Thứ Sáu, ngày 23 tháng 08 năm 2019

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế

Ngày phát hành: 05/08/2019 Lượt xem 69

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra 8 phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Đây là nhiệm vụ xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đòi hỏi phải giải đáp những vấn đề cơ bản sau:

1. Một số vấn đề lý luận chung về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.1. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan. Tính tất yếu khách quan này được quy định bởi đặc điểm của thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Phù hợp với chế độ tư bản chủ nghĩa là nhà nước pháp quyền tư sản - bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản bằng pháp luật tư sản. Phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa nhất định phải là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động bằng pháp luật của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn xuất phát từ đặc điểm, điều kiện lịch sử của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội không phải từ một nước tư bản phát triển mà từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân rồi nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quá trình ấy đòi hỏi phải “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn1. Do vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan của quá trình hoàn thiện Nhà nước dân chủ nhân dân lên Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn thể hiện ở chỗ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là hình thức tối ưu để thực hiện quyền lực nhà nước thuộc nhân dân. Bởi lẽ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phương thức tổ chức dân chủ, quyền lực nhà nước mà theo đó pháp luật là cơ sở cho việc thực hiện dân chủ, thực hiện quyền lực cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể trong xã hội. Hơn nữa, trong thế kỷ XXI này việc xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một yêu cầu mang tính giá trị đặt ra cho các nhà nước; một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó.

1.2. Bản chất và đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Về bản chất, ngay từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1994) khi lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ nhà n­ước pháp quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định bản chất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam: “Tiếp tục xây dựng và từng b­ước hoàn thiện Nhà nư­ớc pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”2. Từ Đại hội IX trở đi, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khảng định bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân ủy quyền cho nhà nước quyền lực của mình. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do nhân dân nghĩa là do nhân dân trực tiếp phổ thông đầu phiếu, hoặc thông qua đại biểu của mình gián tiếp bầu lên cơ quan nhà nước và các đại biểu của mình tham gia quản lý quyền lực nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì nhân dân nghĩa là mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải phục vụ nhân dân, nếu không phục vụ nhân dân, không vì nhân dân thì cần phải được thay đổi.

  Từ bản chất trên của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian qua, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 

Hai là, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam các cơ quan công quyền và công dân bình đẳng về quyền về quyền và nghĩa vụ, quan hệ đồng trách nhiệm; các quyền tự do, dân chủ và lợi ích chính đáng của con người được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng pháp luật.

 Ba là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đề cao vai trò thượng tôn của pháp luật trong quản lý xã hội, trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước.

Bốn là, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, các tổ chức đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện tập trung ở Nhà nước, được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của Nhà nước3.        

1.3. Cơ sở của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một là, cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam  là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””4. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng: (1) Có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; (2) Có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; (3) Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; (4) Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu giải phóng sức sản xuất; (5) Các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường5.

Hai là, cơ sở chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chế độ dân chủ nhất nguyên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Chúng ta đều rõ, bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ nhiều đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, giai cấp nào, sử dụng quyền lực nhà nước bảo vệ lợi ích của ai. Cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam “không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều này ghi rõ trong Hiến Pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[2]

Ba là, cơ sở xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan quyền lực của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa và của  nhân dân lao động. Lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức không khác biệt, không mẫu thuẫn mà thống nhất với lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động khác và của cả dân tộc. Do vậy, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng cần tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí.

1.4. Chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như mọi nhà nước khác đều thực hiện chức năng vốn có của Nhà nước. Đó là chức năng chính trị (giai cấp) và chức năng xã hội. Tuy nhiên, do bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do tình hình, điều kiện mới nên từng chức năng chính trị (giai cấp) và chức năng xã hội của nó cũng như mối quan hệ giữa hai chức năng này cũng có sự thay đổi. Chức năng chính trị hòa quện cùng chức năng xã hội và mở rộng hơn trong các nội dụng kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, v.v.. Chức năng xã hội cũng được mở rộng hơn so với thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nữa, chức năng xã hội ngày càng trở nên quan trọng và chủ yếu. Đồng thời, bảo đảm sự thống nhất giữa tính giai cấp với tính nhân dân và tính xã hội của Nhà nước. Bởi lẽ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Lợi ích của nhân dân thống nhất với lợi ích toàn xã hội. Do vậy, về nguyên tắc tính giai cấp đồng nhất với tính nhân dân và tính xã hội. Cũng vì vậy, thực hiện chức năng giai cấp cũng là thực hiện chức năng bảo vệ nhân dân và thực hiện chức năng xã hội. Đây là điểm khác biệt quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà nước pháp quyền tư sản.

1.5. Cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Khoản 3, Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) ghi rõ: “3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991), với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước được khẳng định. Đến Hội nghị Trung ương tám khoá VII (1995), cơ chế vận hành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được điều chỉnh: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Từ Đại hội XI và Cương lĩnh xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đại hội XII cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được hoàn thiện một bước quan trọng. Quan điểm về sự thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo trong thiết kế mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Khác với cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền tư sản - tam quyền phân lập - cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bởi lẽ, quyền lực nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thống nhất và thuộc về nhân dân. Cho nên, về nguyên tắc và bản chất không chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác. Các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều có mục đích duy nhất là phục vụ nhân dân.

1.6. Nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một là, bảo đảm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là nguyên tắc căn bản không chỉ mang tính “nguyên tắc” được khẳng định từ lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, mà còn là kết quả tổng kết lý luận được rút ra từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Do vậy, bảo đảm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm bảo đảm cho Nhà nước Việt Nam thực sự mang bản chất của giai cấp công nhân; bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Bảo đảm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là cơ sở, điều kiện để bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân. Đồng thời cũng là cơ sở, điều kiện để phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, giúp nhà nước hoàn thành chức năng của mình và giữ vững bản chất xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền.

Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp, gắn với đổi mới đồng bộ hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chúng ta đều rõ, để bảo đảm tính đồng bộ trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúng ta đồng thời phải xây dựng cả lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nếu chỉ một trong ba bộ phận được xây dựng thì sẽ tạo ra sự khập khiễng, không đồng bộ. Khi ấy, hiệu lực quản lý của Nhà nước sẽ không hiệu quả. Hơn nữa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn với đổi mới hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

2. Thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thành tựu:

Một là, chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thay đổi phù hợp với cơ sở kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Quan hệ Nhà nước - công dân, Nhà nước - thị trường, Nhà nước -doanh nghiệp được nhận thức lại và thay đổi từ mang nặng quản lý sang theo hướng Nhà nước kiến tạo, phát triển.

Hai là, tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XII khẳng định: “Quan điểm và thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan trọng và cơ bản”[3]. “Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được quy định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013: … Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn và có những bước tiến trong hoạt động”[4]. “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn và trong tổ chức thực hiện đã có những bước tiến nhất định”[5]. Quốc hội, Chính phủ và cơ quan tư pháp có nhiều đổi mới về tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động, vì vậy hiệu quả hoạt động được nâng lên. Nói khác đi, tổ chức và cơ chế hoạt động của các thiết chế trong bộ máy nhà nước có nhiều đổi mới trong thực hiện chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình[6].

Ba là, hệ thống pháp luật, các đạo luật trong quản lý nhà nước và xã hội ngày càng được coi trọng, được đổi mới, sửa đổi, bổ sung ngày càng đầy đủ, phù hợp hơn, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính tối cao của Hiến pháp được bảo đảm, Hiến pháp giữ vị trí tối thượng trong hệ thống pháp luật, nguyên tắc mọi văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp và không được trái Hiến pháp được tôn trọng. Thể chế pháp luật về kinh tế tiếp tục cải cách sâu rộng. Nhiều văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới[7].  

Bốn là, Quốc hội có những đổi mới quan trọng, hoạt động ngày càng dân chủ, thiết thực, hiệu quả. Chính phủ tiếp tục đổi mới và nâng cao hơn năng lực hành pháp, hoạch định chính sách, quản lý vĩ mô, tổ chức bộ máy của Chính phủ và chính quyền địa phương có những đổi mới tích cực và sắp xếp lại hợp lý hơn. Cải cách hành chính được đẩy mạnh. Các cơ quan tư pháp phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động. Tổ chức bộ máy của Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng oan, sai,v.v..

Hạn chế:

Một là, “chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp”[8]. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước còn chưa thật sự hợp lý. Chưa khắc phục được sự chồng chéo, vướng mắc về  chức năng, nhiệm vụ giữa các thiết chế.

Hai là, “Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế”[9]. Kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước còn bất cập; cải cách hành chính chậm, thiếu đồng bộ; thủ tục hành chính còn phức tạp. Vẫn còn tình trạng văn bản pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn. Một số luật được thông qua và ban hành nhưng chất lượng hạn chế, chưa sát thực tiễn cuộc sống, tính khả thi hạn chế, phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nhiều lần.

 Ba là, hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước pháp quyền ở địa phương còn nhiều hạn chế, vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, oan sai trong hoạt động tư pháp. Cải cách tư pháp còn chậm. Việc thực hành dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức. Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn chưa được tạo lập đầy đủ; khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân còn hạn chế.

Bốn là, tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp còn có những mặt hạn chế. Hiệu quả thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội chưa như mong muốn. Vẫn còn những Hội đồng nhân dân hoạt động có tính chất  hình thức. Bộ máy của Chính phủ chưa thực sự tinh gọn; quản lý liên ngành và quản lý chuyên ngành còn có những hạn chế nhất định. Giữa các bộ, ngành vẫn còn một số nội dung quản lý trùng lặp hoặc phân công không rõ. Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương trên nhiều vấn đề chưa được phân định cụ thể, thiếu rõ ràng, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả chưa cao[10].

3. Phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam      

Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

 Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị nói chung, đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng. Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Các tổ chức của Đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Hai là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Có phát huy được dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mới giải quyết được mối quan hệ Nhà nước - công dân; Nhà nước - thị trường; Nhà nước - xã hội và quan hệ trong nội bộ nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa một cách hiệu quả. Có phát huy được dân chủ xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm được nhà nước không quan liêu, không xa dân, không cồng kềnh, như vậy mới hiệu quả, hiệu lực được. Có phát huy được dân chủ xã hội chủ nghĩa mới phát huy được vai trò của nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc tham gia kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước, góp phần giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, tính tối cao của pháp luật. Thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của nhân dân của công chức nhà nước.

  Ba là, từng bước hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trên cơ sở Hiến pháp 2013, cần từng bước hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả. Phát huy dân chủ tranh luận, phản biện, giám sát, đưa ra các quyết định dưới hình thức luật của Quốc hội. Nghiên cứu làm rõ hơn trách nhiệm của Chủ tịch nước theo yêu cầu Nhà nước pháp quyền. Từng bước kiện toàn tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm tính độc lập của hoạt động tư pháp. Nghiên cứu các cơ chế kiểm soát quyền lực đồng thời với việc tiếp tục duy trì cơ chế giám sát, kiểm tra giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa cơ quan trung ương và địa phương,v.v..

 Bốn là, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đồng bộ hoàn thiện pháp luật về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, an sinh xã hội, an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, đổi mới hoàn thiện quy trình lập pháp theo hướng: chú trọng đến chất lượng và tính khả thi của các dự án luật./.

GS.TS. Trần Văn Phòng

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

 



1 V.I.Lênin (1976):Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ , Mát- xcơ- va; tr.97.

2  Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.55.

3 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016); Nxb CTQG.H.2015; tr.141-143.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng,H.2016; tr.102.

5 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng,H.2016; tr.102-103.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG.H.2011; tr.66.

[2] Xem: Điều 4 Hiến  pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam 2013.

[3] Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016; tr.171.

[4] Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016; tr.171.

[5] Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016; tr.172.

[6] Xem thêm: Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016); Nxb CTQG.H.2015; tr.149.

[7] Như: Bộ Luật dân sự, Luật Quy hoạch, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,... và nhiều đạo luật gắn với các lĩnh vực chuyên biệt (Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Xây dựng...).

[8] Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016; tr.173.

[9] Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016; tr.173.

[10] Xem thêm: Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016); Nxb CTQG.H.2015; tr.154-155.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết