Thứ Bảy, ngày 31 tháng 01 năm 2026

Nhận thức về các trụ cột chủ yếu phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới

Ngày phát hành: 31/01/2026 Lượt xem 28

                               

                                             

Trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh phải phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, giá trị văn hóa, gắn liền với xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa. Văn hóa chứa đựng rất đa dạng về nội dung, hình thức và lĩnh vực phát triển; ngoài những nguyên tắc chung, mỗi lĩnh vực văn hóa có nội dung và cơ chế phát triển đặc trưng riêng của mình. Trong sự phát triển đa dạng của các nền văn hóa đều hướng tới xây dựng các trụ cột chủ yếu của một nền văn hóa.

 

Sức sống lâu bền và sự phát triển của một nền văn hóa (được thể hiện quy tụ ở các giá trị văn hóa) phải dựa trên những trụ cột văn hóa mang tính nền tảng, các trụ cột này phải được (và tất yếu) dựa trên sự phát triển của của nền sản xuất xã hội và đời sống xã hội, thể hiện bản chất của nền văn hóa đó. Trụ cột phát triển văn hóa được hiểu là một (hay tập hợp một số) lĩnh vực văn hóa cùng hướng tới sự phát triển một tập hợp các giá trị văn hóa tương đồng, hay tương quan mật thiết với nhau. Trên thực tế có thể có nhiều cách xác định các trụ cột văn hóa khác nhau.

 

Từ cách tiếp cận đã chọn, nhận thức về sự phát triển nền văn hóa, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, được thể hiện quy tụ ở các trụ cột chủ yếu. Bài viết này góp phần làm rõ hơn nội dung các trụ cột phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

 

 

I. Nhận thức về các trị cột chủ yếu phát triển văn hóa

 

1 - Phát triển đời sống văn hóa - lối sống văn hóa

 

Trụ cột đời sống - lối sống văn hóa là trụ cột mang tính nền tảng cơ bản của một nền văn hóa, của một đất nước; thể hiện các giá trị cốt lõi của một nền văn hóa trong quá trình phát triển được “tích tụ” lại trở thành giá trị sống thường nhật, giá trị nội tại bên trong của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, của tất cả các chủ thể, các tổ chức, đơn vị trong xã hội, quy tụ thành giá trị của một quốc gia - dân tộc.

 

Đây vừa là hệ quả, vừa là một phương thức thể hiện của nền sản xuất xã hội, các quan hệ xã hội, vừa là động lực phát triển của nền sản xuất xã hội, và các quan hệ xã hội ; thể hiện giá trị xã hội, giá trị văn hóa, giá trị con người, trình độ phát triển của một xã hội với những đặc điểm dân tộc. Đó không phải chỉ là lối sống sinh hoạt, các quan hệ xã hội, mà còn là toàn bộ các giá trị - chuẩn mực - quy tắc trong quan hệ lao động sản xuất xã hội (cả quan hệ sản xuất và quan hệ phân phối và tiêu dùng) và trong thể chế phát triển xã hội.

 

Như vậy bản chất của đời sống văn hóa - lối sống văn hóa thể hiện những giá trị con người, giá trị xã hội hình thành trong quá trình sản xuất và trong các quan hệ xã hội. Đó còn là tình yêu và ý thức trách nhiệm trong lao động, tính kỷ luật và tác phong lao động, tính khoa học trong lao động, tính hiệu quả trong lao động, tính cộng đồng và hợp tác trong lao động, năng lực đổi mới và sáng tạo trong lao động; Đó là những giá trị về quyền con người, quyền công dân, những lợi ích chính đáng của con người được thừa nhận và tôn vinh, là tình yêu quê hương - đất nước, là ý thức dân tộc, là lối sống kỷ cương nhưng đầy nhân văn và sự chia sẻ không chỉ giữa con người với con người, với cộng đồng và trong xã hội , mà còn là trách nhiệm giữa Nhà nước với con người và với xã hội, và ngược lại.

 

Đó còn là những giá trị hiện thực của nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, trong đó Nhà nước tôn trọng, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng và nhân phẩm con người, phát huy những giá trị con người và giá trị công dân, còn mọi người dân và mọi tổ chức trong xã hội phải tôn trọng, sống và làm việc theo pháp luật; đó còn là những giá trị phi chính thức (phi quan phương) nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của con người, gia đình, cộng đồng và xã hội (cả về phương diện tích cực và tiêu cực), mà nếu thiếu chúng xã hội sẽ phát triển dường như “không có hồn”. Tất cả những giá trị trên được “sinh thành”, phát triển, sàng lọc, cô đúc, tái sinh, nảy nở những giá trị mới ở tầm cao hơn cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất, xã hội hóa nền sản xuất và sự phát triển của toàn xã hội. Những giá trị văn hóa, giá trị xã hội, giá trị con người trong xã hội thường đa diện, đa chiều, đa tầng, là những giá trị mang tính tương tác “có đi có lại”, hỗ trợ lẫn nhau giữa những con người, các đơn vị xã hội, xã hội và Nhà nước, tạo nên những giá trị đặc trưng diện mạo văn hóa của một dân tộc.

 

Trong mỗi bước phát triển của nền sản xuất xã hội, trình độ của lực lượng sản xuất, đều tạo ra điều kiện đòi hỏi phải thay đổi và phát triển cách sống, lối sống, giá trị con người, gía trị văn hóa tương thích với nó, đồng thời cũng chính quá trình phát triển nền sản xuất xã hội lại tạo cơ sở vật chất và môi trường xã hội để hình thành và phát triển các giá trị mới, loại bỏ các giá trị lỗi thời. Có thể nói, điểm quy tụ cao nhất, sâu nhất, đặc trưng nhất và bền vững nhất của phát triển văn hóa là hình thành được những giá trị con người, giá trị xã hội trở thành lối sống, lẽ sống, nhân cách, lý tưởng sống, ý thức lao động, trách nhiệm đối với gia đình, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm đối với đất nước…trong đời sống thường nhật và trong lao động sản xuất của mỗi con người, mỗi đơn vị, cũng như toàn xã hội, phù hợp với mỗi bước phát triển của xã hội; đồng thời Nhà nước với tư cách là một thiết chế xã hội cao nhất phải là “bà đỡ” cả về mặt pháp lý, cả về mặt thể chế, cả về mặt cơ sở vật chất và trách nhiệm xã hội để đảm bảo cho nền văn hóa đó phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế và xã hội, mà trung tâm là con người.

