Thứ Năm, ngày 12 tháng 12 năm 2019

Quán triệt và xử lý tốt các mối quan hệ lớn (phần 3)

Ngày phát hành: 25/11/2019 Lượt xem 57

6. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Đây là mối quan hệ lớn được Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng nêu ra, yêu cầu phải nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội được xác định là một yếu tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường mà nước ta xây dựng, phát triển. Về nguồn gốc, bản chất, kinh tế, văn hóa, xã hội là thống nhất, là các lĩnh vực hoạt động của con người, gắn với con người, tồn tại, phát triển cùng với sự tồn tại, phát triển của con người, thể hiện bản chất con người. Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phản ánh, thể hiện trình độ phát triển của con người; trong đó, kinh tế là nền tảng, trình độ phát triển kinh tế là cơ sở, điều kiện vật chất cho phát triển văn hóa, xã hội. Văn hóa, xã hội, con người là mục tiêu của phát triển kinh tế, là nguồn lực, động lực cho phát triển kinh tế.

Do sự phát triển của phân công lao động xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội tách biệt thành các lĩnh vực hoạt động riêng biệt, độc lập với nhau. Có người làm kinh tế, có người làm văn hóa, có người hoạt động xã hội. Kinh tế, văn hóa, xã hội, từng lĩnh vực lại có những quy luật vận động, phát triển riêng, không phải khi nào cũng song hành với nhau, bởi kinh tế, nhất là văn hóa, xã hội còn chịu ảnh hưởng, tác động bởi điều kiện sống, những đặc thù riêng của mỗi dân tộc, đất nước. Không phải cứ ở đâu, thời kỳ nào có kinh tế phát triển thì ở đó, thời kỳ đó cũng có văn hóa và xã hội phát triển. Xã hội loài người phân chia thành giai cấp, có giai cấp thống trị và giai cấp bị thống trị, giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, không chỉ làm phát sinh, phát triển các mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong lĩnh vực kinh tế, mà cả trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội và giữa kinh tế với văn hóa, xã hội. Các thành quả phát triển kinh tế, văn hóa trước hết bị chiếm đoạt bởi giai cấp thống trị, là đặc quyền của giai cấp thống trị, làm cho sự tách biệt, mâu thuẫn trong từng lĩnh vực và giữa các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng sâu sắc. Ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước kinh tế kém phát triển, có xu hướng khá phổ biến là tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế, chạy theo mục tiêu phát triển kinh tế mà coi nhẹ, thiếu quan tâm tới các lĩnh vực văn hóa, xã hội; tạo nên sự “tụt hậu” của lĩnh vực văn hóa, xã hội so với kinh tế, làm phát sinh nhiều xung đột, mâu thuẫn trong các lĩnh vực này. Ngày nay, ở những nước kinh tế phát triển trên thế giới, các mâu thuẫn trong lĩnh vực xã hội đã được quan tâm giải quyết cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế đã đạt được và với xu hướng dân chủ ngày càng phát triển trong xã hội. Tuy nhiên, những mâu thuẫn này vẫn chưa được giải quyết một cách cơ bản.

Ở nước ta, từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước ta vẫn luôn coi trọng gắn kết phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; xác định phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, phát triển văn hóa, con người là mục tiêu, nền tảng cho sự phát triển đất nước. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định “xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên quan hệ sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”[1]; trong đó, có cả những đặc trưng về kinh tế, đặc trưng về văn hóa, xã hội. Cương lĩnh xác định 8 phương hướng lớn cần quán triệt và thực hiện tốt để thực hiện được mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó có các phương hướng lớn về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội: “Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”[2]. Trong đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước đòi hỏi phải “kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách” và xem đây là một yếu tố thể hiện tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường; không chỉ quan tâm tới lĩnh vực kinh tế, tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế, “bỏ quên”, “hy sinh” lĩnh vực văn hóa, xã hội; không chờ đến khi kinh tế đạt đến trình độ phát triển cao mới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Tất cả đều hướng tới mục tiêu phục vụ con người, đáp ứng nhu cầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển con người toàn diện.

Với nhận thức và quan điểm đó, cùng với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển kinh tế đất nước, Đảng, Nhà nước chủ trương phải đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần yêu nước, dân chủ, tiến bộ; vừa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu các tinh hoa văn hóa của nhân loại; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo nghề, tạo việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập cho người lao động; đổi mới căn bản, toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; phát triển sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao tầm vóc và thể chất con người Việt Nam. Đảng, Nhà nước chủ trương khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời xóa đói, giảm nghèo bền vững; thực hiện phân phối theo lao động, đóng góp vốn và các yếu tố sản xuất khác, đồng thời thiết lập một hệ thống đa dạng, đa tầng phúc lợi xã hội, an sinh xã hội để thu hẹp khoảng cách thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp trong xã hội, chăm sóc người có công, người có hoàn cảnh khó khăn, để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước.

Trong những năm qua, các chủ trương, quan điểm của Đảng về gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được thể chế thành luật pháp, chính sách của Nhà nước, được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện tích cực, đạt được kết quả tích cực. Nhận thức trong Đảng và trong xã hội về vai trò của văn hóa, xã hội, về phát triển con người, được nâng lên. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế hóa cho phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm. Trên cơ sở kinh tế phát triển, các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, xã hội được nâng lên. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được giữ gìn, kế thừa và khai thác, phát huy có hiệu quả. Đã có một số tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị về các đề tài lịch sử dân tộc, cách mạng và công cuộc đổi mới. Việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng quy tắc ứng xử ở các cơ quan, đơn vị, cộng đồng dân cư, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh, đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống báo chí, thông tin truyền thông, công nghiệp văn hóa, thị trường các sản phẩm văn hóa phát triển nhanh. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng lên, ngày càng phong phú, đa dạng. Một số nét mới trong chuẩn mực đạo đức và nhân cách văn hóa của con người Việt Nam thời kỳ mới dần dần được hình thành. Hợp tác, giao lưu văn hóa với nước ngoài được mở rộng, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế và làm phong phú các sinh hoạt văn hóa của đất nước.

Các hoạt động đào tạo nghề, giới thiệu việc làm được đẩy mạnh, được xã hội hóa với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Thị trường lao động hình thành và phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở mức thấp. Mức tiền công lao động từng bước được nâng lên, điều kiện lao động được cải thiện cùng với sự phát triển kinh tế. Công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, đạt kết quả tích cực, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm đều hàng năm, vượt yêu cầu mà Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc đề ra; hiện nay tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều theo kế hoạch quốc gia và Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc. Xã hội hóa giáo dục đào tạo được đẩy mạnh, phát triển đa dạng các loại hình trường lớp. Cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Cơ sở vật chất trường, lớp học được tăng cường, nhất là với vùng sâu, vùng xa. Chương trình giáo dục được đổi mới, chú trọng phát triển năng lực, phẩm chất của người học, liên thông giữa các cấp học, bậc học. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo được tăng cường. Nhiều cơ sở giáo dục đào tạo quan tâm tiếp cận chương trình theo chuẩn quốc tế. Thực hiện tốt chiến lược dân số; phát triển hệ thống khám, chữa bệnh; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chính sách bảo hiểm y tế cho toàn dân, đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Tuy nhiên, so với những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, kết quả đạt được trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; thực hiện chưa có hiệu quả việc xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Đời sống tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn; khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa vùng sâu, vùng xa với đô thị chưa được rút ngắn. Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại. Môi trường văn hóa còn những biểu hiện thiếu lành mạnh. Tệ nạn xã hội, một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng. Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội còn nhiều hạn chế. Giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng có xu hướng gia tăng. Chưa có chính sách, giải pháp kịp thời giải quyết mâu thuẫn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, an sinh cho con người. Chất lượng giáo dục đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, còn thấp so với yêu cầu. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. Chưa chú ý đúng mức đến giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng làm việc. Chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân còn hạn chế, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa. Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được quản lý chặt chẽ...

Để gắn kết chặt chẽ quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, trong bối cảnh mới, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, cần quan tâm thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

- Nâng cao nhận thức về vai trò nền tảng, động lực phát triển của văn hóa. Tập trung nghiên cứu, xây dựng và thực hiện hệ giá trị và chuẩn mực văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam trong thời kỳ mới. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức tôn trọng pháp luật, trách nhiệm xã hội, nhất là cho thế hệ trẻ; có giải pháp ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi cái xấu, cái ác, các tệ nạn xã hội. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, khắc phục bệnh thành tích, cách làm hình thức; xây dựng môi trường văn hóa trong công sở, doanh nghiệp, trong từng gia đình, cộng đồng dân cư. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và điều kiện hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, các tầng lớp xã hội. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm tự do, dân chủ, nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật trong sáng tạo văn học, nghệ thuật. Phát triển dịch vụ văn hóa, ngành công nghiệp văn hóa. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; ngăn chặn, đề cao sức đề kháng với các sản phẩm văn hóa độc hại thâm nhập từ bên ngoài; tích cực quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.

- Phối hợp, lồng ghép mục tiêu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội vào các chính sách kinh tế; xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa. Huy động đa dạng các nguồn lực cho thực hiện các chính sách xã hội. Đổi mới chính sách lao động, việc làm phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Cải cách chính sách tiền lương phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Thực hiện tốt chính sách người có công; chú trọng phúc lợi xã hội, từng bước bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, học tập, khám chữa bệnh. Phát triển hệ thống an sinh xã hội bao phủ tới mọi tầng lớp xã hội, trợ giúp kịp thời, hiệu quả những người có hoàn cảnh khó khăn. Thực hiện hiệu quả chính sách xóa nghèo bền vững theo chuẩn nghèo đa chiều. Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, các đối tượng xã hội.

- Đẩy mạnh, thực hiện có kết quả nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo; đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo theo hướng hiện đại, đạt các chuẩn mực quốc tế, phát triển con người toàn diện. Nâng cao chất lượng giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống, thể chất, tầm vóc con người Việt Nam. Đa dạng hóa, các nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục, các loại hình đào tạo. Củng cố, nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập, phát triển mạnh đào tạo nghề. Các trường đại học gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học, trở thành các trung tâm nghiên cứu, triển khai, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ. Hoàn thiện các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo ở các cấp học; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục đào tạo. Nâng cao chất lượng dân số, phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng. Nâng cao năng lực phòng, chống dịch, bệnh, chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thể lực và tầm vóc người Việt Nam./.

(hết)

 

PGS.TS Nguyễn Văn Thạo

Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, H, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr.70.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI của Đảng, H, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr.72.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết