Tóm tắt
Văn hóa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam phong phú và đa dạng, là nguồn lực to lớn, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế hiện nay. Khẳng định vai trò của văn hóa, nhiều hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa DTTS số đã được thực hiện và đem lại hiệu quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, dưới sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, văn hóa các DTTS vẫn đang có những biến đổi, thậm chí một số giá trị văn hóa có nguy cơ mai một. Trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, nếu biết tận dụng đúng hướng, văn hóa truyền thống của các DTTS không những không bị mai một mà còn có cơ hội tỏa sáng mạnh mẽ hơn.
1. Mở đầu
Văn hóa có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, do cộng động các tộc người sáng tạo, bồi đắp từ trong quá trình dựng nước và giữ nước, là quá trình giao lưu, tiếp thu của nhiều nền văn minh trên thế giới, nó tạo nên một sức sống bền bỉ, mãnh liệt, có sức mạnh lan tỏa, là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực quan trọng để các tộc người và dân tộc Việt Nam tồn tại, phát triển, hội nhập với các nền văn hóa trong khu vực và trên thế giới. Văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, góp phần giữ gìn bản sắc quốc gia, tăng cường đoàn kết và tạo động lực phát triển bền vững. Chính vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS luôn là một nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài được Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong mọi thời kì, là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách, là nhiệm vụ trọng tâm và các chính sách về văn hoá đối với các DTTS luôn được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp, thống nhất trong từng giai đoạn phát triển chung của đất nước.
Không phải ngẫu nhiên mà tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh cần “Quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại”[2], “cần có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội”[3]… bởi đây chính là “nguồn lực nội sinh, là sức mạnh mềm” để Việt Nam phát triển bền vững đất nước, hội nhập.
Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, thời gian qua nhiều giá trị văn hóa của các DTTS có nguy cơ mai một đã được khôi phục và bảo tồn có hiệu quả, nhiều giá trị văn hóa được phát huy, có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn trong đời sống xã hội và bạn bè quốc tế, nhiều giá tri văn hóa truyền thống đã trở thành “nguồn vốn”,“tài sản”,“hàng hóa” để phát triển kinh tế, đa dạng ngành nghề, từng bước xóa đói, giảm nghèo cho người dân nhất là vùng đồng bào DTTS. Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa và đặc biệt là sự lan tỏa của công nghệ số… đã và đang tạo ra nhiều cơ hội, song cũng nhiều thách thức trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đòi hỏi tiếp tục phải có những nghiên cứu thấu đáo, những đánh giá toàn diện… để có những cách thức, định hướng, giải pháp và đầu tư phù hợp mà bối cảnh mới đang đặt ra.
2. Quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến vấn đề văn hóa. Khi đưa ra khái niệm về văn hóa, Người đã nhấn mạnh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[4]. Người cũng từng khẳng định “văn hóa là một mặt trận” và vai trò tiên phong của văn hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiếp thu tư tưởng của Người, trong Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta đã nhấn mạnh: Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) mà người cộng sản sẽ hoạt động.
Khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển, Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước luôn đề cao vai to lớn của văn hoá, coi văn hoá là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng. Kể từ khi Đổi mới đất nước (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống các DTTS. Các quan điểm ấy được thể hiện rõ qua Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 33/NQ-TW, ngày 9/6/2014 Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Kết luận số 76-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Nghị quyết Đại hội XIII (2/2021) của Đảng đã xác định phát triển văn hóa, trong đó bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của vùng đồng bào các DTTS và miền núi là một nhiệm vụ trọng tâm. Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 đã khẳng định“Văn hoá các dân tộc thiểu số là tài sản quý giá góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng mà thống nhất của văn hoá Việt Nam. Giữ gìn bản sắc và sự đa dạng của văn hoá các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chính trị xã hội to lớn của kỷ nguyên toàn cầu hoá…”. Gần đây, quan điểm về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các DTTS được nhìn nhận không chỉ là khía cạnh bảo tồn mà còn là nguồn lực phát triển, tạo công ăn việc làm, đa dạng ngành nghề, xóa đói giảm nghèo, khơi dậy trách nhiệm, sự tự hào văn hóa đối với cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, quảng bá giá trị văn hóa đến bạn bè quốc tế thông qua các hoạt động phát triển du lịch.
Nhiều chủ trương, chính sách quan trọng đã được ban hành, thực hiện đã cho thấy sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy về phát triển văn hóa từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động”, từ “bảo tồn nguyên vẹn”sang “bảo tồn có kế thừa, phát triển”, từ “văn hóa là đối tượng” thành “văn hóa là động lực”, từ văn hóa là “nền tảng tinh thần” của xã hội thành “văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế - chính trị - xã hội”.
Nghị quyết 57- NQ/TW về Đột phát phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 59-NQ/TW về Hội nhập quốc tế toàn diện… do Bộ Chính trị ban hành vào năm 2023…cùng với các Chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030, trong đó Dự án 6 về Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của DTTS gắn với phát triển du lịch; Chương trình xây dựng Nông thôn mới; Chương trình Mục tiêu Quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 – 2030 coi vùng DTTS là vùng ưu tiên trọng điểm.. sẽ là điều kiện, cơ hội để các vùng, các địa phương trong cả nước ... linh hoạt, mở rộng phương thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống để phù hợp và hội nhập sâu rộng hơn với thế giới.

Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, ngày 23/11/2024 quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cộng đồng và cá nhân trong việc bảo vệ, duy trì và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó có nhấn mạnh đến vùng DTTS cùng với việc xác lập loại hình sở hữu di sản và phân cấp quản lý giúp các địa phương chủ động hơn trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của mình. Nghị quyết 66- NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 30/4/2025 về Đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỉ nguyên mới góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các DTTS bởi ác văn bản pháp luật hướng dẫn về phát triển du lịch cộng đồng, du lịch di sản, du lịch văn hóa đã khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc khai thác và phát huy giá trị văn hóa. Pháp luật tạo điều kiện cho việc xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
3. Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số hiện nay
3.1. Kết quả đạt được
Có thể nói, thời gian qua công tác bảo tồn và phát huy các giá tri văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể từng bị mai một hoặc có nguy cơ bị mai một được phục hồi và bảo tồn, nhiều giá trị văn hóa đã phát huy được vai trò để trở thành “nguồn lực, hàng hóa” để phát triển du lịch và “hình thành thị trường du lịch vùng DTTS” với những sản phẩm du dịch đặc sắc, hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước.
Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các DTTS theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, theo thống kê đã có 27/53 DTTS có bộ chữ viết riêng của dân tộc Tày, Thái, Hoa, Khmer, Nùng, Hmông, Gia- rai, Ê- đê, Ba- na, Xơ- đăng, Chăm, Cơ- ho, Mnông... được bảo tồn, truyền dạy trong cộng đồng. Một số ngôn ngữ được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình địa phương như Khmer, Ê -đê, Gia- rai, Ba- na, Chăm, Hmông, Thái, Xơ -đăng, Tày, Hà Nhì, Cơ tu... Một số ngôn ngữ DTTS đã được sử dụng để in các tác phẩm văn nghệ truyền thống, các sáng tác mới... Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện chính sách dạy, học ngôn ngữ DTTS cũng đã được triển khai ở các trường phổ thông và bổ túc văn hoá vùng đồng bào DTTS trong cả nước…Nhiều địa phương đã khảo sát, thống kê, sưu tầm tiếng nói, chữ viết, thư tịch cổ của các dân tộc; biên soạn, xuất bản sách theo tiếng dân tộc. Chẳng hạn như, thời gian qua, nhờ hoạt động bảo tổn văn hóa DTTS được triển khai sâu rộng mà các tỉnh Tây Nguyên đã phát hiện và bảo tồn được nhiều sử thi đang tồn tại trong cộng đồng hoặc thất lạc. Trong đó, tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện được một số khối lượng sử thi lớn nhất nước ta, bao gồm 300 danh mục sử thi của dân tộc Mnông, Ê Đê, đã sưu tầm được 70 sử thi, dịch thành văn bản (song ngữ Việt-Ê Đê và Mnông-Việt), 40 sử thi (trong đó có 7 sử thi Ê Đê, 33 sử thi Mnông). Ngoài ra, ngành văn hóa Đắk Lắk còn sưu tầm được trên 1.000 trang truyện cổ Ê Đê, 3.000 trang truyện cổ Mnông, 1.000 trang lời nói vần Mnông, 1 bộ luật tục Ê Đê- Mnông
Hoạt động kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình của các DTTS Việt Nam được triển khai… Các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh vùng đồng bào DTTS cũng được quan tâm lập hồ sơ khoa học và xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt. Việt Nam đã có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2008); Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2019); Nghệ thuật Xòe Thái được ghi nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2021)…, Nhiều lễ hội truyền thống, trang phục dân tộc, ẩm thực của các DTTS được bảo tồn, phát huy hiệu quả.
Trong thời gian từ năm 2021 đến nay, Dự án 6 thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS số được triển khai có nhiều kết quả đáng ghi nhận về hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các DTTS trong đời sống xã hội. Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch được đẩy mạnh ở hầu hết các địa phương trong các nước, trong đó cộng đồng làm trung tâm... thì nhiều giá trị văn hóa đã được bảo tổn và phát huy hiệu quả rõ rệt hơn trong đời sống xã hội.
Cụ thể
(1) Hỗ trợ đầu tư xây dựng, bảo tồn 48 làng, bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu truyền thống của các DTTS; có 4.409 nhà văn hóa/ khu thể thao tại các thôn, bản vùng đồng bào DTTS&MN được đầu tư xây dựng và hỗ trợ trang thiết bị, tu bổ, tôn tạo[5].
(2) Bảo tồn, phát huy 124 lễ hội truyền thống của các DTTS, chẳng hạn như Tết cơm mới của dân tộc Giáy tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn tại huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang; Tết cơm mới của dân tộc Mường tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Lễ hội cúng bến nước của cộng đồng các dân tộc thiểu số sinh sống bên dòng sông Krông Nô khu vực Tây Nguyên[6].
(3) Tổ chức xây dựng 36 mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS, trong đó: 04 mô hình trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa đặc thù các dân tộc thiểu số; 07 mô hình bảo tồn, phát huy phi vật thể; 14 mô hình xây dựng đời sống văn hóa;
(4) Đẩy mạnh Mô hình kết nối di sản văn hóa phi vật thể “Lễ mừng cơm mới/lúa mới của người Bru Vân Kiều” trong hành trình du lịch di sản Quảng Bình - Quảng Trị; Mô hình kết nối di sản văn hóa phi vật thể “Nghệ thuật Khèn của người Mông” trong hành trình du lịch di sản Hà Giang - Lào Cai; “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên” trong hành trình du lịch di sản Ea Tu; “Lễ hội Chol Chnam Thmay của dân tộc Khmer” trong hành trình di sản Tân Biên - Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
(5) Tổ chức 07 chương trình khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số có dân số ít người;
(6) Hỗ trợ hoạt động cho 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống tại các thôn, bản vùng đồng bào DTTS&MN;
(7) Tổ chức 08 Ngày hội, Liên hoan về các loại hình văn hóa, nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số theo khu vực và toàn quốc, theo từng dân tộc, loại hình nghệ thuật theo Đề án “Tổ chức định kỳ Ngày hội, giao lưu, liên hoan văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào các dân tộc thiểu số theo khu vực và toàn quốc giai đoạn 2021 - 2030”;
(8) Hỗ trợ xây dựng 907 tủ sách cộng đồng cho các xã vùng đồng bào DTTS; 33 chương trình khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của các DTTS có dân số ít người.
(9) Hỗ trợ đầu tư xây dựng 05 mô hình bảo tàng sinh thái nhằm bảo tàng hóa di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng các DTTS ở Bản Ngàm, xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Bản Long Thắng, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Bản Cây Sú, xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; Thôn Bắc Hoa, xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; Thôn Kon Vơng Kia, TT. Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.
Quyết định số 3222/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án Phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam ban hành 31/10/2024 đã có định hướng cụ thể về việc phát huy lợi thế văn hóa, thiên nhiên, di tích, ưu tiên đầu tư cho vùng đồng bào DTTS và miền núi, đa dạng hóa ngành nghề cho cộng đồng cư dân tại chỗ. Đây cũng là nền tảng quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình xóa đói giảm nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Thời gian qua, nhiều địa phương trong cả nước đã đẩy mạnh hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, tạo ra các sản phẩm du lịch gắn với cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái, văn hóa của cộng đồng để tạo nên sức hút cho du lịch ở vùng đồng bào DTTS và miền núi. Với mục tiêu phát triển du lịch gắn với các di sản văn hóa, tổ chức lễ hội trên nguyên tắc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhiều địa phương trong cả nước đã coi khai thác những giá trị văn hóa đậm bản sắc của các dân tộc khác nhau là nguồn lực để hình thành nhiều sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng của từng dân tộc.
Việc bảo tồn kiến trúc nhà truyền thống, tiếng nói, chữ viết, trang phục, phát huy nghề thủ công truyền thống, lễ hội, ẩm thực được đẩy mạnh ở khắp các thôn bản, xây dựng các đội văn nghệ quần phục vụ chương trình biểu diễn, giao lưu với khách du lịch, cùng với việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc sắc dựa trên các giá trị văn hóa đã giúp vùng đồng bào DTTS và miền núi có nhiều thay đổi.
Nhờ phát triển du lịch, nhiều địa phương trong cả nước đã khôi phục nhiều di sản văn hóa công đồng đã từng bị mai một, ít được quan tâm, chú ý, chẳng hạn như nghề làm thuốc của người Dao, nghề thêu dệt thổ cẩm của người Thái, người Mường, người Dao, người Pà Thẻn, người Tà Ôi, người Cơ tu, người Chăm, người Hmông... Hiện nay từ nghề thủ công truyền thống của đồng bào các DTTS, nhiều tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo, có giá trị vật chất và tinh thần như những bộ áo dài, trang phục dạ hội được đem đến các sàn diễn thời trang trong nước, quốc tế có họa tiết hoa văn thổ cẩm. Trong các hoạt động văn hóa, lễ hội trang phục dân tộc được trình diễn, sử dụng thường xuyên, nhiều sản phẩm quà tặng như túi xách, khăn choàng, búp bê… được sáng tạo để bán cho khách du lịch. Một số lễ hội truyền thống bị phai nhạt đã được phục dựng trở lại để bảo tồn và phục vụ khách thăm quan du lịch như lễ hội gội đầu của các cô gái Thái ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Hà Giang, lễ hội đập trống của người Ma Coong huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình…
Du lịch cộng đồng được xác định mô hình tốt nhất để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và sáng tạo ra sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng như du lịch văn hóa tại cộng đồng, du lịch làng nghề, du lịch trải nghiệm cuộc sống của người dân địa phương, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Một số mô hình du lịch cộng đồng được triển khai đã đem lại hiệu quả cao trong phát triển kinh tế, bảo tồn, gìn giữ văn hóa như du lịch cộng đồng người Dao ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ tỉnh Tuyên Quang, du lịch cộng đồng của người Lô Lô ở thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang), du lịch cộng đồng của người Mông ở Sin Suối Hồ, người Dao ở Sì Thầu Chải (xã Tam Đường, tỉnh Lai Châu)..., du lịch cộng đồng người Mông bản Tà Số phường Mộc Châu của tỉnh Sơn La....
Việc tổ chức các sự kiện gắn sản phẩm nông nghiệp với du lịch thông qua hoạt động quảng bá, xúc tiến, xây dựng thương hiệu và trải nghiệm hoạt động nông nghiệp như Ngày hội hái quả, hội chè Cao Nguyên; Ngày hội Xoài; Ngày hội Nhãn, Lễ hội Cà phê… Nhờ có du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, đời sống của người dân ở những nơi này được nâng cao, nhiều hộ gia đình từ việc đơn thuần chỉ làm nông nghiệp nay chuyển sang làm du lịch thông qua các homestay, cung cấp thực phẩm, biểu diễn văn nghệ, bán hàng lưu niệm, làm việc trong các ngành cung ứng dịch vụ du lịch như dịch vụ cho thuê xe máy, xe đạp, lái xe ôm kiêm phiên dịch cho khách du lịch, làm quà tặng các sản phẩm thủ công truyền thống, điều đó đã giúp nhiều hộ gia đình đồng bào DTTS đã có những thay đổi trong sinh kế, xóa đói giảm nghèo, tạo được sự đa dạng trong ngành nghề và phát triển kinh tế -xã hội cho địa phương.

Trong bối cảnh hiên nay, việc sử dụng công nghệ số trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số đã và đang được đặt ra và nó là hoạt động thiết yếu để giúp nhiều giá trị văn hóa được bảo tồn, lưu trữ và quảng bá, lan tỏa một cách rộng rãi. Công nghệ ứng dụng mạnh mẽ trong bảo tồn và phát huy văn hóa DTTS thường qua truyền thông số (mạng xã hội, website, app) để quảng bá, số hóa các giá trị văn hóa, di sản văn hóa (3D scanning, VP/AR) giúp lưu giữ và trải nghiệm, Dữ liệu lơn (Big Data) giúp phân tích xu hướng, AL hỗ trợ dịch thuật, tạo nội dung, nâng cao trải nghiệm du lịch văn hóa, giúp kết nối thế hệ trẻ và tiếp cận công đồng toàn cầu một cách hiệu quả. Có thể nói, những năm qua nhiều giá trị văn hóa của đồng bào các DTTS được truyền thông, quảng bá trên mạng xã hội hội các nền tảng số như văn hóa ẩm thực, trang phục, lễ hội truyền thống, văn hóa văn nghệ dân dân, nghề thủ công truyền thống… Nhiều địa phương đã sử dụng công nghệ trong số hóa và lưu giữ các di sản như dùng máy quét 3D, ảnh vệ tinh để số hóa nhà Rông, cổng làng truyền thống, đồ vật cổ tạo bản sao số; ứng dụng VR/AR cho phép người dùng thăm quan cảnh quan, không gian làng bản, làng cổ, trải nghiệm nghi lễ, lễ hội, mặc trang phục truyền thống ảo... để giúp khách du lịch có những trải nghiệm thú vị với bản sắc văn hóa vùng miền, địa phương, tộc người. Nhiều bảo tàng cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để hình thành các mô hình trải nghiệm bảo tàng số… Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa các DTTS chỉ mới là những bước đi ban đầu và thời gian tới cần tiếp tục được nghiên cứu, đầu tư và đẩy mạnh.
3.2. Một số hạn chế, bất cập và thách thức đang đặt ra
- Công tác bảo tồn ở một số nơi còn thiếu tính hệ thống và bền vững, thực hiện theo phong trào, nguồn nhân lực chuyên môn làm công tác bảo tồn tại cơ sở còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra…và thiếu chiến lược dài hạn cho công tác bảo tồn văn hóa, đặc biệt là thiếu nguồn nhân lực vừa có chuyên môn, nghiệp vụ về bảo tồn văn hóa vừa biết sử dụng khoa học công nghệ.
- Đội ngũ nghệ nhân, những người am hiểu phong tục tập quán, giá trị văn hóa truyền thống ngày càng cao tuổi, trong khi thế hệ trẻ mong muốn học hỏi, kế thừa để thực hành các giá trị văn hóa ngày càng ít.
- Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong hoạt động bảo tồn văn hóa song các tư liệu văn hóa chưa được số hóa một cách đầy đủ, có hệ thống, một phần do nguồn kinh phí chưa đáp ứng hoặc do thiếu nhân lực để thực hiện.
- Việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống vùng DTTS vẫn còn những bất cập, thách thức nhất là việc đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, nhiều nơi vẫn đặt lợi nhuận kinh tế lên trước giá trị văn hóa nên có hiện tượng thương mại hóa văn hóa, sao chép các giá trị văn hóa trong việc xây dựng các sản phẩm du lịch.
- Một số hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa gắn với công nghiệp văn hóa, sáng tạo sản phẩm văn hóa nhưng người thực hiện chúng chưa nắm bắt đầy đủ, đúng đắn về đời sống văn hóa tộc người nên đôi khi trong quá trình sáng tạo làm sai lệch, biến tướng các giá trị văn hóa truyền thống..
- Việc áp dụng công nghệ số trong công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vẫn còn hạn chế.
- Nguy cơ đứt gãy văn hóa có khả năng diễn ra nhanh hơn nhất là ở thế hệ trẻ DTTS tiếp cận với mạng xã hội, Internet, TikTok, YouTube nhiều hơn văn hóa truyền thống. Trong bối cảnh công nghệ số đang được đẩy mạnh, nếu không chủ động và có cách thức quản lý thì hình ảnh về văn hóa dân tộc thiểu số dễ bị trình bày sai lệch trên các nền tảng số.
4. Một vài khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện nay.

Với quan điểm “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, nguồn lực nội sinh và động lực to lớn để phát triển nhanh, bền vững đất nước”[7]. “văn hóa và phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để khơi dậy nguồn sức mạnh mềm lớn lao, hoán chuyển các tài nguyên văn hóa, các giá trị quốc gia, các giá trị văn hóa... làm cho văn hóa không chỉ đặt ngang hàng mà còn thẩm thấu sâu hơn, lan tỏa mạnh hơn, thực sự trở thành hồn cốt của các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội trong suốt quá trình phát triển”[8]. Thời gian tới để nâng cao hơn nữa việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa DTTS cần tập trung vào một số vấn đề cụ thể sau:
Thứ nhất, Tiếp tục đổi mới nhận thức trong công tác hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cần có một cơ chế, chính sách, nguồn lực phù hợp nhằm đáp ứng cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa trong bối cảnh và xu hướng phát triển hiện nay, phù hợp với đặc trưng văn hóa của địa phương, thể chế chính trị của quốc gia.
Thứ hai, các cấp chính quyền địa phương và các DTTS cần nhận thức một cách rõ ràng các giá trị văn hóa truyền thống được coi là bản sắc riêng của mình. Đồng thời tạo được niềm tin và lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phát huy vai trò của chủ thể văn hóa trong công tác lựa chọn các giá trị văn hóa, thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đó, tránh áp đặt trong việc lựa chọn các giá trị văn hóa đối với đồng bào.
Thứ ba, cần tuyên truyền, phổ biến và phát huy hơn nữa các giá trị văn hóa đặc trưng của tộc người trong đời sống hiện nay thông qua nhiều hình thức khác nhau như qua các đời sống sinh hoạt hàng ngày qua các hội diễn, qua trường học, qua phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên các nền tảng số, tuy nhiên cần phải có sự quản trị chặt chẽ các giá trị văn hóa trên các nền tảng số để tránh hiện tượng sai lệch, biến tướng các giá trị văn hóa
Thứ tư, Trong thực hiện các phương thức bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa nhất thiết phải thông qua cơ cấu xã hội của bản làng, phải làm tuần tự, có quy trình, có chọn lựa, tránh bảo tồn đại trà, chắp vá, bảo tồn theo lối giải ngân, bảo tồn để có thành tích, bảo tồn xin tài trợ, có tiền mới bảo tồn...
Thứ năm, gắn kết việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa với phát triển du lich, chú ý lựa chọn những di sản văn hóa tiêu biểu của từng dân tộc để thiết kế thành các Tour du lịch theo kiểu du lịch công đồng, du lịch nghiên cứu với sự kết hợp của người dân, công ty du lịch và nhà quản lý.
Khi bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch, phát triển kinh tế - xã hội cần đảm bảo nguyên tắc (1) Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của đồng bào DTTS gắn với phát triển du lịch phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững và du lịch bền vững. Theo đó, bên cạnh phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào DTTS cần phải chú ý đến bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội; giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn với khai thác các giá trị văn hoá cho du lịch; hài hòa giữa lợi ích của cộng đồng các DTTS với lợi ích nhà nước và của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư; giữa phát triển kinh tế gắn với phát triển du lịch thông qua khai thác bản sắc văn hoá của cộng đồng các DTTS với đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn, trật tự xã hội. (2) Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào DTTS gắn với phát triển du lịch phải góp phần nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần của đồng bào DTTS tại chỗ. Các sản phẩm du lịch, các chương trình văn nghệ, các nghi lễ trình diễn, các sinh hoạt văn hóa của các DTTS phải tôn trọng tính khách quan, chân thực của sắc thái văn hóa các dân tộc, tuyệt đối không “coppy, làm giả, biến tướng” các sinh hoạt văn hóa truyền thống, thương mại hóa, hàng hóa hóa các giá trị văn hóa vì mục đích lợi nhuận thu hút khách du lịch… để phát triển du lịch thời vụ, không để ý đến phát triển bền vững. (3) Bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá gắn với phát triển du lịch cần định vị, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của đồng bào DTTS gắn với phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Thứ sáu, tăng cường chuyển đổi số trong các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa. Trong hoạt động du lịch, cần tăng cường ứng dụng thông tin trong quản lý, liên kết website, Cổng thông tin du lịch, chia sẻ thông tin dữ liệu ngành du lịch giữa các địa phương góp phần gia tăng trải nghiệm của khách thăm quan du lịch, sử dụng tối đa và hiệu quả của công nghệ số.
Thứ bảy, cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về dân tộc học, văn hóa dân tộc, công nghệ số cho những người làm công tác quản lí văn hóa, đồng thời tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực cho cộng đồng, cho người dân trong quá trình làm du lịch, chú trọng việc trang bị kiến thức, kỹ năng, giúp đồng bào DTTS hiểu biết thêm, tự tin hơn để tham gia vào hoạt động du lịch.
5. Kết luận
Văn hóa có một tầm quan trọng trong sự phát triển, được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bởi vậy văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển. Trong bối cảnh hiện nay, các DTTS đang có nhiều cơ hội để lựa chọn các giá trị văn hóa cho mình nhằm phù hợp với điều kiện sống mới, và điều đó cũng là nguyên nhân khiến một số giá trị văn hóa bị mai một, biến đổi. Chính vì vậy, việc nhận diện những vấn đề về biến đổi văn hóa truyền thống của các DTTS, xác định rõ giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống DTTS với phát triển du lịch, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các DTTS đáp ứng với thực tiễn hội nhập của đất nước hiện nay là hết sức cần thiết. Hiện nay, Chuyển đổi số là xu thế tất yếu, là cơ hội vàng để nâng cao hiệu quả bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống. Văn hóa các dân tộc thiểu số của Việt Nam chỉ có thể được gìn giữ bền vững nếu chúng ta kết hợp hài hòa giữa bảo tồn truyền thống và ứng dụng công nghệ hiện đại. Việc phát huy giá trị văn hóa DTTS không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, mà còn là sự chung tay của cộng đồng, nghệ nhân, doanh nghiệp và đặc biệt là thế hệ trẻ. Trong bối cảnh chuyển đổi số, nếu biết tận dụng đúng hướng, văn hóa truyền thống không những không bị mai một mà còn có cơ hội tỏa sáng mạnh mẽ hơn.
PGS. TS. Nguyễn Thị Song Hà[1]
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Thị Song Hà (2020), Quản lí Nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta từ Đổi mới đất nước đến nay, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội.
- Nguyễn Thị Song Hà (2023), Biến đổi trang phục truyền thống các dân tộc thiểusố ở Việt Nam và công tác bảo tồn, phát huy trong đời sống hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, DOI: 10.56794/KHXHVN.7(187).103-110.
- Nguyễn Thị Song Hà (2023), Chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số tháng 7.
- Nguyễn Thi Song Hà (2024), Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước, Tạp chí Lí luận Chính trị, số 555 (5.2024).
[1] Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, email: nguyensongha16@gmail.com
[2]Nguyễn Phú Trọng (2021): “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (tháng 12/2021)
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.I, tr.145.
[4]Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 458.
[5] Gồm 3.220 nhà văn hóa/ khu thể thao được đầu tư xây mới và 1.189 nhà văn hóa/ khu thể thao cấp thôn được tu bổ, tôn tạo.
[6] Địa giới hành chính cấp huyện trước 1.7.2025
[7]Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2021, t.I
[8] Nguyễn Xuân Thắng (2022), báo cáo đề dẫn tại Hội thảo “Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa” do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội khóa XV, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, tỉnh Bắc Ninh tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh, ngày 17/12/2022.