Nhà ga Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Ảnh: Sỹ Tuyên/TTXVN
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, hạ tầng được xác định là “mạch máu” của nền kinh tế, giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng và mở rộng không gian phát triển. Trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng ngày 20/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh “đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại”, trong đó “ưu tiên hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng năng lượng, hạ tầng đô thị, hạ tầng viễn thông, đặc biệt là hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu”.
Mạng lưới hạ tầng giao thông quốc gia có bước phát triển vượt bậc
Trong những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia có bước phát triển mạnh mẽ, đồng bộ hơn, nhiều dự án trọng điểm đã hoàn thành vượt tiến độ. Đến hết năm 2025, Việt Nam đã có 3.345 km tuyến chính cao tốc và 458 km nút giao và đường dẫn được đưa vào khai thác; đã hoàn chỉnh đưa vào khai thác 1.701 km đường biển và 1.584 km đường quốc lộ. Tổng năng lực hệ thống cảng biển tăng 1,3 lần so với năm 2020, từ 730 triệu tấn lên 930 triệu tấn. Tổng công suất các cảng hàng không tăng hơn 1,6 lần so với năm 2020, từ 92,4 triệu hành khách lên 155 triệu hành khách trên năm. Nhờ vậy đã góp phần giảm chi phí logistics từ 21% vào năm 2018 đến nay chỉ còn khoảng 17%, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, hệ thống sân bay, các cảng lớn, đường sắt đã và đang được tập trung đầu tư nâng cấp, hoàn thiện như đã hoàn thành nhà ga T2 Nội Bài, nhà ga T3 sân Tân Sơn Nhất; triển khai sân bay Long Thành, sân bay Gia Bình, sân bay Phú Quốc; hệ thống đường sắt quốc gia như đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái; và hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục được triển khai tích cực.
Hạ tầng xây dựng đô thị, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật xã hội phát triển nhanh hơn, đáp ứng tốt hơn với nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Không gian đô thị được mở rộng, hình thành các vùng đô thị hóa, cực tăng trưởng mới. Nhiều khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch dịch vụ được đầu tư tương đối đồng bộ. Hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng, công viên cây xanh được nâng cấp. Các chương trình nhà ở xã hội, nhà ở công nhân được chỉnh trang, tái thiết đô thị được thúc đẩy, từng bước cải thiện điều kiện sống của nhân dân. So với thời điểm năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa đến nay đạt 45%, tăng 5%; dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt 94%, tăng 3%; diện tích nhà ở bình quân đạt 30m2 sàn trên người, tăng 5,6m2. Cả nước đã triển khai hơn 687.000 căn nhà ở xã hội; chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát được 334.200 căn. Đây là các công trình quốc gia đặc biệt, công trình của ý Đảng, lòng dân.
Hoàn thiện hạ tầng năng lượng - Nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn
Lĩnh vực năng lượng phát triển mạnh mẽ, vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô hệ thống điện; an ninh năng lượng quốc gia được bảo đảm, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống (không bao gồm công suất nhập khẩu điện) khoảng 87.600MW, tăng gần 6.400MW so năm 2024.
Trong đó, nguồn điện năng lượng tái tạo (gió, điện mặt trời, sinh khối…) khoảng 24.453MW, chiếm tỷ trọng 27,9%; nhiệt điện than gần 28.100MW, chiếm tỷ trọng 32,1%; thủy điện 24.640MW, chiếm tỷ trọng 28,1%.
Sản lượng điện thương phẩm năm 2025 toàn Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ước đạt 287,9 tỷ kWh. Độ tin cậy cung cấp điện của Tập đoàn và các đơn vị trong năm 2025 tiếp tục được cải thiện, trong đó chỉ số SAIDI toàn Tập đoàn ước thực hiện là 230 phút, vượt mục tiêu kế hoạch đầu năm (233 phút).
Về nguồn điện: Tập đoàn đã khởi công 2 dự án với công suất 1.400MW: Nhà máy Thủy điện Trị An mở rộng, Thủy điện tích năng Bác Ái; hoàn thành phát điện 3 dự án/610,5 MW: Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mở rộng (Tổ máy 1 ngày 19/8/2025, tổ máy 2 ngày 14/11/2025); Điện mặt trời Phước Thái 2 và 3 (150MWp). Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I (1.403MW) đã đốt dầu tổ máy 1 tháng 8/2025, dự kiến hòa lưới quý I/2026; Dự án LNG Quảng Trạch II (1.500MW) đang tổ chức lựa chọn nhà thầu EPC dự kiến khởi công quý I/2026; LNG Quảng Trạch III (1.500MW) EVN đã được chấp thuận làm nhà đầu tư, dự kiến khởi công quý IV/2026.
Về lưới điện, năm 2025, EVN và các đơn vị khởi công 215 dự án, đóng điện 260 dự án lưới điện 110 đến 500kV với tổng quy mô 3.900km đường dây và 27.000MVA trạm biến áp. Trong đó, nổi bật như: Đường dây 500kV Lào Cai-Vĩnh Yên và Trạm biến áp 500kV Lào Cai; đấu nối đồng bộ Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 3; các dự án tăng cường liên kết, nhập khẩu điện (Đường dây 500kV Monsoon-Thạnh Mỹ, Đường dây 220kV Tương Dương-Đô Lương và Đô Lương-Nam Cấm); các dự án giải tỏa thủy điện khu vực Tây Bắc. Hoàn thành vượt tiến độ dự án cấp điện từ lưới điện quốc gia cho Côn Đảo.
Nhờ những nỗ lực bền bỉ đó, đến cuối năm 2025, số xã có điện trên cả nước đạt 100% và số hộ dân được sử dụng điện đạt 99,85%, trong đó số hộ dân nông thôn có điện đạt 99,77%.
Hạ tầng số quốc gia bứt phá mạnh mẽ
Trong kỷ nguyên số, hạ tầng số không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là yếu tố chiến lược, quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong những năm qua, hạ tầng số và năng lực quản trị số được nâng lên rõ rệt và được quốc tế ghi nhận. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã tăng 15 bậc trong Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử năm 2024, xếp thứ 71 trên 193 quốc gia.
Về viễn thông, tốc độ Internet Việt Nam thăng hạng mạnh mẽ thuộc nhóm nước dẫn đầu khu vực và top 10-15 theo đánh giá quốc tế; độ phủ 4G đạt trên 99,8%, 5G hơn 91% dân số, 100% xã, phường có hạ tầng băng rộng cáp quang, độ phủ cáp quang đến từng hộ gia đình đạt 87,6%; tỷ lệ người dùng điện thoại thông minh ước đạt trên 85%.
Năng lực đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp, góp phần nâng vị thế cạnh tranh quốc gia. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp thứ 44 toàn cầu, đồng thời được ghi nhận là một trong 9 quốc gia có thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất thập kỷ qua.
Thủ tục hành chính và dịch vụ công thuận tiện, minh bạch hơn nhờ chuyển đổi số. Giấy tờ giảm, đi lại giảm, thời gian chờ đợi giảm. Đến năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ của các dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt gần 78%; tỷ lệ dịch vụ công có phát sinh hồ sơ trực tuyến đạt gần 84%. Những con số này cho thấy việc giải quyết thủ tục đang dịch chuyển mạnh từ "xếp hàng - chờ đợi" sang môi trường số.
Những con số này cho thấy Việt Nam đã chuyển từ "số hóa" sang “vận hành dựa trên dữ liệu”, với hạ tầng số trở thành nền tảng nâng cao hiệu lực quản trị và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Tiếp tục đột phá mạnh mẽ về hạ tầng đồng bộ, hiện đại
Có thể thấy, nhiệm kỳ 2021-2025, hàng loạt công trình giao thông, năng lượng, logistics, đô thị, y tế, giáo dục và hạ tầng số quy mô lớn, hiện đại, đồng bộ đã và đang được hoàn thành, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, gia tăng giá trị đất đai, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư, từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm kết nối quan trọng của khu vực và thế giới.
Trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng hôm khai mạc 20/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh ba đột phá chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Trong đó, đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại được đặt ngang hàng với hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Điểm nhấn đáng lưu ý là cùng với hạ tầng giao thông, năng lượng, đô thị, Báo cáo đặt trọng tâm vào hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu - nền móng của kinh tế số và quản trị hiện đại: “Ưu tiên hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng năng lượng, hạ tầng đô thị, hạ tầng viễn thông, đặc biệt là hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu”. Điểm mới của Báo cáo nằm ở chỗ: Hạ tầng không chỉ là “đầu tư xây dựng”, mà là “đầu tư để thay đổi cấu trúc tăng trưởng”. Hạ tầng số và dữ liệu được đặt ở vị trí đặc biệt, bởi trong kỷ nguyên mới, dữ liệu không chỉ là tài nguyên, mà là năng lượng mới của phát triển. Không có dữ liệu, không có kinh tế số. Không có hạ tầng số, không có Chính phủ số. Và không có kết nối số, đất nước khó có thể bước nhanh vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Song song đó, phát triển hạ tầng phải gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, tăng cường liên kết vùng. Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý: “mở rộng không gian phát triển theo quy hoạch tổng thể quốc gia, bảo đảm liên kết vùng, liên kết địa phương, kết nối khu vực và toàn cầu”. Điều đó cho thấy: Phát triển không thể là “mạnh ai nấy làm”. Một quốc gia muốn cạnh tranh phải có các hành lang kinh tế, các cực tăng trưởng, các đô thị động lực và các chuỗi kết nối thống nhất. Liên kết chính là cách giảm chi phí logistics, tăng hiệu quả đầu tư, mở rộng thị trường, tạo việc làm và lan tỏa cơ hội phát triển tới mọi vùng miền.
Điều quan trọng hơn cả: Hạ tầng đồng bộ sẽ tạo ra “không gian mới” cho những ngành nghề mới, mô hình mới, đô thị mới, vùng phát triển mới. Hạ tầng không chỉ giúp “đi lại nhanh hơn”, mà giúp đất nước đi xa hơn. Nó tạo lực bật cho nền kinh tế, mở biên cho sáng tạo, và đặt đất nước vào các mạch kết nối lớn của khu vực và thế giới.
Báo cáo xác định rõ ba đột phá chiến lược cần tập trung “làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn”, trong đó nhấn mạnh quan hệ hữu cơ: “Thể chế mở đường; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo không gian và sức bật. Nếu làm đồng bộ, chúng ta sẽ tạo ra "đà" mới và "thế" mới; nếu làm nửa vời, chúng ta sẽ tự đánh mất cơ hội”.
Đất nước ta đang đứng trước thời điểm lịch sử để bước vào kỷ nguyên vươn mình. Thể chế đang dần trở thành “đột phá của đột phá”, nguồn nhân lực trẻ đang khao khát cống hiến và hạ tầng số quốc gia đang bứt phá mạnh mẽ. Tất cả đang chờ đợi các quyết sách đột phá đã được xác định trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng để cộng hưởng, tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.
Theo TTXVN