Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, một quy luật có tính nhất quán và xuyên suốt đã được chứng minh qua lịch sử là mỗi bước ngoặt phát triển, mỗi thành tựu có ý nghĩa chiến lược của đất nước đều gắn liền với những quyết sách lớn, kịp thời và đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó không chỉ là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn phản ánh bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược và khả năng nắm bắt, dẫn dắt thực tiễn cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Quyết sách đúng đắn - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Lịch sử 96 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng cho thấy, trong những thời khắc cam go nhất, khi vận mệnh dân tộc đứng trước những thử thách sống còn, Đảng luôn đưa ra những quyết sách mang tính bước ngoặt, mở đường cho sự phát triển và tạo nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử.
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định con đường cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và quyền lợi căn bản của Nhân dân lao động. Quyết sách thành lập Mặt trận Việt Minh, chủ trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 là minh chứng điển hình cho việc nắm bắt thời cơ và đưa ra quyết định chiến lược mang tầm vóc lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những quyết sách lớn của Đảng về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; về kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao; về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đã tạo nên những chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Những thắng lợi đó chính là thành quả trực tiếp của những quyết sách lớn, đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và thực tiễn Việt Nam, được Đảng hoạch định, tổ chức thực hiện bằng bản lĩnh, trí tuệ và sự ủng hộ to lớn của toàn dân tộc.
Đổi mới - quyết sách mang tầm chiến lược mở ra thời kỳ phát triển mới
Sau ngày thống nhất, đất nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức, đặc biệt là khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đây là một quyết sách lớn, có ý nghĩa lịch sử, thể hiện tư duy đổi mới, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và quyết tâm đổi mới vì lợi ích của quốc gia-dân tộc.
Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu, mà là đổi mới tư duy, phương thức và bước đi để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Quyết sách chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế; coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; lấy con người làm trung tâm của sự phát triển… đã tạo ra bước chuyển căn bản trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước.
Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, kinh tế tăng trưởng khá cao trong nhiều năm liền, quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, quy mô nền kinh tế vượt mốc 514 tỷ USD; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó một lần nữa khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo và tầm nhìn chiến lược của quyết sách đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
Hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền - nền tảng cho phát triển bền vững
Cùng với đổi mới kinh tế, Đảng đã sớm xác định yêu cầu hoàn thiện thể chế chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là một quyết sách lớn, có ý nghĩa nền tảng đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đề cao nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý xã hội đã góp phần quan trọng tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Đặc biệt, quyết sách đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, thường xuyên, lâu dài, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ” đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Qua đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao, góp phần giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới.
Một điểm nhấn quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế là quyết sách đổi mới tổ chức chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, gắn với đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã góp phần rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao tính chủ động, linh hoạt của chính quyền cơ sở, đưa các quyết sách của Đảng và Nhà nước nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Song song với đó, cải cách hành chính được Đảng xác định là khâu đột phá trong hoàn thiện thể chế. Nhiều quyết sách lớn về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số đã và đang phát huy hiệu quả; góp phần giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp; nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Hội nhập quốc tế - quyết sách mở rộng không gian phát triển
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ, Đảng đã có những quyết sách kịp thời, đúng đắn về hội nhập quốc tế, chuyển từ tư duy “mở cửa” sang “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”. Đây là một quyết sách lớn, tạo động lực và mở rộng không gian phát triển cho đất nước.
Việc tham gia ngày càng sâu vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều quốc gia, trong đó có các nước lớn, giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn các nguồn lực bên ngoài cho phát triển, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có toàn bộ 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác ngày càng sâu rộng, trong đó có nhiều đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với các nước lớn, các trung tâm kinh tế-chính trị hàng đầu thế giới (số đối tác có quan hệ từ mức Đối tác toàn diện trở lên là 42 nước). Vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao.
Trên bình diện đa phương, Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò chủ động, tích cực tại các diễn đàn quan trọng như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, AIPA, Phong trào Không liên kết… Việt Nam không chỉ tham gia, mà còn đóng góp vào việc định hình các chương trình nghị sự chung về hòa bình, an ninh và phát triển bền vững.
Những thành tựu nổi bật về ngoại giao, kinh tế đối ngoại trong những năm qua cho thấy, quyết sách hội nhập quốc tế của Đảng không chỉ đúng về mặt chiến lược, mà còn được triển khai linh hoạt, phù hợp với lợi ích quốc gia-dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Tầm nhìn chiến lược cho giai đoạn phát triển mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen, Đảng tiếp tục thể hiện vai trò dẫn dắt bằng những quyết sách lớn mang tính chiến lược, lâu dài. Trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn đổi mới và bối cảnh quốc tế, khu vực, Đảng đã xác định mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, có thu nhập cao; nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh gắn với bền vững, dựa trên nền tảng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Việc xác định rõ mục tiêu, lộ trình và động lực phát triển không chỉ phản ánh tầm nhìn xa, tư duy chiến lược, mà còn thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong bài viết “VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG”, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Đại hội XIV của Đảng đã đề ra những định hướng, mục tiêu chiến lược quan trọng cho giai đoạn sắp tới, đặc biệt là quyết tâm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Trách nhiệm lịch sử đặt lên vai toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là phải hiện thực hóa những mục tiêu, khát vọng đó thành hiện thực sinh động. Mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên - nhất là người đứng đầu - cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Toàn Đảng phải tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách quyết liệt, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương; nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; củng cố mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để kiểm soát quyền lực và chỉnh đốn đội ngũ. Đồng thời, toàn hệ thống chính trị phải vào cuộc đồng bộ, phát huy hiệu quả để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi người dân Việt Nam.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Gần một thế kỷ ra đời, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta đã thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Chặng đường phía trước sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm của Đảng cầm quyền, với truyền thống anh hùng và tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi trở ngại, tranh thủ thời cơ, tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục chung sức đồng lòng, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong thời đại mới. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, chúng ta vững bước tiến lên, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể khẳng định rằng: mỗi thành tựu lớn của đất nước đều bắt nguồn từ những quyết sách lớn, đúng đắn và kịp thời của Đảng. Trong bối cảnh mới, vai trò dẫn dắt của Đảng càng có ý nghĩa quyết định. Tiếp nối truyền thống vẻ vang 96 năm qua, với bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược và tinh thần đổi mới không ngừng, Đảng tiếp tục là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển ổn định, lâu dài của đất nước, đáp ứng niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân./.
Theo TTXVN