 

 

Chính vì vậy, việc xây dựng, hình thành và phát triển đời sống văn hóa - lối sống văn hóa tốt đẹp trở thành những giá trị phổ quát, bền vững, “chi phối”, “điều chỉnh”, “định hướng” sự phát triển của một dân tộc, của một cộng đồng, của mỗi đơn vị, mỗi gia đình và mỗi con người là một trong những trụ cột quan trọng nhất của phát triển văn hóa.

 

Một dân tộc, trong những điều kiện nào đó, khi chưa định hình được những giá trị con người, giá trị văn hóa mang tính phổ biến thể hiện thành đời sống - lối sống văn hóa, thì khi đó văn hóa chưa trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Điều này lại càng đặc biệt quan trọng trong những giai đoạn biến đổi mang tính bước ngoặt của một đất nước; khi thay đổi thể chế phát triển, đòi hỏi phải hình thành những giá trị con người mới, giá trị xã hội mới. Như khi nước ta chuyển từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang phát triển theo thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải hình thành những giá trị con người và giá trị xã hội mới phù hợp với thể chế kinh tế thị trường. Nhưng đây lại là quá trình không đơn giản và nhanh chóng, vì những giá trị con người và những giá trị xã hội mới mang tính hiện thực không thể được hình thành từ mong muốn chủ quan, duy ý chí, mang tính lý tưởng; mà nó là sản phẩm “song sinh” của chính quá trình phát triển nền sản xuất xã hội, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là quá trình đấu tranh, chuyển hóa, đào thải, phát triển giữa các giá trị mới với các giá trị cũ, giá trị tiên tiến với giá trị lạc hậu, giá trị dân tộc với giá trị quốc tế…. Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận vai trò của nhân tố chủ quan (vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước) trong việc định hướng và tạo lập thể chế, khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách …cho sự hình thành và phát triển các giá trị con người, giá trị xã hội thích ứng với đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới. Chính nhân tố lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đóng vai trò trọng yếu, có tính quyết định trong việc xây dựng thể chế (luật pháp, cơ chế, chính sách…) để thúc đẩy phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội đáp ứng với yêu cẩu phát triển mới ; trở thành giá trị sống, giá trị nội tại bên trong của tất các chủ thể, tạo động lực phát triển.

 

2 - Phát triển sáng tạo văn hóa 

 

Trong quá trình phát triển của một nền văn hóa, trong một giai đoạn nhất định, các nội dung, hình thức và các giá trị văn hóa luôn có sự kết nối hữu cơ, đấu tranh, chuyển hóa giữa các giá trị truyền thống với các giá trị chủ đạo hiện tại và với các giá trị tiên tiến sẽ định hướng cho sự phát triển giai đoạn mới (mà hiện thời chưa đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển). Đây không chỉ là quá trình đấu tranh, loại bỏ, chuyển hóa các giá trị văn hóa lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp; mà điều cốt lõi phải là quá trình thúc đấy phát triển sáng tạo văn hóa, tạo ra những giá trị mới, đáp ứng với yêu cầu phát triển cao hơn. Đây là trụ cột thể hiện sức sống sinh động của một nền văn hóa trong quá trình phát triển. Điều quan trọng là cần nhận thức rõ bản chất của sự sáng tạo văn hóa.

 

Sự sáng tạo văn hóa nằm sâu từ trong bản chất của sự sáng tạo trong nền sản xuất xã hội, đời sống xã hội, trong chế ngự tự nhiên, trong đấu tranh… và trong thể chế phát triển xã hội, thông qua những hoạt động của con người, của các chủ thể trong xã hội. Có thể nói rằng không có lao động sản xuất xã hội thì không có sáng tạo văn hóa. Xét theo chiều dài lịch sử phát triển của mỗi dân tộc cũng như của toàn nhân loại, thì về nguyên tắc, trình độ phát triển nền kinh tế - xã hội càng cao thì nền văn hóa càng cao. C.Mark đã nêu một luận điểm rất đáng lưu ý là: Đối với mỗi nền sản xuất, điều quan trọng không phải là sản xuất ra cái gì, mà điều quan trọng là sản xuất như thế nào.

 

Chính điều “sản xuất như thế nào” nói lên trình độ của nền sản xuất, và đó cũng là trình độ của nền văn hóa (cũng có thể gọi là nền văn minh); nó nói lên không chỉ về nền sản xuất đó sản xuất bằng công cụ gì, trình độ công cụ như thế nào, mà còn về phương thức và quan hệ con người trong nền sản xuất đó như thế nào, cách tổ chức của xã hội tạo ra nền sản xuất đó như thế nào. Chính sự sáng tạo trong nền sản xuất xã hội và trong mọi mặt đấu tranh và phát triển của đời sống xã hội đã được “cô đúc” lại thành những giá trị văn hóa (cả vật thể và phi vật thể), giá trị con người, giá trị xã hội tương ứng trình độ của nền sản xuất xã hội đó. Đương nhiên ở đây còn phải chứa đựng những giá trị văn hóa mang đặc điểm của từng dân tộc. Nhưng bản thân những giá trị văn hóa mang đặc điểm dân tộc cũng sẽ thay đổi, vận động, phát triển thích ứng với sự phát triển của trình độ nền sản xuất xã hội. Do đó, việc phát triển một nền kinh tế tiên tiến hiện đại với một thể chế kinh tế thị trường hiện đại - nhân văn bản thân nó đã là sự “cô đúc” những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiên tiến, đồng thời nó lại là điều kiện, tiền đề và môi trường để tiếp tục phát triển sáng tạo văn hóa.

 

 

Cần nói thêm rằng, do nhận thức không đầy đủ về bản chất của văn hóa, bản chất của quá trình sáng tạo văn hóa, nên về sáng tạo văn hóa đã không quan tâm và đề cập sâu sắc đến sáng tạo về công cụ sản xuất (thay thế sức cơ bắp và nâng cao hơn trí tuệ của con người), về sự sáng tạo trong các dịch vụ và sản phẩm mới, về hình thành các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh mới hiệu quả hơn, về hoàn thiện các thể chế thiết chế xã hội dân chủ hơn và hiệu quả hơn, về phát triển các quan hệ xã hội hiện đại hơn. Đó cũng là những nội dung bản chất rất quan trọng của văn hóa được thể hiện thành các giá trị xã hội. Trên thực tế, hiểu về sáng tạo văn hóa thường thiên lệch về theo nghĩa hẹp là sáng tạo trong các các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, trong quan hệ ứng sử xã hội…

 

Trên thực tế, trong lịch sử phát triển của mỗi dân tộc (thậm chí của mỗi vùng), sự phát triển và sáng tạo trong các lĩnh vực văn hóa thường không đều nhau, tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể, những lĩnh vực kinh tế hay lĩnh vực xã hội nào phát triển hơn, chi phối đời sống xã hội mạnh hơn, thì văn hóa về những lĩnh vực đó cũng thường phát triển vượt trội hơn (ví dụ như đất nước phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc, hay phải chống trọi lại với sự khắc nghiệt của thiên nhiên như bão, lũ lụt…thì văn hóa về những lĩnh vực này như lòng yêu nước, ý thức đoàn kết cộng đồng, khoa học nghệ thuật quân sự…cũng có sự phát triển nổi trội hơn các lĩnh vực khác). Vì thế có thể sẽ là sai lầm, không thỏa đáng khi lấy sự phát triển văn hóa về một lĩnh vực cụ thể nào đó để khái quát chung cho tất cả các lĩnh vực khác, mà không nhìn sâu vào trong bản chất văn hóa thể hiện trình độ của nền sản xuất - tổ chức đời sống xã hội.

 

Cần nhận thức đầy đủ rằng trong quá trình phát triển sáng tạo văn hóa, có sáng tạo văn hóa quần chúng, có sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp (ở đây không dùng khái niệm văn hóa “đỉnh cao”, hay “văn hóa bác học” vì trong cả sáng tạo văn hóa quần chúng và trong sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp đều có thể có những giá trị đỉnh cao, đồng thời cũng có cả những giá trị bình thường). Cả hai loại hình sáng tạo văn hóa này không thể coi nhẹ loại hình nào, không thể lấy loại hình này thay thế loại hình kia. Có thể coi đó như là “cặp song sinh” của một nền văn hóa.

 

Nhận thức và sự phát triển thiên lệch một trong hai loại hình sáng tạo đều dẫn đến sự suy yếu sức mạnh và sự liên kết “cộng sinh” của văn hóa. Sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp có vai trò rất quan trọng tạo nên những sản phẩm văn hóa “đỉnh cao”, quy mô lớn. Song nếu chỉ chú trọng phát triển văn hóa chuyên nghiệp, thì văn hóa đó có thể sẽ dần xa rời tuyệt đại đa số những người lao động bình thường, “biến” họ thành những người được “thụ hưởng” những giá trị văn hóa do người khác mang lại cho thông qua “đọc, nghe, nhìn, xem” - có thể gọi đó là “văn hóa cho”. Còn phần văn hóa trở thành “của họ” - có thể gọi là “văn hóa của” trong đó sẽ rất ít và dễ qua đi.

 

Đối với đa số nhân dân lao động, văn hóa không phải đơn giản như chiếc vé đi xem biểu diễn mà người ta mang đến biếu, mà nó chính là cuộc sống lao động của họ, là miếng cơm manh áo của họ, là những nỗi lo toan thường nhật của họ, là niềm vui, nỗi buồn và hạnh phúc của họ. Sáng tạo văn hóa quần chúng có thể nói đó là văn hóa “của chính họ”, do chính họ là chủ thể sáng tạo từ chính cuộc sống của họ và quay trở lại phục vụ chính họ, nó phản ánh không chỉ hiện thực đời sống của họ mà còn phản ánh ý chí, ước mơ, khát vọng của họ, do đó nó thường tạo nên những giá trị sức sống, đời sống, lối sống lâu bền. Từ ngàn xưa, ở đất nước ta, dưới lũy tre làng đã nảy nở, tồn tại, sáng tạo và phát triển những giá trị văn hóa này, tạo nên sức mạnh trường tồn mà một nghìn năm bắc thuộc không thể đồng hóa và tiêu diệt được. Chính vì vậy cả hai loại hình sáng tạo văn hóa phải phát triển cộng sinh với nhau, tạo thành trụ cột sáng tạo văn hóa vững mạnh.

 

 

Có thể liên hệ một cách hình ảnh như ngày nay, có những nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long chế tạo ra những chiếc máy gặt, máy cắt cỏ… rất phù hợp, hiệu quả và giá rẻ, trong khi rất nhiều viện nghiên cứu, trường đại học với nhiều cán bộ khoa học lại chưa chế tạo ra được những máy móc tương tự đáp ứng nhu cầu thiết thực của người nông dân. Vì vậy, sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp phải gắn được với đời sống hiện thực, “sống” bằng hơi thở của đời sống hiện thực, không phải chỉ là sản phẩm để mang đến cho người khác (công chúng, nhất là đông đảo những người lao động) “thụ hưởng”, mà điều quan trọng hơn là phải trở thành các giá trị văn hóa “của họ”. Đó cũng là mục đích cao cả của phát triển sáng tạo văn hóa. Gấn đây, sự ra đời, lan tỏa nhanh chóng trong nước và vươn ra quốc tế như một hiện tượng đặc biệt của MV Bắc Bling (của ca Sỹ Hòa Minzy) - đã thể hiện sinh động về sáng tạo văn hóa, kết nối văn hóa truyền thống với văn hóa hiện đại, giữa sáng tạo văn hóa quần chúng với sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp, giữa “văn hóa cho” và “văn hóa của”, giữa văn hóa và kinh tế… 

 

3 - Phát triển thị trường văn hóa, công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa

 

Nội dung cốt lõi của trụ cột này là kết nối hữu cơ giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế và phát triển xã hội, tạo nên lĩnh vực phát triển mới - kinh tế văn hóa (hay văn hóa kinh tế); trong đó đưa phát triển văn hóa, dịch vụ văn hóa theo “phương thức công nghiệp”, “theo cơ chế thị trường” đặc thù; đồng thời kinh tế trở thành một nội dung, một động lực phát triển văn hóa theo cơ chế thị trường.

 

Đây là một trụ cột, bước phát triển mới, quan trọng của văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt trong điều kiện phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông đa phương tiện và các mạng xã hội. Theo UNESCO “Công nghiệp văn hóa xuất hiện khi các hàng hóa và dịch vụ văn hóa được sản xuất và tái sản xuất, được lưu trữ và phân phối trên dây chuyền công nghiệp và thương mại, tức là trên quy mô lớn, phù hợp với chiến lược kinh tế hơn là phát triển văn hóa”[1]. Công nghiệp văn hóa (CNVH) sản xuất ra những sản phẩm hữu hình hoặc vô hình mang tính nghệ thuật, sáng tạo và có tiềm năng tạo ra thu nhập, của cải thông qua việc khai thác các tài sản văn hóa, sản xuất hàng hóa, dịch vụ dựa trên tri thức. Các lĩnh vực thuộc CNVH có điểm chung là đều vận dụng tính sáng tạo, tri thức văn hóa và sở hữu trí tuệ trên nền tảng công nghệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ với ý nghĩa văn hóa, xã hội[2]. Như vậy, trong quá trình phát triển, các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa “đi vào” kinh tế thị trường, trở thành hàng hóa, dịch vụ có giá trị và giá trị sử dụng lưu thông trên thị trường. Sự phát triển hàng hóa, dịch vụ văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường sẽ có một phổ rất rộng: từ loại được sản xuất và cung ứng theo cơ chế phi lợi nhuận, đến loại được sản xuất và cung ứng hoàn toàn theo cơ chế vì lợi nhuận, đồng thời có những dịch vụ, hàng hóa văn hóa được sản xuất và cung ứng theo cơ chế “bán vì lợi nhuận” (theo nghĩa được bao cấp ở những mức độ khác nhau).

 

Khi đó CNVH trở thành một ngành kinh tế đặc biệt, việc sản xuất và cung ứng các hàng hóa dịch vụ văn hóa, một mặt chịu sự chi phối bởi các quy luật của kinh tế thị trường, mặt khác phải được điều chỉnh bởi các giá trị chính trị, tư tưởng, pháp lý, đạo đức, văn hóa, xã hội, con người theo những chuẩn mực tốt đẹp của một xã hội, của một dân tộc và những giá trị tốt đẹp chung của nhân loại. Công nghiệp văn hóa đã và đang trở thành một ngành rất quan trọng, vì khi được phát triển đúng đắn, nó sẽ không chỉ đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế, mà còn góp phần quan trọng vào tạo lập và lan tỏa sức mạnh mềm của một đất nước, làm lan tỏa rộng rãi các giá trị tốt đẹp, góp phần quan trọng vào tạo lập nền tảng tinh thần, nền tảng đạo đức, hệ điều tiết phát triển lành mạnh các giá trị con người, giá trị xã hội - trở thành một nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển đất nước.

 

Phát triển CNVH trở thành một nhiệm vụ trọng yếu của nhiều quốc gia. Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã nhận rõ tầm quan trọng của việc phát triển CNVH. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 (BCHTW Đảng khóa XI, 2014) đã nêu nhiệm vụ phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đi đôi với việc hoàn thiện thị trường dịch vụ văn hoá. Để cụ thể hóa Nghị quyết này, năm 2016, Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nêu phát triển CNVH với 12 lĩnh vực[3]. Sự phát triển CNVH ở Việt Nam trong những năm gần đây có những bước tiến tích cực; song, so với các nước trên thế giới và trong khu vực, chúng ta đã đi chậm hơn trong phát triển các ngành CNVH. Phát triển CNVH đang còn nhiều bất cập cả về nhận thức, quan điểm, cơ chế, chính sách và các giải pháp thực thi, việc huy động và sử dụng các nguồn lực còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao; vì thế vai trò thực tế của CNVH chưa cao.

 

 

4. Xây dựng và phát triển đồng bộ các thiết chế văn hóa

 

Hiện nay, khái niệm thiết chế văn hóa đang còn có những nhận thức khác nhau, có khái niệm rộng, có khải niệm hẹp. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa. Có thể hiểu rằng, thiết chế văn hóa là thuật ngữ dùng để chỉ các cơ quan, đơn vị hoạt động văn hóa do Nhà nước hoặc cộng đồng xã hội lập ra trong khuôn khổ pháp luật hoặc quy chế của ngành, đoàn thể nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của công chúng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương. Thiết chế văn hóa không chỉ đơn thuần là những công trình vật chất cụ thể mà bao hàm trong đó là hệ thống cơ chế, chính sách vận hành; đội ngũ nhân lực làm công tác quản lý, tổ chức; nguồn lực tài chính và các chủ thể hoạt động.

 

Với quan niệm “thiết chế văn hóa” như trên, cho thấy thiết chế văn hóa chỉ bao gồm các cơ quan, đơn vị hoạt động văn hóa do nhà nước hoặc cộng đồng xã hội lập ra. Theo quan niệm này, Thủ tướng Chính phù đã ban hành quyết định[4] phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng đến năm 2030, gồm: (1) - Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phục vụ cộng đồng thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý; (2) - Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phục vụ thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; (3) - Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phục vụ công nhân viên chức, người lao động; (4) - Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở thuộc các Bộ, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang.

 

Quan niệm thiết chế văn hóa như trên cho thấy nhìn nhận trách nhiệm phát triển văn hóa, các giá trị văn hóa chỉ thuộc về các đơn vị hoạt động văn hóa chuyên nghiệp. Quan niệm đó là đúng, nhưng không đầy đủ vì hai lý do chính: Tất cả các chủ thể trong xã hội (từ cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, các tổ chức, đơn vị trong xã hội, kể cả các tổ chức Đảng và nhà nước…) trong mọi hoạt đồng đều chứa đựng các giá trị văn hóa đặc trưng riêng của mình và các gái trị văn hóa đặc trưi).ng chung của cả xã hội; đồng thời mỗi chủ thể, đơn vị trong hoạt động của mình đều có nhiệm vụ gìn giữ, phát triển các giá trị văn hóa của riêng mình, góp phần vào bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa chung. Theo nghĩa này (nghĩa rộng) thì tất các các chủ thể, đơn vị trong xã hội đều được (và cần phải) coi là một thiết chế văn hóa (không chỉ riêng các đơn vị hoạt động văn hóa chuyên trách), có chức năng gìn giữ, đổi mới và phát triển các giá trị văn hóa đặc trưng của mình; tuy chức năng của các loại thiết chế đó có thể có nội dung khác nhau.

 

Hệ thống các thiết chế văn hóa có chức năng cơ bản là tạo điều kiện pháp lý và “môi trường sống” cho các hoạt động văn hóa, các giá trị văn hóa tồn tại và phát triển; điều hòa và phối hợp giữa các chủ thể, các hoạt động văn hóa; giám sát - định hướng - điều chỉnh các hoạt động văn hóa theo những giá trị tốt đẹp đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cá nhân, đơn vị, cộng đồng và của toàn xã hội trong quá trình phát triển.

 

Xét về bản chất cũng như yêu cầu thực tế thì tất các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị xã hội, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, gia đình và các thiết chế khác đều cần và phải coi là một thiết chế văn hóa. Chính ở các “chủ thể” này sẽ nuôi dưỡng và phát triển các giá trị văn hóa chung và các giá trị văn hóa đặc trưng riêng của mình trở thành bản sắc văn hóa tốt đẹp - một nội dung mang tính bản chất của sự phát triển giá trị của các chủ thể (một gia đình, một cơ quan, hay một doanh nghiệp tạo lập được những giá trị và truyền thống văn hóa riêng của mình thì đó là một nguồn lực bền vững cho sự phát triển).

 

Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bản thân các doanh nghiệp là một thiết chế văn hóa; các doanh nghiệp phát triển mạnh, tiên tiến - hiện đại đang chính là các thiết chế tạo lập các giá trị văn hóa lao động - giá trị con người mới (như tính hiệu quả, tính kỷ luật lao động trong các dây truyền sản xuất, tính sáng tạo, tính tự chủ…), giái trị văn hóa doanh nghiệp - văn hóa doanh nhân, văn hóa của nền kinh tế thị trường hiện đại mang giá trị con người, vì con người. Mỗi thương hiệu sản phẩm, hàng hóa đưa ra thị trường đều chứa đựng trong đó các giá trị văn hóa, đạo đức, con người. Các sản phẩm, hàng hóa nổi tiếng trên thị trường, có sự tin tưởng cao của người tiêu dùng, của xã hội vào chất lượng sản phẩm (như sản phầm của Nhật bản…), chứa đựng trong đó các giá trị đạo đức, trách nhiệm, lương tâm của người lao động, của chủ thể sở hữu - quản trị doanh nghiệp, của mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả, có trách nhiệm xã hội cao, của giá trị thể chế nhà nước, của giá trị quốc gia - dân tộc…, mà nền sản xuất nhỏ, trình độ thấp không thể có được.

 

Đặc biệt, trong quá trình phát triển, hệ thống tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đều cần được coi là các thiết chế văn hóa; đặc biệt là vai trò “thiết chế văn hóa” của hệ thống các tổ chức đảng và hệ thống các cơ ausn nhà nước. Các thiết chế này không chỉ có chức năng trọng yếu là định ra đường lối, chủ trương, xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa và lãnh đạo, tổ chức thực hiện trong thự tiễn; mà còn có chức năng cũng rất quan trọng là xây dựng, nuôi dưỡng, phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa của một đảng tiên phong, là “đạo đức, văn minh”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” (Hồ Chí Minh); gắn liền với đó là xây dựng, nuôi dưỡng, phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa của một nhà nước pháp quyền - kiến tạo phát triển “của dân - do dân - vì dân”; làm “hoa tiêu” định hướng phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước nhanh - bền vững.

 

Thực tiễn hiện nay cho thấy, thiết chế văn hóa đóng vai trò quan trọng góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa, các giá trị văn hóa, thể hiện ở các vai trò chủ yếu sau:

 

i). - Các thiết chế văn hóa là chủ thể bảo vệ, gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa, góp phần xây dựng và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng riêng của mình và các giá trị văn hóa chung của xã hội.

 

ii) - Hệ thống thiết chế văn hóa là nơi để tổ chức các hoạt động văn hóa, tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của Đảng và nhà nước.

 

iii) - Các thiết chế văn hóa là nơi trao truyền, quảng bá, lan tỏa những sản phẩm văn hóa, để các thành viên đơn vị, cộng đồng, người dân hưởng thụ các giá trị văn hóa; nuôi dưỡng, phát triển sáng tạo văn hóa.

 

iv) - Hệ thống thiết chế văn hóa có vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; thúc đẩy phát triển các giá trị văn hóa - xã hội lành mạnh, đoàn kết cộng đồng; xây dựng đô thị, nông thôn, cơ quan, đơn vị, cộng đồng văn minh, nghĩa tình, trách nhiệm; tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững.

 

Đảng, Nhà nước ta trong quá trình đổi mới đã luôn quan tâm, ưu tiên dành nguồn lực cần thiết để xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) của Đảng đã xác định: củng cố, xây dựng và hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa, sắp xếp hợp lý các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp và kinh doanh, nâng cấp các đơn vị văn hóa - nghệ thuật trọng điểm, tạo chất lượng mới cho toàn ngành.

 

Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII cũng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Ðảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hóa. Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực văn hóa... Ðổi mới, hoàn thiện các thiết chế văn hóa từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm hiệu quả...”. Chính vì vậy, cần đổi mới nhận thức, phải xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả đồng bộ của hệ thống các thiết chế văn hóa (theo nghĩa rộng); xác định đây là một trụ cột quan trọng đảm bảo cho văn hóa phát triển đúng hướng, trở thành động lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững đất nước.

 

5. Hội nhập quốc tề về văn hóa 

 

Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thì hội nhập quốc tế về văn hóa là một xu thế và yêu cầu khách quan; được triển khai theo cả hai phương thức thị trường và phi thị trường; tuy nhiên phương thức thị trường chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và giá trị ngày càng tăng, với cơ chế ngày càng linh hoạt và hiệu quả cao. Trong đó, công nghiệp và dịch vụ văn hóa trở thành lực lượng chủ lực trong hội nhập quốc tế về văn hóa; với nội dung cốt lõi là đưa các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc mình hội nhập với thế giới (cả theo phương thức thị trường và phi thị trường, nhưng phương thức thị trường sẽ là chủ yếu); đồng thời “đón nhận” những giá trị văn hóa tốt đẹp, phù hợp của nhân loại (cả theo phương thức thị trường và phi thị trường, nhưng phương thức thị trường sẽ là chủ yếu).

 

Phát triển CNVH, dịch vụ văn hóa gắn liền với hội nhập và hợp tác quốc tế không chỉ trong lĩnh vực văn hóa, mà cả trong lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác mới có được hiệu quả tổng hợp cao. Với tầm quan trọng của phát triển văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển dịch vụ văn hóa, CNVH phải trở thành một trụ cột quan trọng trong giai đoạn mới. Đây là một nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa cơ bản lâu dài.

 

Cần nhận diện rõ tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo đến sự phát triển của con người, văn hóa, xã hội. Các tác động này diễn ra trên tất cả các cấp độ, bình diện và lĩnh vực; trước hết đang làm thay đổi rất mạnh mẽ nền sản xuất xã hội - phương thức sản xuất xã hội - trình độ sản xuất xã hội, mà đó là nền tảng kinh tế - xã hội để tạo nên những giá trị mới về con người, về văn hóa, xã hội. Về mặt khách quan, những tác động đó đưa đến cả những giá trị phát triển tích cực, và những “giá trị” tiêu cực đối với sự phát triển con người, văn hóa và xã hội (ví dụ quá trình số hóa, phát triển trí tuệ nhân tạo, các mạng xã hội có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ xã hội, dân chủ hóa xã hội, năng lực tư duy sáng tạo…; nhưng nó cũng làm thay đổi cấu trúc xã hội, khoảng cách số tăng lên, làm cho quan hệ gia đình bị “lỏng ra”, các giá trị truyền thống có thể bị mai một đi…). Đó là chưa kể đến những lực lượng xấu, phản động sử dụng những thành quả của cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo vào những mục đích phi nhân bản. Chính điều này đang đặt ra cho toàn thế giới và mỗi nước phải xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế, khoa học công nghệ gắn liền với phát triển văn hóa, xã hội. Thể chế hội nhập quốc tế vừa có chức năng bảo vệ, phát huy, lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ra thế giới; vừa tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, phù hợp những giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại; đồng thời phải hình thành cơ chế để hạn chế, loại bỏ, đáu tranh chống lại các tác động tiêu cực, không phù hợp về văn hóa từ bên ngoài.  

 

 

 

II. Những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa

 

1 - Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, cơ chế vận động và phát triển các trụ cột văn hóa

 

Trên thực tế, mỗi trụ cột văn hóa bao quát phát triển các giá trị văn hóa theo những mục tiêu xác định, nội dung xác định, gắn với các chủ thể nhất định, độc lập tương đối với nhau; nhưng các trụ cột liên kết với nhau thành nền văn hóa đặc trưng của một quốc gia - dân tộc.

 

Vì các giá trị văn hóa, giá trị con người luôn có sự vận động và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, đời sống xã hội. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, cuộc cách mạng công nghiệp đang tăng tốc, hội nhập quốc tế ngày càng sâu hơn, tác động sâu sắc đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, giáo dục, KHCN…); đã tác động và đặt ra rất nhiều yêu cầu cao về phát triển con người, các giá trị văn hóa và các giá trị xã hội; đồng thời, chính bản thân sự phát triển của nền văn hóa (các lĩnh vực văn hóa) theo hướng hiện đại cũng tác động sâu sắc đến sự phát triển các lĩnh vực khác.

 

Sự vận động và phát triển của các trụ cột văn hóa luôn có sự tương tác hữu cơ giữa các thành tố cơ bản: Vai trò quản lý của nhà nước; vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa; vai trò của các chủ thể thụ hướng văn hóa; vai trò của cơ chế thị trường. Trong mỗi tru cột văn hóa, do mục tiêu, nội dung, tính chất và cơ chế vận động khác nhau, nên tương quan về trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội của các chủ thể cũng khác nhau giữa các trụ cột. Vì vậy để xây dựng được thể chế phát triển phù hợp, hiệu quả đối với từng trụ cột, cần phải xác định rõ mục tiêu (các giá trị cốt lõi), nội dung, cơ chế vận động và phát triển của các trụ cột văn hóa.

 

2. Phát triển đồng bộ các trụ cột văn hóa

 

Việc quan tâm xây dựng và phát triển đồng bộ các trụ cột văn hóa có thể coi là những nội dung chủ yếu trong định hướng phát triển văn hóa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp nằm trong tổng hòa hình thành và phát triển các giá trị văn hóa mới đáp ứng với đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới. Về tổng thể, các giá trị văn hóa không tồn tại biệt lập nhau, “khu biệt” nhau giũa các trụ cột và giũa các chủ thể trong xã hội, mà luôn có sự tương tác hữu cơ với nhau ở mọi cấp độ. Sự phát triển đồng bộ các trụ cột văn hóa đều cần được thể hiện ở các cấp độ khác nhau:

 

+ Cấp độ quốc gia

 

+ Cấp độ các dân tộc, tộc người

 

+ Cấp độ các cộng đồng dân cư, nơi công cộng

 

+ Cấp độ các tổ chức, đơn vị (công sở, doanh nghiệp, nhà trường…)

 

+ Cấp độ dòng họ, gia đình

 

+ Cấp độ cá nhân

 

Xét trong bản chất, các trụ cột chủ yếu phát triển văn hóa đó đều chứa đựng mối quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế, phát triển chính trị và phát triển xã hội. Xét trong phạm vi một quốc gia, với điều kiện phát triển bình thường không trải qua những đột biến (biến cố), thì một cách tổng quát, có thể nói rằng văn hóa thường phát triển “chậm” hơn kinh tế và tính “bảo thủ” - độ trễ tác động của văn hóa thường cao hơn so với phát triển kinh tế. Có thể nêu một ví dụ mang tính điển hình là vấn đề tai nạn giao thông hiện nay: Đất nước đã đầu tư xây dựng nhiều con đường giao thông tốt hơn, rộng hơn, kể cả những con đường cao tốc hiện đại, phát triển giao thông nông thôn…nhưng tai nạn giao thông vẫn rất nghiêm trọng, đường giao thông càng hiện đại thì khi tai nạn giao thông xẩy ra càng nghiêm trọng; ở đây có vấn đề về văn hóa giao thông không “theo kịp” với phát triển hệ thống giao thông. Điều này thể hiện cả trong pháp luật, cơ chế, chính sách giao thông, cả trong ý thức và văn hóa của những người thực thi công vụ về giao thông, cả trong hiểu biết, ý thức và văn hóa giao thông của những người tham gia giao thông (lái các loại xe và đi bộ). Trong các lĩnh vực khác cũng đều có hiện tượng như vậy.

 

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng về mọi lĩnh vực hiện nay, thì các yếu tố quốc tế hóa (cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và các lĩnh vực khác) sẽ tác động không chỉ “trực tuyến” kinh tế - kinh tế, chính tri - chính trị, văn hóa - văn hóa, mà còn tác động “đan chéo nhau”, “thẩm thấu vào nhau” giữa kinh tế và các lĩnh vực khác với văn hóa, làm cho sự phát triển của cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của một đất nước không còn chỉ “tuần tự” như trong điều kiện bình thường nữa, nó có thể đưa đến những đột biến (xung đột), cộng hưởng (cả tích cực vả tiêu cực) cả trong kinh tế, chính tri và văn hóa, nhất là trong sự tương tác giữa kinh tế và văn hóa; tạo nên những giá trị mới; đặc biệt là dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo đến sự phát triển của văn hóa, xã hội.

 Điều này đỏi hỏi phải nhận thức rõ yêu cầu phát triển các giá trị mới về con người, văn hóa, xã hội, để tạo động lực cho sự phát triển nhanh - bền vững. Cần nhận thức rõ và sâu sắc yêu cầu phát triển các giá trị mới ở tất cả các chủ thể trong xã hội; đặc biệt là vai trò dẫn dắt, định hướng của các giá trị văn hóa của Đảng và Nhà nước đối với toàn xã hội, trên tất cả các cấp độ phát triển văn hóa; để trên cơ sở đó xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế - các thiết chế văn hóa phù hợp, hiệu quả nhằm tạo điều kiện đề hình thành và phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội mới, đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. 

 

3. Phải xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa đồng bộ, phù hợp, hiệu quả

 

Để xây dựng và phát triển đồng bộ các trụ cột phát triển văn hóa, tạo nên nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế, thực sự trở thành động lực nội sinh, “hệ điều tiết” cho sự phát triển nhanh - bền vững đất nước. Điều quan trọng là phải xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa đồng bộ, phù hợp, hiệu quả.

 

Thể chế phát triển văn hóa có những đặc trưng chung của thể chế phát triển, nhưng có những đặc trưng riêng thế hiện bản chất, tính chất, hình thức phát triển văn hóa trong điều kiện KTTT và Hội nhập quốc tế; trong đó cốt lõi là sự chi phối của các giá trị văn hóa không hoàn toàn giống như các giá trị kinh tế, mà nó còn mang các giá trị con người, chính trị, xã hội, đạo đức…Mặc dù, trong điều kiện KTTT và Hội nhập quốc tế, phải phát triển thị trường văn hóa, dịch vụ văn hóa, công nghiệp văn hóa; nhưng không phải tất cả các lĩnh vực văn hóa đều là hàng hóa, đều bị chi phối đầy đủ các quy luật của thị trường; có không ít những lĩnh vực văn hóa không thể “phó mặc” cho cơ chế thị trường, lại có những lĩnh vực cần vận dụng cơ chế thị trường phù hợp, hiệu quả. Vì vậy, cần có nhận thức đúng, đầy đủ, phù hợp về bản chất của phát triển văn hóa hóa trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế; từ đó nhận thức đúng về xây dựng thể chế phát triển văn, trên bình diện chung cũng như trong từng lĩnh vực văn hóa, từng trụ cột văn hóa. Điều quan trọng là Thể chế phát triển văn hóa phải đảm bảo sự đồng bộ hữu cơ giữa các trụ cột văn hóa, gắn liền với sự phát triển của tất các lĩnh vực của đời sống xã hội, để văn hóa trở thành nhân tố bên trong (văn hóa của), nội dung bản chất và sức mạnh nội sinh của mỗi chủ thể, của các cộng đồng, của toàn dân tộc, trong tất cả các lĩnh vực phát triển của đất nước.

 

Phù hợp với quan niệm chung về thể chế phát triển, trên bình diện chung, cũng như đối với từng lĩnh vực văn hóa, thể chế phát triển văn hóa bao gồm đồng bộ ba thành tố, gồm: các chủ thể tham gia (gọi là “người chơi”), các quy định pháp lý cho hoạt động văn hóa (gọi là “luật chơi”) và các lĩnh vực văn hóa (gọi là “sân chơi”). Đặc biệt, trong đó phải chế định rõ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm giải trình của tất cả các chủ thể liên quan; nhất là vai trò của chủ thể Nhà nước và các chủ thể hoạt động văn hóa. Trên cơ sở đó xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển văn hóa phù hợp, hiệu quả.

 

Chính vì vậy, có thể coi thể chế văn hóa như những “giá mang” cho quá trình phát triển văn hóa, hình các gía trị văn hóa, giá trị con người. Một hệ thống thể chế văn hóa phù hợp sẽ tạo được động lực mạnh cho sự phát triển văn hóa lành mạnh và sáng tạo, nhân lên những giá trị tốt đẹp (đó cũng là một động lực nội sinh quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội). Ngược lại, một hệ thống thể chế - thiết chế văn hóa không phù hợp sẽ không chỉ là “lực cản” mà còn là “tác nhân” gây nên sự phát triển lệch lạc, kém hiệu quả, “kích hoạt và lan tỏa” những “giá trị” tiêu cực trong kinh tế, trong đạo đức xã hội và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; “đẩy” những giá trị tốt đẹp vào thế yếu - không được bảo vệ, không được tôn vinh và dần bị băng hoại, trong đó băng hoại về lòng tin vào những giá trị tốt đẹp là một cảnh báo nghiêm trọng, nó làm giảm đi động lực phát triển trong mỗi con người, mỗi đơn vị xã hội, mỗi cộng đồng cũng như trong toàn xã hội.

 

 Trong xã hội hiện nay tình trạng tham nhũng, tiêu cực còn rất nghiêm trọng, tác động xấu đến niềm tin của xã hội; bên cạnh đó lại có những hiện tượng không dám kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đùn đẩy trách nhiệm, “vô cảm” trước quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân…; tình trạng vi phạm pháp luật, không tuân thủ kỷ cương phép nước vẫn còn rất bức xúc. Đó thực sự là những điều rất đáng suy ngẫm về những cơ chế, thiết chế và giải pháp bảo vệ và phát huy những giá trị tốt đẹp, hạn chế và triệt tiêu những “giá trị” tiêu cực. Chính vì vậy việc xây dựng và phát triển một hệ thống thể chế văn hóa đồng bộ phù hợp và hiệu quả là một nhiệm vụ trọng yếu và cấp thiết, vì đó chính là tạo nên mảnh đất để “gieo trồng” và phát triển sáng tạo văn hóa, nuôi dưỡng và phát triển các giá trị tốt đẹp. Nhưng việc xây dựng thể chế phát triển văn hóa không thể chỉ “nhìn” thuần túy từ giác độ văn hóa, không tính tới các mối quan hệ mang tính chế định và tương tác với tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, đặc biệt là với thể chế và trình độ phát triển kinh tế, thể chế và trình độ phát triển xã hội, thể chế quản lý nhà nước.

 

Xây dựng thể chế phát triển văn hóa một mặt phải xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của quá trình phát triển (hiện thực) của đất nước trong tất cả các lĩnh vực, nhằm thúc đẩy hình thành các giá trị con người, giá trị xã hội mới đáp ứng với đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; mặt khác phải tạo được các “rào cản” ngăn chặn, làm suy yếu, triệt tiêu tác động của các “giá trị” cũ không còn phù hợp, các tác động cản trở, tiêu cực…, để các giá trị văn hóa mới thực sự trở thành “nội lực” cơ bản tạo nên tư cách chủ thể phát triển sáng tạo của mỗi con người, mỗi đơn vị, mỗi cộng đồng và của cả dân tộc trong quá trình xây dựng - phát triển - bảo vệ Tổ quốc. Điều này đòi hỏi phải xây dựng thể chế phát triển văn hóa bao hàm đồng bộ cả về phương diện chính trị, tư tưởng, phương diện đạo đức, phương diện pháp lý, phương diện kinh tế, phương diện xã hội, phương diện con người, phương diện khoa học công nghệ, phương diện môi trường sinh thái.

 

 PGS.TS Trần Quốc Toản

                                      TS. Trần Quốc Trung

 

 



[1] UNESCO: Cultural Industries - a challenge for the future of culture, Paris, 1982.

[2] UNESCO: Statistics on cultural industries: Framework for the Elaboration of National Data Capacity Building Projects, Bangkok, 2007,tr.11.

[3] Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Công nghiệp văn hóa được xác định gồm các ngành như: quảng cáo, kiến trúc, phần mềm và các trò chơi giải trí, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, xuất bản, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, truyền hình và phát thanh, du lịch văn hóa.

[4] Quyết định 2164/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng đến năm 2030

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết