài sản công cộng vì lợi ích xã hội, tránh nguy cơ độc quyền và chiếm hữu tư nhân cực đoan. Thiết lập các thể chế, hàng rào bảo hộ an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm quyền con người trong không gian số và giữ vững chủ quyền số quốc gia. Đây là nền tảng hoàn thiện quan hệ quản lý, giúp Nhà nước điều tiết hiệu quả các nền tảng công nghệ, thiết lập trật tự quản trị số minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong nền kinh tế số. Thành lập, vận hành hiệu quả các Quỹ đổi mới sáng tạo, Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia có sự tham gia của vốn nhà nước nhằm phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, dẫn dắt dòng vốn tư nhân tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như: bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, công nghệ sinh học. Qua đó, tối ưu hóa quan hệ phân phối nguồn lực đầu tư, chia sẻ rủi ro và thành quả công nghệ, tạo động lực thúc đẩy phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách số và củng cố đồng thuận xã hội./.

 

GS, TS Nguyễn Văn Tài

Nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 

Link gốc: Chính trị - Xây dựng Đảng - Tạp chí Cộng sản

Ngày phát hành: 12-10-2026

-------------------


(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 120
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Sđd, t. I, tr. 131
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 82
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Sđd, t. I, tr. 82
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Sđd, t. I, tr. 126
(6)  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Sđd, t. I, tr. 145
(7) Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân”
(8) Cục Thống kê – Bộ Tài chính: Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021 – 2025, 5-1-2026, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/
(9) “Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống 1,3% năm 2025”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 20-10-2025, https://nhandan.vn/ty-le-ho-ngheo-da-chieu-giam-xuong-13-nam-2025-post916422.html

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết