Thứ Ba, ngày 12 tháng 11 năm 2019

Một số vấn đề về nhận thức, thực tiễn thực hiện phúc lợi xã hội ở thủ đô Hà Nội thời gian qua ​

Ngày phát hành: 01/11/2019 Lượt xem 31

 

 

Phúc lợi xã hội và an sinh xã hội là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây và được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, điều đó cho thấy phúc lợi xã hội và an sinh xã hội luôn luôn là vấn đề thời sự trong đời sống xã hội.

Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về “Phúc lợi xã hội và an sinh xã hội” như theo từ điển Bách khoa Việt Nam, phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu mang tính bao cấp và được phân phối ngoài thu nhập lao động; theo Tổ chức lao động quốc tế, an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho gia đình nạn nhân, trẻ em.

Tóm lại, phúc lợi xã hội và an sinh xã hội đều có cùng mục tiêu là hướng tới một xã hội hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người; nó thể hiện tính nhân văn của con người trong mọi thời đại và mọi cộng đồng dân tộc.

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt đến phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, điều đó thể hiện rõ sự ưu việt của chế độ ta đối với cuộc sống của nhân dân, nhất là đối với những người yếu thế trong xã hội.

Tại Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” và Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 03/8/2016 của HĐND thành phố Hà Nội về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016-2020” khẳng định: đến năm 2020 cơ bản đảm bảo an sinh xã hội toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; thường xuyên quan tâm, chăm lo cải thiện đời sống vật chất tinh thần các đối tượng chính sách; bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu ... góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân...

Hiện nay, Nhà nước đã ban hành một số chính sách cơ bản về an sinh xã hội liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý. Chính sách chính là tập hợp các chủ trương và hành động Chính phủ, tuy nhiên mỗi địa phương tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội lại có những chính sách đặc thù. Các chính sách này được phân loại theo các cấu phần của hệ thống, chủ yếu tập trung vào các nhóm chính sau đây:

Thứ nhất: Phát triển sản xuất, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng cơ hội có việc làm cho người lao động, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ gia đình phát triển sản xuất; hỗ trợ, ưu đãi tín dụng; đào tạo nghề; giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng và kết nối thông tin thị trường lao động.

Thứ hai: Mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để chủ động đối phó khi thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động hay tuổi già.

Thứ ba: Trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ, như: Hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù (trẻ em khuyết tật, người khuyết tật nặng, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo…) và hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro bất khả kháng hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, hoả hoạn, thiên tai, động đất, đói nghèo,...) bằng nhiều hình thức: hỗ trợ bằng tiền hoặc hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm và từ các nguồn huy động hợp pháp khác.

Thứ tư: Thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, thường xuyên quan tâm, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách xã hội.

Thứ năm: Tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản, như: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và vệ sinh môi trường.

Hệ thống chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các lĩnh vực: giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm, ưu đãi người có công với cách mạng, trợ giúp xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng.

 

 

Đối với Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một trong những chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng, Nhà nước và của Thành phố; có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng. Cùng với sự phát triển chung của các địa phương trên cả nước, dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố, công tác Lao động, Người có công và Xã hội thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay (tính từ đầu năm 2016 đến nay) đã đạt được những kết quả quan trọng. Cụ thể:

1. Công tác tạo việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

Thành phố luôn quan tâm đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với hơn 200.000 người được đào tạo nghề hàng năm; đặc biệt trong những năm gần đây đã tăng cường chỉ đạo, tạo cơ chế chính sách trong việc gắn công tác dạy nghề với giải quyết việc làm, gắn kết hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp với thị trường lao động, nhờ đó nhiều học sinh sau khi học nghề đã nhanh chóng được các doanh nghiệp tiếp nhận vào làm việc theo đúng chuyên môn được đào tạo với mức lương ổn định, góp phần ổn định cuộc sống.

Với các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, kinh tế Thành phố tiếp tục phát triển khá, tạo thuận lợi cho công tác giải quyết việc làm. Trong giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 8/2019, thành phố Hà Nội đã giải quyết việc làm cho 624.828 lượt lao động, trung bình mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 160.000 lượt lao động qua các hình thức khác nhau như: giải quyết việc làm từ nguồn vốn ngân sách Thành phố ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội; xuất khẩu lao động; giải quyết việc làm qua các phiên giao dịch việc làm. Trong 02 năm (2015 và 2016), Hà Nội tạo việc làm cho 299.800 lao động, chiếm 9,2% trong tổng số 3.258.000 lượt lao động được tạo việc làm trong cả nước; 6 tháng đầu năm 2019 Thành phố đã bố trí 1.568 tỷ đồng từ ngân sách ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội (tăng 190 tỷ đồng so với năm 2018) để cho vay giải quyết việc làm đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Kết quả đó đã góp quan trọng vào thành công chung của cả nước trong Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị đã giảm từ 4,22% (cuối năm 2016) xuống 2,41% (vào cuối năm 2018); dự kiến cuối năm 2019 tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm còn <2,4%, đạt mục tiêu dưới 4% theo Nghị quyết Đại hội Thành phố đề ra cho giai đoạn 2016-2020.

Trong những năm qua Thành phố luôn quan tâm thực hiện các chính sách về bảo hiểm xã hội; tính đến hết tháng 6/2019 số người tham gia BHXH bắt buộc là 1.677.402  người, đạt 84,88% số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc; số người tham gia BHTN là 1.568.601 người tăng 112.939 người, đạt 92,56% số người thuộc diện tham gia BHTN; số người tham gia BHXH tự nguyện là  25.736 người, tăng 3.052 người, tương đương tốc độ gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là 13,4%.

2. Công tác chăm sóc, thực hiện chính sách đối với Người có công 

Trong thời gian qua chính sách ưu đãi đối với Người có công không ngừng được hoàn thiện. Mức trợ cấp ưu đãi hàng tháng năm 2019 tăng khoảng 1,23 lần so với năm 2015. Hiện nay, thành phố Hà Nội đang quản lý và thực hiện chính sách ưu đãi cho gần 764.000 người có công (chiếm gần 10% dân số của Thành phố), trong đó có trên 6.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trên 45.000 thương bệnh binh, gần 80.000 liệt sĩ, trên 10.000 người hưởng chế độ chất độc hóa học, gần 600.000 người hoạt động kháng chiến được thưởng Huân, Huy chương kháng chiến các hạng… Trong số người hưởng chính sách ưu đãi, có gần 90.000 người đang được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng với kinh phí chi trả 1 năm khoảng 1.650 tỷ đồng.

Từ năm 2016 - 2019, toàn Thành phố đã vận động Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” được 167.243 tỷ đồng; tặng 23.857 sổ tiết kiệm với số kinh phí 27,748 tỷ đồng; tu sửa, nâng cấp 639 công trình ghi công liệt sĩ với số kinh phí 381,326 tỷ đồng; 100% Bà mẹ VNAH còn sống được các cơ quan đơn vị nhận phụng dưỡng; 100% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng; hỗ trợ xây dựng và sửa chữa 9.441 nhà ở cho người có công với tổng kinh phí trên 1.302 tỷ đồng. Năm 2017 Thành phố đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở đối với hộ gia đình người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, với tình cảm, trách nhiệm, Đảng bộ, chính quyền Thủ đô đã luôn  quan tâm, chăm lo chu đáo đời sống người có công. Hàng năm, nhân dịp tết Nguyên đán, kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ, ngày lễ lớn của đất nước và Thành phố, các cấp ủy, chính quyền của Hà Nội đều có các hoạt động tri ân, thăm hỏi, tặng quà người có công và thân nhân.

3. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội

Thành phố Hà Nội đã luôn nỗ lực phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu giảm nghèo. Kết quả tỷ lệ hộ nghèo của Thành phố đã giảm từ 3,64% đầu năm 2016 xuống còn 1,16% cuối năm 2018, hoàn thành trước 02 năm mục tiêu giảm nghèo của Thành phố giai đoạn 2016-2020. Năm 2017 Thành phố không còn hộ nghèo diện chính sách người có công; không còn xã, thôn thuộc diện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đến nay Thành phố có 05 quận không còn hộ nghèo là Cầu Giấy, Tây Hồ, Ba Đình, Thanh Xuân, Hoàn Kiếm. Đây được đánh giá là một thành tích quan trọng của Thành phố trong thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội. Tháng 7/2019 vừa qua, thành phố Hà Nội đã xây dựng Nghị quyết quy định một số chính sách giảm nghèo bền vững, dự kiến cuối năm 2019, thành phố Hà Nội cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020.

Trong những năm gần đây, các chính sách trợ giúp xã hội, cả thường xuyên và đột xuất được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng. Kinh phí trợ giúp thường xuyên từ ngân sách nhà nước và số người được thụ hưởng tăng nhanh chóng. Đời sống của người dân khu vực nông thôn được nâng cao, thu nhập năm 2018 đạt 46 triệu đồng/người/năm, gấp 1,37 lần so với năm 2015.

Toàn Thành phố thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng cho trên 189.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng; 2.600 đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Thành phố; trên 4.000 người già yếu không có khả năng tự phục vụ và người mắc bệnh hiểm nghèo không có khả năng lao động là thành viên hộ nghèo được hưởng trợ cấp hàng tháng; cấp thẻ BHYT cho 632.350 lượt người thuộc hộ nghèo, cận nghèo với số tiền trên 410,87 tỷ đồng; cho trên 80.000 lượt hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, người khuyết tật, học sinh, sinh viên vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, học tập với số tiền 2.200 tỷ đồng; hỗ trợ tiền điện cho 100% hộ nghèo với tổng kinh phí 64,4 tỷ đồng. Năm 2018 UBND Thành phố ban hành Kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn Thành phố theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015. Đến ngày 15/10/2018, Thành phố đã hoàn thành công tác hỗ trợ nhà ở hộ nghèo, đã có 4.166/4.046 hộ nghèo được hỗ trợ xây sửa, đạt 103% kế hoạch với tổng kinh phí hỗ trợ 423,5 tỷ đồng.

Nhiều năm qua Thành phố đã thực hiện tốt công tác giải quyết tình trạng người lang thang, góp phần giữ gìn trật tự, mỹ quan đô thị. Vào các đợt rét đậm dưới 10oC và dịp Tết Nguyên đán, các đối tượng lang thang cơ nhỡ được đưa về Trung tâm Bảo trợ xã hội để tránh rét đón Tết và hỗ trợ đưa về địa phương nơi cư trú.

Hiện thành phố Hà Nội có 12.452/12.533 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, trợ giúp bằng nhiều hình thức khác nhau, đạt tỷ lệ 99,3%. 100% trẻ em trong các vụ việc bạo hành, xâm hại, vi phạm quyền trẻ em đều được quan tâm tư vấn, hỗ trợ ổn định về tâm lý và hoà nhập cộng đồng.

Nhìn chung, từ đầu năm 2016 đến nay, công tác an sinh xã hội Thành phố tiếp tục được đảm bảo. Người có công với cách mạng và thân nhân luôn được chăm sóc tốt, đảm bảo tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương. Người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh khó khăn được Thành phố quan tâm, chăm lo. Công tác tạo việc làm và giải quyết việc làm cho lao động được tăng cường với nhiều giải pháp. Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, phát triển nguồn nhân lực tiếp tục được đẩy mạnh và có nhiều kết quả nổi bật. Công tác phòng, chống mại dâm, cai nghiện và quản lý sau cai nghiện được chú trọng, việc triển khai Đề án thí điểm cai nghiện tự nguyện đã thu được kết quả tích cực.

Để hiện thực hóa các mục tiêu về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới, cần đặt công tác bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội là nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên của tất cả các cấp, các ngành trên địa bàn Thành phố và tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp sau:

1. Triển khai thực hiện hiệu quả 3 Đề án: Tiếp tục phát triển thị trường lao động Thành phố Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Phát triển quan hệ lao động thành phố Hà Nội giai đoạn 2014-2020; Tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động sàn giao dịch việc việc làm thành phố Hà Nội giai đoạn 2014-2015 và định hướng đến năm 2020. Tăng cường giải quyết việc làm, thực hiện đồng bộ các chính sách, giải pháp hỗ trợ tạo việc làm. Chú trọng hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp, chuyển dịch việc làm khu vực nông thôn; hỗ trợ tạo việc làm cho cho nhóm lao động yếu thế như lao động thuộc hộ nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, thanh niên nông thôn ... Tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thị trường lao động. Nâng cao hiệu quả hoạt động của sàn giao dịch việc làm và các điểm giao dịch việc làm vệ tinh. Hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật về lao động, tiền lương. Chủ động theo dõi, nắm bắt, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan xử lý kịp thời các tranh chấp lao động nhằm giảm thiểu các vụ đình công, lãn công. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm, đẩy mạnh thu hồi nợ đọng bảo hiểm xã hội.

2. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề, gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, thị trường lao động. Đẩy nhanh việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Triển khai phương thức đặt hàng dạy nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2017-2020 và Đề án rà soát, sắp xếp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Tập trung nguồn lực đầu tư cho 04 trường của Thành phố được lựa chọn là trường chất lượng cao, cho các nghề trọng điểm, nghề gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề. Phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề theo hướng tiếp cận yêu cầu thực tiễn và cập nhật tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục nghề nghiệp.

3. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kế hoạch thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020. Đẩy mạnh thực hiện chính sách, chương trình, giải pháp giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều. Các chính sách và giải pháp giảm nghèo phải thiết thực, đồng bộ cả về hỗ trợ phát triển sản xuất và đời sống, tạo việc làm, tiếp cận thị trường; nâng cao khả năng tự vươn lên thoát nghèo bền vững của người dân. Phải bảo đảm lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án và nguồn lực trên từng địa bàn, sự tham gia chủ động của người dân.

Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội và chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại các cơ sở xã hội. Hoàn thiện các chính sách và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó có hiệu quả với các biến cố, rủi ro, theo hướng cùng với việc tăng cường trợ giúp thường xuyên và đột xuất từ ngân sách nhà nước, tăng cường đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đa dạng các kênh và hình thức trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo dựa vào cộng đồng với sự tham gia rộng lớn của các doanh nghiệp và cộng đồng xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng và điều kiện hưởng thụ trợ giúp xã hội đến toàn bộ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương với mức trợ giúp phù hợp. Phấn đấu bảo đảm cho mọi người dân khi có thu nhập dưới mức sống tối thiểu đều được nhận trợ giúp xã hội. Chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của thiên nhiên, thời tiết; bảo đảm người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời để ổn định cuộc sống.

4. Tiếp tục hoàn chỉnh các chính sách và nâng cao chế độ ưu đãi đối với người có công, phù hợp với sự phát triển kinh tế; đồng thời hỗ trợ các gia đình người có công phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với người có công với cách mạng. Đảm bảo 100% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú. Tiếp tục đẩy mạnh và vận động toàn xã hội tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”.

5. Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình, dự án về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Tạo môi trường sống an toàn, thân thiện cho trẻ; thực hiện các giải pháp phòng ngừa, giảm bạo lực, xâm hại, đuối nước và tai nạn thương tích cho trẻ em; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền trẻ em, bạo hành trẻ em. Hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em vùng nông thôn nghèo. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng; can thiệp, trợ giúp kịp thời trẻ em có nguy cơ cao, trẻ em bị xâm hại.

6. Không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, trước hết là các dịch vụ công cộng cơ bản, bảo đảm công bằng, bình đẳng cho mọi người. Đẩy mạnh phát triển các quỹ phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống dịch vụ ngày càng đa dạng, đồng bộ, mở rộng độ bao phủ với chất lượng ngày càng nâng lên.

7. Tăng cường công khai, minh bạch mức thụ hưởng các phúc lợi xã hội và dịch vụ của người dân; đồng thời phải khắc phục các tiêu cực, phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ./.

 

Ngô Văn Quý - Thành ủy viên,

Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết