Thứ Hai, ngày 20 tháng 01 năm 2020

Một số ý kiến về định hướng chiến lược phát triển con người trong giai đoạn mới (phần 2)

Ngày phát hành: 25/10/2019 Lượt xem 330


2. Định hướng phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới mang tính bứt phá của đất nước, nhất là trong điều kiện cuộc cánh mạng công nghiệp 4.0 đang tăng tốc, phát triển nền kinh tế số, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn, đảm bảo sự phát triển nhanh - bền vững đồng bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường, thì vai trò chủ quan, trong đó nhân tố con người đóng vai trò quyết định. Vì vậy, vấn đề phát triển con người cần phải được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển trong giai đoạn mới.

2.1. Định hướng mục tiêu phát triển con người

Định hướng mục tiêu phát triển con người gắn liền với định hướng mục tiêu tổng quát phát triển đất nước đến 2030 là “Phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp[1], có thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; nền kinh tế năng động, phát triển nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế”. Trên cơ sở mục tiêu tổng quát phát triển đất nước nêu trên, cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và hiện thực hóa mục tiêu định hướng phát triển con người nêu trong Nghị quyết Đại hội XII là “Xây dựng và phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”; “Gắn nhân tố con người với xây dựng văn hoá làm nền tảng tinh thần”; “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”.

Đối với nước ta, do những điều kiện cụ thể và yêu cầu của giai đoạn mới, việc phát triển con người - phát triển nguồn nhân lực cần nhận thức rõ các đặc điểm sau:

- Phát triển con người - phát triển nguồn nhân lực phải “vượt lên trước một bước”, định hướng vào đáp ứng yêu cầu chuyển sang phát triển theo chiều sâu - thể chế phát triển theo chiều sâu của đất nước. Có nghĩa là phải tạo được mức “thặng dư” nhất định về nhân tố con người - nguồn nhân lực (về trình độ và đội ngũ) cho sự phát triển theo chiều sâu trong tất cả các lĩnh vực. Chỉ có như vậy mới thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo “con đường rút ngắn”, đi vào phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, phát triển nhanh - bền vững.

- Do trình độ phát triển của các vùng, các lĩnh vực trong đất nước không đều nhau, không thể tất cả cùng một lúc đi vào phát triển theo chiều sâu, trình độ cao; trong một thời gian còn dài vẫn còn cần phải kết hợp có hiệu quả phát triển theo chiều sâu với phát triển theo chiều rộng ở những lĩnh vực và mức độ cần thiết. Vì vậy đào tạo - phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng có hiệu quả sự đa tầng của trình độ phát triển đó trong mỗi giai đoạn cụ thể, lĩnh vực cụ thể, khu vực cụ thể, không thể tất cả “lao vào” đào tạo trình độ cao, chất lượng cao xa rời nhu cầu của thực tiễn.

- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, việc phát triển con người - phát triển nguồn nhân lực không chỉ theo những giá trị, chuẩn mục, tiêu chí riêng của Việt Nam, mà còn phải hướng tới những giá trị, chuẩn mực và tiêu chí chung của nhân loại - mang tính toàn cầu và thích ứng với môi trường phát triển đa văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trong Chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, cũng cần thiết xây dựng một số tiêu chí về phát triển con người (hoặc liên quan trực tiếp đến phát triển con người) trên bình diện chung của cả nước, cũng như từng lĩnh vực cụ thể. Trong quá trình xây dựng Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII nêu lên một số tiêu chí chung (có thể và cần thiết bổ sung thêm các tiêu chí khác) để xem xét sau :

- Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,7.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%.

- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 50%.

- Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đạt 6,5 - 7,0%/năm.

- Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe đạt tối thiểu 68 tuổi; phấn đấu trên 95% dân số được quản lý, theo dõi và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Đến 2030, giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 15‰, dưới 1 tuổi xuống còn 10‰.

- Lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp giảm xuống dưới 20% trong tổng  lao động nền kinh tế.

2.2. Định hướng nhiệm vụ tổng quát về phát triển con người

i). Xây dựng và phát hát huy giá trị con người - giá trị văn hóa Việt Nam gắn kết với tiếp thu các giá trị tốt đẹp của nhân loại, hình thành hệ giá trị Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng vươn lên; phát huy cao tính tự chủ, tinh thần đổi mới sáng tạo, dân chủ gắn liền với kỷ cương - thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội, để nguồn lực con người trở thành nhân tố nội sinh quan trọng nhất trong sự phát triển nhanh - bền vững đất nước trong gia đoạn mới.

ii). Xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam theo định hướng: Phát triển bản sắc - phẩm chất - năng lực của mỗi con người trong sự gắn kết hữu cơ với sư phát triển các giá trị của gia đình, cộng đồng, quốc gia - dân tộc, và với các giá trị tốt đẹp của nhân loại. Phát triển con người đồng bộ về “Tâm lực - Trí lực - Kỹ lực - Thể lực - cuộc sống hạnh phúc”. Tâm lực - được đặt lên hàng đầu và cuộc sống hạnh phúc là điểm hướng tới của sự phát triển con người. Tâm lực là những giá trị về đạo đức, văn hóa, lối sống, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội, khát vọng vương lên, cống hiến cho đất nước…; Trí lực - là những giá trị về năng lực tri thức chuyên môn, tư duy đổi mới sáng tạo…; Kỹ lực - là những giá trị về kỹ năng thực hành, hiểu biết thực tiễn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, kỹ năng mềm, khả năng hợp tác - liên kết và hội nhập trong làm việc và cuộc sống; Thể lực - là những giá trị về thể chất con người đảm bảo cho sống và làm việc khỏe mạnh, hạnh phúc.

 iii). Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong tất cả các lĩnh vực và cấp độ nhân lực (từ lãnh đạo cấp cao đến người lao động bình thường), trọng tâm là hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng; có chính sách vượt trội để đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài phục vụ phát triển đất nước.

iv). Phát triển nguồn nhân lực gắn hữu cơ với phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng, sáng tạo tiến tới làm chủ một số công nghệ mới, tạo nền tảng để khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, tạo bứt phá về năng suất lao động, chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu, đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới,.

2.3. Định hướng các giải pháp chủ yếu về phát triển con người

(1). Cần phải quán triệt sâu sắc, đầy đủ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong toàn hệ thống chính trị, trước hết là các cấp ủy Đảng và chính quyền, đến các tổ chức và trong toàn xã hội về phát triển con người, xác định “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”; “Phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu phát triển”; nhận thức rõ vai trò và yêu cầu mới của nhân tố con người đối với sự phát triển đất nước. Cùng với hoàn thiện thể chế phát triển và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để phát triển con người chất lượng cao - trình độ.

(2). Xác định phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao - trình độ cao - chủ thể và mục tiêu của quá trình đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn mới là một đột phá chiến lược. Có thể coi đây là đột phá của các đột phá.

Đại hội XI của Đảng xác định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” là một trong ba đột phá chiến lược. Điều này rất đúng, song đứng trước yêu cầu phát triển có tính bước ngoặt của đất nước trong giai đoạn mới, đột phá này cần được nhận thức đầy đủ và sâu sắc với nội hàm cao hơn. Vấn đề phát triển con người cần được tiếp cận không chỉ từ giác độ “nguồn nhân lực - người lao động”, mà phải từ giác độ “phát triển con người - là chủ thể và mục tiêu của quá trình đổi mới và phát triển đất nước nhanh - bền vững” đất nước. Cần nhận thức rõ yêu cầu của giai đoạn mới là phát triển con người - phát triển nhân lực trong và cho thể chế phát triển theo chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. Xét một cách tổng quát về mọi giác độ, thì phải có những con người có đủ phẩm chất đạo đức, tâm thế của người chủ nhân đất nước, có trình độ tư duy, năng lực chuyên môn và năng lực thực hành đáp ứng được yêu cầu đổi mới thì mới có được tư duy đổi mới và đổi mới được thể chế phát triển, chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng - phát triển sang chiều sâu. Nhưng những con người như thế lại là “sản phẩm” không chỉ của quá trình giáo dục - đào tạo trong nhà trường, mà còn là “sản phẩm” trực tiếp của thể chế chính trị - xã hội và thể chế kinh tế. Và điều rất quan trọng là đối với các quá trình đổi mới và cải cách rộng lớn trong xã hội không thể chỉ cần có một số ít những con người tài năng, mà xã hội cần có những thế hệ, đội ngũ đông đảo những con người dấn thân ví sự nghiệp đổi mới. Đây phải là “sản phẩm” của thể chế phát triển khuyến khích tự do sáng tạo cũng như trách nhiệm xã hội. Bởi vì các cuộc đổi mới hay cải cách xã hội sâu rộng thành công, suy cho cùng, bao giờ cũng phải là kết quả của sự đồng thuận về tư duy và hành động của những người tiên phong đổi mới tư duy với đội ngũ lãnh đạo - quản lý các cấp (nhất là những người đứng đầu) và với các tầng lớp xã hội - nhân dân liên quan. Vì thế phát triển con người - nguồn nhân lực cho sự phát triển của một đất nước trong những giai đoạn mới, nhất là trong bối cảnh tốc độ thay đổi và phát triển của các lĩnh vực diễn ra nhanh, là một nhiệm vụ chiến lược rất hệ trọng, có tác động chi phối đến tất cả các lĩnh vực khác. Với bối cảnh và những đặc điểm, yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, việc thực hiện đột phá “Phát triển con người - nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao - trình độ cao” có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Vì vậy có thể nói phát triển con người - phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao là đột phá của các đột phá. Nâng cao chất lượng phát triển con người - đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vừa là yêu cầu vừa là nội dung quan trọng nhất của đột phá chiến lược này.

(3). Xác định rõ hơn nội dung và cụ thể hóa mục tiêu phát triển con người trong giai đoạn mới : Nội dung và mục tiêu phát triển con người - phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phải xuất phát từ yêu cầu phát triển nhanh - bền vững của đất nước trong giai đoạn mới, để từ đó xác định các giá trị về con người, giá trị xã hội, yêu cầu phẩm chất của nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó xác định mục tiêu - tiêu chí - các chuẩn giáo dục và đào tạo, nhằm tạo ra nguồn lực con người với phẩm chất tổng hợp về “Tâm lực - Trí lực - Kỹ lực - thể lực”. Những tiêu chí cơ bản về phát triển con người - nguồn nhân lực xin được khái quát là :

i). Văn hóa, đạo đức, nhân cách, lý tưởng, trách nhiệm xã hội...

ii). Năng lực tự chủ, tư duy đổi mới sáng tạo   

iii).  Năng lực tri thức chuyên môn, nghề nghiệp

iv).  Năng lực thực hành

v). Ý thức và năng lực thực thi bảo vệ môi trường sinh thái

vi).  Kỹ năng mềm, kỹ năng hợp tác và chia sẻ

Khi đi vào phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế số, xã hội số những tiêu chí trên đều đòi hỏi ở trình độ cao và sự đồng bộ giữa các tiêu chí; song tiêu chí về tư duy và năng lực đổi mới sáng tạo, tiêu chí về năng lực nghiên cứu - ứng dụng - triển khai, gắn nghiên cứu với tổ chức sản xuất, với năng lực kinh doanh, tiêu chí hợp tác và chia sẻ...được đặc biệt chú trọng. Vì vậy, việc thực hiện hiệu quả sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, đổi mới căn bản nội dung và phương thức đào tạo các loại nguồn nhân lực (từ người lao động đến các nhà lãnh đạo cấp cao) là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết, cho trước mắt và cho lâu dài.

(4). Chiến lược phát triển con người cần phải được tiếp cận theo “vòng đời”, gắn hữu cơ phát triển các giá trị cốt lõi về phát triển con người với phát triển nghề nghiệp; giữa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích của mỗi cá nhân với gia đình, đơn vị, cộng đồng, và với quốc gia - dân tộc. Bởi vì mỗi con người là một chủ thể phát triển trong xã hội, vừa là chủ thể tự chủ vừa là thành viên và sản phẩm của xã hội, có một “vòng đời” phát triển liên tục, kế tiếp các giai đoạn với nhau, các giá trị của giai đoạn trước làm cơ sở cho giai đoạn sau trong sự tương tác không ngừng, đa diện, đa chiều với xã hội. Phát triển con người không chỉ là sự tiếp cận từ giác độ cá thể mỗi người, mà là sự phát triển liên kết, “cộng hưởng” các giá trị của cá nhân với giá trị của gia đình, giá trị cộng đồng, thành các giá trị của quốc gia - dân tộc. Vì vậy, chiến lược phát triển con người phải thể hiện được sự phát triển của mỗi cá nhân - cá thể trong sự phát triển các giá trị chung của cộng đồng và của cả quốc gia - dân tộc.

(5). Đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện hệ giá trị Việt Nam - tổng hợp của hệ giá trị con người - hệ giá trị văn hoá - hệ giá trị xã hội, trong đó giá trị con người là cốt lõi, đáp ứng với yêu cầu của công cuộc hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Hệ giá trị đó vừa là nền tảng xã hội, vừa là hệ điều tiết phát triển xã hội, đồng thời là sức mạnh nội sinh của sự phát triển. Hệ giá trị đó vừa phát huy cao những giá trị tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với môi trường, điều kiện và yêu cầu của một xã hội hiện đại, đồng thời tiếp thu có chọn lọc, hiệu quả các giá trị nhân văn, tiến bộ và tích cực của các dân tộc, các quốc gia trên thế giới.

Khẳng định tầm quan trọng xây dựng hệ giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo - cầm quyền “tiền phong - đạo đức - văn minh” và của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự trong sạch, vững mạnh, vì dân (như Bác Hồ đã nói), tiêu biểu cho dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, làm "hoa tiêu" định hướng và phát triển hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn mới.

Tập trung cao phát triển những giá trị cốt lõi về con người tạo động lực nội sinh cho sự phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới, như: Năng lực đổi mới, sáng tạo; trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân, đề cao dân chủ gắn với ý thức thượng tôn pháp luật; năng lực liên kết, hợp tác và hội nhập...

Khẳng định tiếp tục đẩy mạnh tôn trọng, bảo vệ, phát triển quyền con người, trong quan hệ hữu cơ với quyền công dân đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013; gắn liền thực hiện quyền con người, quyền công dân với lợi ích, trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội, với lợi ích và sự phát triển của đất nước, của dân tộc; phát huy và phát triển những giá trị tích cực, hạn chế và khắc phục những mặt yếu kém. Khẳng định vai trò và tầm quan trọng của tế bào gia đình, và mối quan hệ hữu cơ giữa gia đình - đơn vị - cộng đồng - xã hội trong giáo dục và phát triển con người.

(6). Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, xác định đây là nhân tố cốt lõi phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng với yêu cầu là chủ thể của quá trình phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Tiếp tục quán triệt đầy đủ, sâu sắc và xây dựng đồng bộ cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “cùng với khoa học - công nghệ là động lực then chốt” để phát triển đất nước. Quán triệt sâu sắc, cụ thể hoá, thể chế hoá các quan điểm và đẩy mạnh triển khai đồng bộ, có hiệu quả sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, theo định hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế” đối với từng cấp và bậc học. Xây dựng và triển khai đề án tổng thể về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo với các chương trình đồng bộ mang tính chiến lược dài hạn, có các bước đi và trọng tâm, trọng điểm phù hợp trong từng giai đoạn.

Đẩy mạnh đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức và phương pháp giáo dục - đào tạo theo hướng hiện đại, thích ứng với những bước phát triển mới của kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ và đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số; lấy mục tiêu trung tâm là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện với tư cách là chủ thể quá trình phát triển đất nước hiện đại, nhanh - bền vững trong giai đoạn mới. Tập trung giáo dục - phát triển các giá trị cốt lõi của con người Việt Nam. Đặc biệt chú trọng giáo dục “làm người” ngay từ bậc tiểu học, làm cơ sở hình thành nhân cách bền vững cho các bước phát triển con người tiếp theo.

Đổi mới và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, khung và chuẩn trình độ giáo dục - đào tạo quốc gia. Xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển xã hội học tập. Phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục - đào tạo ở khu vực, tiếp cận với trình độ tiên tiến của quốc tế, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế.

Phải đổi mới căn bản và nâng cao nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo - quản lý các cấp, đội ngũ chuyên gia cao cấp, đội ngũ chuyên viên chuyên nghiệp, đội ngũ doanh nhân hiện đại, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề, đội ngũ chủ hộ nông dân hiện đại…“thực đức - thực tài” đáp ứng với những đòi hỏi và bước phát triển mới của kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là lực lượng chủ đạo trong nhân tố con người tạo động lực để đưa đất nước phát triển nhanh - bền vững.

Xác định nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo là mục tiêu trung tâm, xuyên suốt của sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp và bậc học, đặc biệt thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhân lực trình độ cao. Ưu tiên đầu tư phát triển đào tạo một số ngành, nghề quan trọng, hiện đại, mũi nhọn có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển đất nước; từng bước phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp để đào tạo lại nghề nghiệp cho các lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp và mất việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tác động của việc ứng dụng công nghệ cao và cách mạng công nghiệp 4.0.

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế để tạo động lực phát triển giáo dục - đào tạo hiệu quả, chất lượng. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục - đào tạo gắn với đổi mới cơ chế đầu tư, đổi mới cơ chế, chính sách tài chính nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư; đồng thời hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục - đào tạo; xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Quan tâm thích đáng đến đầu tư cho giáo dục - đào tạo chất lượng cao, trình độ cao và cho vùng khó khăn và đồng bào dân tộc ít người. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục - đào tạo.

Đẩy mạnh đổi mới đồng bộ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý - quản trị nghiệp vụ chuyên môn đối với giáo dục - đào tạo, từng bước thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục - đào tạo; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, khắc phục bệnh thành tích, kiên quyết xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục - đào tạo. Hoàn thiện đồng bộ các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục - đào tạo; hoàn thiện và thực hiện ổn định phương thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, khắc phục một cách căn bản các bất cập hiện nay.

 (7). Hoàn thiện đồng bộ các cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với cách tiếp cận đặt con người vào trung tâm, là chủ thể của quá trình phát triển, hướng tới phát triển con người, do con người, vì con người.

Trong tất cả các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần tiếp cận nhất quán, đồng bộ xác định con người là chủ thể - là động lực - là đích đến của sự phát triển. Xây dựng đồng bộ thể chế, thiết chế, cơ chế, chính sách phát triển con người gắn liền với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường.

Xây dựng và thực thi đồng bộ các thể chế, thiết chế, cơ chế kiểm soát có hiệu quả quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, vô cảm, xa rời dân; đẩy mạnh thực hiện đân chủ trong Đảng, trong Nhà nước, trong hệ thống chính trị, trong xã hội, thực hiện có hiệu quả dân chủ cơ sở. Xác định dân chủ - kỷ cương, thượng tôn pháp luật - trách nhiệm xã hội là một giá trị cốt lõi của phát triển cá nhân mỗi con người, mỗi cộng đồng và của toàn xã hội. Xây dựng môi trường gia đình, đơn vị, cộng đồng, xã hội lành mạnh, tôn vinh, bảo vệ và phát triển những giá trị con người tốt đẹp, đấu tranh và có sức “đề kháng” với những tiêu cực xã hội.

Đẩy mạnh thực hiện các chương trình và chính sách phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đảm bảo công bằng trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển con người, tiếp cận các dịch vụ cơ bản; thực hiện giải pháp chiến lược “nâng đáy” điều kiện cơ bản của cộng đồng, thúc đẩy quá trình tự chủ phát triển của mỗi cá nhân, gia đình gắn với sự phát triển của cả cộng đồng, như Chương giảm nghèo bền vững, Chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh - hiện đại, phát triển đồng bộ hệ thống an sinh xã hội; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và các nhóm xã hội, để “không ai bị bỏ lại phía sau”; nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI), nhất là đối với những đối tượng yếu thế, khu cực phi chính thức, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người.

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình phát triển thể chất và tầm vóc con người Việt Nam, khắc phục tình trạng “thấp còi”, suy dinh dưỡng và cả tình trạng “béo phì” ở trẻ em. Hoàn thiện hệ thống các chính sách phát triển dân số để khắc phục tình trạng mất cân đối giới tính trẻ em khi sinh, tình trạng già hóa dân số nhanh.

Phát triển con người phải được thể hiện trong đời sống hiện thực, trong đó mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi đơn vị, mỗi cộng đồng vừa là chủ thể phát triển vừa là người được thụ hưởng xứng đáng thành quả phát triển của xã hội gắn liền với sự cống hiến của mình./.

(hết)

PGS.TS Trần Quốc Toản

                                     Chuyên gia cao cấp,

                                  Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

 

 

 

 



           [1] Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO): nước công nghiệp (nước công nghiệp mới nổi) có tiêu chí: giá trị gia tăng công nghiệp chế biến, chế tạo (CNCBCT) bình quân đầu người từ 1.000 - 2.500 USD hoặc giá trị CNCBCT chiếm trên 0,5% tổng giá trị CNCBCT toàn cầu; nước công nghiệp phát triển (nước đã công nghiệp hóa) có giá trị gia tăng CNCBCT bình quân đầu người trên 2.500 USD hoặc GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương trên 20.000 USD. Trong khu vực ASEAN, nước công nghiệp phát triển có Malaysia và Singapore, nước công nghiệp có Indonesia và Thái Lan. Giá trị gia tăng CNCBCT bình quân đầu người của Việt Nam ước đến năm 2020 ở mức khoảng 900 USD, dự kiến đến năm 2030 có thể đạt trên 2.000 USD, đã trở thành nước công nghiệp (trong khoảng 1.000 - 2.500 USD).

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết