Thứ Năm, ngày 12 tháng 12 năm 2019

Nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn (phần 1)

Ngày phát hành: 20/10/2019 Lượt xem 342

Cương lĩnh năm 1991 chưa nêu các mối quan hệ lớn. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;… Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí.
Đại hội XII của Đảng điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” bằng mối quan hệ “giữa tuân theo các quy luật của thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa” và bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường”; Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đã phát triển thành mối quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”.
1. Nhận thức về các mối quan hệ lớn
(1) Đảng ta nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ này được xác định theo nguyên tắc: Đổi mới là động lực, là phương thức - Ổn định là điều kiện - Phát triển là mục tiêu. Phải lấy mục tiêu để định hướng đổi mới và ổn định. Vì vậy, trong quá trình thực hiện Cương lĩnh, một mặt Đảng lãnh đạo để thực hiện có hiệu quả hơn từng thành tố đổi mới, ổn định và phát triển; mặt khác, đã chú trọng hơn lãnh đạo giải quyết đồng bộ, hài hòa hơn giữa các thành tố này. 
Tuy nhiên, nhận thức và quan niệm về ổn định vẫn mang nhiều tính chất “ổn định tĩnh”, vẫn mang nặng tính hành chính, quan liêu, áp đặt. Tư duy về phát triển hiện đại, về mô hình phát triển hiện đại chưa được nghiên cứu sâu, có hệ thống để làm làm cơ sở cho việc tiến hành xây dựng và đổi mới mô hình phát triển trên thực tiễn. 
(2) Đảng ta đã có nhận thức ngày càng rõ hơn về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đại hội VI của Đảng mới xác định phải đổi mới từ kinh tế đến đổi mới chính trị. Đại hội VII chủ trương đổi mới kinh tế đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Đại hội VIII xác định: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” . Đến Đại hội XI, Đại hội XII nhấn mạnh phải đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế, tập trung đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế và thể chế chính trị nhằm tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp, làm điều kiện, tiền đề, thúc đẩy nhau phát triển.  
Nội hàm của đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ngày càng được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn. Không còn tư duy tuyệt đối hóa, xơ cứng, máy móc và siêu hình, nhấn mạnh một chiều về vai trò của đổi mới kinh tế hoặc chính trị; tư duy, nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ngày càng đầy đủ hơn, phù hợp với thực tiễn sống động của đời sống kinh tế và đời sống xã hội, mang “hơi thở” của cuộc sống.
Tuy nhiên, nhận thức mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị còn chậm, thậm chí còn có biểu hiện của sự trì trệ ở một số lĩnh vực, khía cạnh, dẫn đến hạn chế sự phát triển đột phá; tính sáng tạo trong việc nhận thức quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị chưa cao. Vẫn còn những biểu hiện thiếu quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể trong việc nhận thức quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đôi khi còn có biểu hiện chính trị hóa một số vấn đề kinh tế cụ thể. 
(3) Nhận rõ thực chất mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan. Các quy luật của kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh...) là khách quan. Định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ quan, nhưng không phải là chủ quan duy ý chí hay giáo điều máy móc. Định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ quan nhưng phải luôn dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Nói rộng ra, đó là mối quan hệ giữa hai bộ phận cốt lõi của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, và cũng chính là hai bộ phận cốt lõi của một hình thái kinh tế - xã hội ra đời ở giai đoạn đầu. Các quy luật của kinh tế thị trường và tính định hướng xã hội chủ nghĩa phải là những thuộc tính bản chất, những yếu tố nội tại bền vững trong mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta, không thể coi nhẹ yếu tố nào. Trong đó, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phải được quán triệt khi vận hành các quy luật, nguyên tắc của thị trường. Ngược lại, khi vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường không được tách rời biệt lập với việc thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường là thực hiện "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đây là mô hình kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh; phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo mức đóng góp lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; Nhà nước quản lý phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế . 
Tuy nhiên, về mặt lý luận cũng còn nhiều khoảng trống cần làm rõ:
Đại hội XII và cả Hội nghị Trung ương 5, khóa XII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Tuy nhiên, từ thực tiễn vận động của nền kinh tế cho thấy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, ngoài các quy luật đặc trưng của của kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu, quy luật lưu thông tiền tệ...), ít ra còn có các quy luật chung rất quan trọng đang hoạt động chi phối sự vận động của mọi nền kinh tế của các quốc gia (bao gồm cả Việt Nam), như: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; quy luật tái sản xuất mở rộng, ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất. Vì thế, nếu chỉ xác định: “...nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường” là chưa đầy đủ.
(4) Nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. có những bước tiến, thể hiện ở những nhận thức cụ thể sau:
Đại hội XI và XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật…”.
Về cơ chế quản lý kinh tế  không ngừng được đổi mới, từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp đến cơ chế quản lý kinh tế gắn với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước góp phần giải phóng và phát huy các tiềm năng trong xã hội. Đại hội XII đã khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục thực hiện đẩy mạnh mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu, huy động có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển”. Đây là sự phát triển mới về nhận thức của Đảng, trong đó xác định rõ nội hàm nước công nghiệp hiện đại thông qua những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế, của xã hội và những tiêu chí phản ánh về chất lượng môi trường. 
Về chế độ phân phối có sự phát triển mới. Đại hội XII xác định: Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội. 
(5) Mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 
Đại hội XII trên cơ sở kế thừa và phát triển nhận thức về mối quan hệ này, đã chỉ rõ: “Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực Nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế-xã hội”. Nghị quyết TW 5, khóa XII, Đảng ta đã nêu yêu cầu: Xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, xung quanh nhận thức về mối quan hệ này cũng còn nhiều điểm cần được làm rõ: như cơ sở khoa học và thực tiễn của mỗi quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội; Cần xác định vai trò, chức năng các thành tố và quan hệ giữa chúng không chỉ phù hợp với kinh tế thị trường, mà là phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường trong từng giai đoạn; kinh tế nhà nước hay Nhà nước là chủ đạo? Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng? Kinh tế nhà nước dẫn dắt hay kinh tế tư nhân dẫn dắt sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Chức năng của xã hội, với tính cách là một thành tố trong mối quan hệ này lại chưa được khẳng định cụ thể, rõ ràng; Cơ chế phối hợp tương tác giữa các thành tố này ra sao nhằm tạo hợp lực cho quá trình phát triển kinh tế thị trường cũng chưa thực sự được làm rõ. 
(6) Quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội luôn rõ ràng, nhất quán và xuyên suốt. Điều này được thể hiện ở chỗ tầm quan trọng và nội dung của mối quan hệ này được phát triển hơn và được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện của Đại hội XI, XII và một số nghị quyết  Trung ương.
Thứ nhất, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là một trong các mối quan hệ lớn được đặt ra cần nắm vững và giải quyết trong quá trình thực hiện các phương hướng phát triển cơ bản nhằm thực hiện thành công các mục tiêu được đặt ra trong Cương lĩnh 2011: “…kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Thứ hai, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển quan điểm: “Kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội” (Cương lĩnh năm 1991) thành “Kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”; phát triển chủ trương “Khuyến khích tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động” (Cương lĩnh năm 1991) thành “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bền vững” và; Phát triển chủ trương “thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo hiểm và trợ cấp xã hội” (Cương lĩnh năm 1991) thành “hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”.
Thứ ba, quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững cũng như đảm bảo quốc phòng, an ninh. Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Ngược lại, không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững nếu trong xã hội không có sự công bằng nhất định, đa số dân chúng sống nghèo khổ, thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, và một bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra ngoài lề xã hội.
Thứ tư, quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cụ thể: “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển” hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới (phát triển bền vững và bao trùm), góp phần làm phong phú và sâu sắc hơn quan điểm về phát triển bền vững, phát triển bao trùm hiện đang được thảo luận nhiều trên thế giới cũng như tính xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đang xây dựng và phát triển.
(7) Đảng ta đặc biệt quan tâm bổ sung, phát triển tư duy lý luận, về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta chỉ rõ: Dựng nước đi đôi với giữ nước. Bảo vệ là điều kiện để xây dựng; xây dựng tạo sức mạnh để bảo vệ, trong bảo vệ có xây dựng, trong xây dựng có bảo vệ, phòng ngừa nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ không chỉ là phòng ngừa mà trước hết phải xây dựng tiềm lực đất nước mạnh lên về mọi mặt. Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiết sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược. Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến.
(8) Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Trong Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế “phải củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Nhận thức của Đảng ngày càng sáng rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh nên hội nhập quốc tế càng mở rộng và đi vào chiều sâu, càng phải kiên quyết bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế chính là xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; các bước đi trong hội nhập quốc tế cần được dự liệu đúng đắn phù hợp với điều kiện thực tế ở bên ngoài và nguồn lực bên trong của đất nước.
Đảng ta coi quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế là tất yếu khách quan, nảy sinh và ngày càng sâu đậm trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước và mở cửa hội nhập với thế giới. Đó là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, phát huy lẫn nhau, vừa thống nhất, thúc đẩy nhau nhưng nếu không xử lý tốt có thể tác động làm hạn chế, kìm hãm lẫn nhau trong việc bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc. 
(9) Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Nhận thức sâu sắc hơn và đầy đủ hơn về nhân dân làm chủ trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước. Chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước là nhân dân. Quyền lực của Đảng cũng như quyền lực nhà nước đều bắt nguồn, ra đời, tồn tại và phát triển từ quyền lực của nhân dân. 
Nhà nước quản lý trong mối quan hệ với Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. 
Nhận thức rõ hơn và đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của các chủ thể trong mối quan hệ. Đảng giữ vị trí, vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội. Thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng thể hiện ở kết quả phát huy vai trò của nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ nhiều hay ít. Nhà nước là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Nhân dân làm chủ bằng Nhà nước và bằng các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của mình và bằng các quyền dân chủ trực tiếp cơ bản của công dân được Hiến pháp và luật quy định.
Tuy nhiên, chưa có sự nhận thức thống nhất và rõ ràng giữa Đảng cầm quyền và Đảng lãnh đạo. Chưa nhận thức đầy đủ và phân biệt rõ ràng giữa lãnh đạo và quản lý. Nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” được ghi nhận trong Cương lĩnh và trong Hiến pháp năm 2013, nhìn chung chưa được nhận thức sâu sắc, đầy đủ và còn có sự khác nhau và lúng túng trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và trong hoạt động lập pháp để thể chế hóa nguyên tắc này.

(còn tiếp)

 

PGS.TS Nguyễn Viết Thông


Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết