Mở đầu
Phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong bối cảnh mới đã được Đảng và Nhà nước ta chú trọng từ rất sớm bởi vai trò quan trọng của văn hóa trong đời sống và phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân. Các nghị quyết của Đảng luôn đề ra phương hướng rất cụ thể đối với nội dung này và luôn có sự bổ sung, đổi mới để bắt kịp và phù hợp với tình hình thực tế. Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII gắn với đổi mới trong văn hóa, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đảng đã xác định: “ Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” nhấn mạnh quan điểm, mục tiêu: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

Kế thừa những quan điểm, mục tiêu đã được xác định, Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà là sức mạnh nội sinh trực tiếp để phát triển bền vững. Với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa được xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, văn hóa phát triển là kết quả của sự phát triển kinh tế, đồng thời tạo động lực cho kinh tế ngày càng phát triển, văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” và xác định lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mọi người Việt Nam, làm cho văn hóa thấm sâu vào trong toàn bộ đời sống và các hoạt động xã hội. Tựu trung lại, mục tiêu phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện, có đủ sức khỏe, phẩm chất và bản lĩnh để có thể xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ văn hóa truyền thống và xây dựng nền văn hóa mới luôn được đặt ra. Con người Việt Nam không chỉ là nguồn lực mà còn là chủ thể văn hóa, là động lực để có thể phát huy các nguồn lực khác. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, con người trở thành nguồn lực trung tâm, là động lực then chốt. Tuy nhiên, mục tiêu này không dễ được thực hiện mà đang gặp phải những thuận lợi, thách thức trong bối cảnh xã hội thay đổi không ngừng. Bài viết này muốn đề cập đến thực trạng việc xây dựng văn hóa và con người Việt Nam trong thời gian qua và những yếu tố có khả năng tác động đến quá trình xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
1. Thực trạng phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong bối cảnh mới
Khái niệm kỷ nguyên mới:
Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là thời kỳ phát triển giàu mạnh dưới sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại .
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là một trong những nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra tại Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030. Để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hệ giá trị con người Việt Nam đã được một số cơ quan, ban ngành xây dựng với các giá trị chuẩn mực góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, thích ứng được với những tác động của thiên tai, khủng hoảng, dịch bệnh, góp phần nâng cao sức mạnh nội sinh; khắc phục được những hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn suy thoái xã hội, đạo đức hiện nay.
Về văn hóa, trong thời gian qua, chúng ta đã thực hiện được những thành tựu đáng kể: từ khi thực hiện Đổi mới đến nay, chúng ta đã từng bước hoàn thiện các chính sách, pháp luật về văn hóa, đã bổ sung, hoàn thiện, mở rộng và cập nhật, đáp ứng tốt những đòi hỏi mà thực tiễn đặt ra, bảo đảm vai trò định hướng, dẫn dắt công cuộc phát triển văn hóa ở nước ta. Nhiều chính sách về văn hóa, văn nghệ được ban hành. Về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, từ năm 1990 đến nay, có trên 30 văn bản quy phạm pháp luật về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời sửa đổi các điều luật quy định về quyền hạn và trách nhiệm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Năm 2001, Luật Di sản văn hóa đã ra đời và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009 và 2024.
Chúng ta đã bước đầu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đã thành lập được cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và lấy ngày 28/6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam để khẳng định vai trò của gia đình đối với phát triển xã hội. Bên cạnh đó, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam qua các giai đoạn (2012 - 2020; 2022 - 2030) đã đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống trong gia đình, tôn vinh vai trò của gia đình. Ở các trường học, khu dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,...môi trường văn hóa được chú ý tạo dựng, với các phong trào xây dựng văn hóa học đường, văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa nơi công cộng, xây dựng hương ước, quy ước ở các thôn bản, buôn làng, khu dân cư,…dần dần đã hướng người dân tạo ra những thói quen văn hóa từ trong gia đình đến nơi làm việc, học tập, sinh hoạt. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được thực hiện sâu rộng trên khắp cả nước, có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, làng, xã đến các cấp, các ngành. Việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực. Các công trình văn hóa như trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng truyền thống, bảo tàng, công viên văn hóa, sân vận động, tượng đài, quảng trường, các công trình kiến trúc văn hóa, nhà văn hóa tại các khu dân cư, thôn bản,…đã tạo được không gian cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. Việc xây dựng, bồi đắp đạo đức, nhân cách tốt đẹp cho con người được thực hiện trong toàn xã hội qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào xây dựng gương người tốt, việc tốt, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, các phong trào từ thiện, nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa,… tạo nên hiệu ứng xã hội sâu rộng và giá trị nhân văn sâu sắc.
Vai trò của văn hóa trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội đã được quan tâm xây dựng. Văn hóa ngày càng thấm sâu, được nhìn nhận đúng vai trò trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Các khía cạnh văn hóa trong kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, văn hóa trong bệnh viện, trường học, công sở, doanh nghiệp,…được chú trọng. Văn hóa được gắn với rất nhiều lĩnh vực trong xã hội, như văn hóa đọc, văn hóa giao thông, văn hóa đường phố, văn hóa kinh doanh, văn hóa trà, văn hóa miệt vườn, văn hóa học đường,…Văn hóa trong chính trị đã được cả xã hội quan tâm, với các cụm từ “văn hóa trong Đảng”, “văn hóa lãnh đạo”, “văn hóa quản lý”, “văn hóa chính trị”. Việc phổ biến và xây dựng các loại hình văn hóa, như “văn hóa lao động”, “văn hóa sản xuất”, “văn hóa kinh doanh”, “văn hóa doanh nghiệp”, “văn hóa doanh nhân”, văn hóa trong sử dụng dịch vụ, văn hóa trong khai thác tài nguyên thiên nhiên,…đạt được thành công nhất định cả trên phương diện nhận thức và thực hành. Các sản phẩm kinh tế gắn chặt với những giá trị nhân văn, giá trị đạo đức ngày càng xuất hiện nhiều và được xã hội coi trọng. Hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm kinh tế được người dân quan tâm.
Các loại hình văn học, nghệ thuật phát triển đa dạng, phong phú hơn các thời kỳ trước. Sáng tác văn học ngày càng phong phú, đa dạng, phản ánh đời sống văn hóa xã hội theo nhiều chiều cạnh, kịp thời phản ánh những hiện thực mới, sự chuyển động của đời sống xã hội và đất nước. Trong bối cảnh xã hội đương đại, dòng văn học đại chúng, văn học phi hư cấu (tự truyện, hồi ký, du ký, tùy bút, tản văn,…) phát triển. Nghệ thuật biểu diễn dân gian được tôn vinh hơn trước, được coi như đại diện cho bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa vùng, miền và chuyển tải những giá trị truyền thống. Nhiều thể loại nghệ thuật biểu diễn dân gian được ghi danh, được tái tạo, phục hồi và phát triển mạnh trong đời sống hằng ngày, trong các lễ hội dân gian và cả trên các phương tiện truyền thông xã hội. Các câu lạc bộ biểu diễn nghệ thuật quần chúng, đội văn nghệ, hội diễn văn nghệ các cấp huy động được nhiều đối tượng, thành phần tham gia, tạo nên phong trào biểu diễn nghệ thuật sâu và rộng, làm giàu thêm đời sống tinh thần của đông đảo nhân dân. Bên cạnh đó, nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển. Hệ thống các trường đào tạo nghệ thuật biểu diễn được nâng cấp, đội ngũ sáng tác có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.
Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hướng đến các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, một số bộ môn nghệ thuật truyền thống được hồi sinh. Nhiều tác phẩm mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh nhận được giải thưởng cao trong nước và quốc tế, nhiều triển lãm về các loại hình văn hóa, nghệ thuật được tổ chức và thu hút sự quan tâm của công chúng cả trong nước và nước ngoài.
Các thực hành tín ngưỡng, lễ hội phục hồi và phát triển. Theo ước tính, cả nước có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 54 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự . Xu hướng thế tục hóa tín ngưỡng, tôn giáo cũng trở nên phổ biến, thể hiện ở sự thay đổi cách thức thực hành tín ngưỡng, chú trọng đến các hoạt động phục vụ xã hội. Quá trình phục hồi các thực hành tín ngưỡng, cơ sở thờ tự trong những năm gần đây đã góp phần thúc đẩy sự hồi sinh, phát triển của nhiều lễ hội ở Việt Nam, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong văn hóa du lịch. Các di sản văn hóa được bảo tồn và phát huy trên phạm vi rộng. Các hoạt động như phục hồi, trùng tu, tôn tạo, tư liệu hóa, truyền dạy, vinh danh nghệ nhân cũng như hoạt động quảng bá nhằm khai thác, phát huy di sản một cách bền vững được được tiến hành trên phạm vi cả nước. Các chủ thể văn hóa nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết phải bảo tồn di sản và vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế ở địa phương. Việc khai thác nguồn lực di sản văn hóa kéo theo sự phát triển của nhiều yếu tố khác, như kết cấu hạ tầng, dịch vụ, sự mở rộng giao lưu và gia tăng các dòng chảy hàng hóa, lao động,…tạo ra sự phát triển bao trùm và hài hòa. Ngày càng nhiều các cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng sử dụng hiệu quả di sản văn hóa trong kinh doanh, tạo ra nhiều lợi nhuận, đóng góp vào sự phục hồi và phát triển bền vững di sản văn hóa trong xã hội hiện nay.
Các ngành công nghiệp văn hóa đã bước đầu phát triển. Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định 12 lĩnh vực cần thúc đẩy phát triển, bao gồm: quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; du lịch văn hóa.
Việc tăng cường hợp tác quốc tế về văn hóa được đẩy mạnh. Nhà nước có các chính sách hợp tác quốc tế, ngoại giao về văn hóa, hàng loạt hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa của Việt Nam với quy mô khác nhau đã được tổ chức. Nhiều hợp tác về văn hóa với các nước và tổ chức quốc tế, các điều ước quốc tế song phương và đa phương về di sản văn hóa, quyền văn hóa, quyền tác giả,…được ký kết. Nhiều dự án hợp tác giữa nhà nghiên cứu văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý và thực hành văn hóa, nghệ thuật trong nước với các cơ quan, tổ chức văn hóa nước ngoài tại Việt Nam, các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện, tạo cơ hội giao lưu tiếp xúc đa chiều với thế giới, qua đó khẳng định được sự đa dạng, độc đáo, giàu bản sắc của văn hóa Việt Nam cũng như thúc đẩy những sáng tạo văn hóa mới. Xuất khẩu văn hóa của nước ta đã được cải thiện rõ rệt: các đoàn nghệ thuật giao lưu với các nước trên thế giới được tăng cường nhiều hơn, ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam tại các nước được tổ chức sôi nổi hơn. Hợp tác, giao lưu văn hóa giữa các thành phố, các quốc gia được tổ chức thường xuyên hơn. Giao lưu giữa các tổ chức nghệ thuật, các đoàn nghệ thuật ngày càng nhiều. Nhập khẩu văn hóa vào Việt Nam cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có nhiều loại hình văn hóa được nhập khẩu, tập trung chủ yếu là phim ảnh, thời trang, âm nhạc,...từ đó tăng cường tiếp nhận những giá trị văn hóa của thế giới, làm phong phú và giàu có thêm kho tàng văn hóa dân tộc.

Về con người, việc phát huy nhân tố con người là quá trình thực hiện bao gồm nhiều mặt như nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng nguồn lực con người, tạo ra động lực để khơi dậy, kích thích năng lực trí tuệ, bản lĩnh,…Phát huy nhân tố con người cũng chính là tạo cơ hội, điều kiện để sử dụng, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cần thiết để con người thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động và hoạt động sáng tạo nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Con người được coi là trung tâm, động lực của sự phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Con người là chủ thể chính tham gia vào phát triển xã hội, không thể thay thế được. Trong con người có sẵn các nguồn lực của cải, tài chính, sức lao động và trí tuệ. Con người tồn tại trong xã hội nói chung, trong các lĩnh vực cụ thể với nhiều tư cách khác nhau, trong đó, tư cách chủ thể trung tâm là cốt lõi. Con người không phải là chủ thể bị động mà là chủ thể tự do, khai phóng, đổi mới sáng tạo phát triển đất nước. Không có con người thì không thể có xã hội và nhà nước. Xây dựng hệ giá trị con người làm nền tảng cho phát triển con người, phát triển xã hội. Trong hệ giá trị con người thì giá trị tự do, sáng tạo, phẩm giá là giá trị cốt lõi.
Phát triển hài hòa con người Việt Nam thể hiện ở việc phát triển hài hòa phương diện vật chất và tinh thần. Hai phương diện này gắn liền chặt chẽ, tương tác và bổ sung cho nhau, tạo thành con người tổng hòa, chỉnh thể, không thể bị chia cắt.
Phát huy nhân tố con người trong giai đoạn hiện nay là cần phải thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Trong thời đại mới, để thực hiện thành công chiến lược chuyển đổi số thì yếu tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Cần đầu tư chọn lọc được những con người có kỹ năng, ham học hỏi và khả năng thích nghi cao. Ngoài ra, con người trong kỷ nguyên mới cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lòng yêu nước, trung thành với Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc, vì quyền lợi của nhân dân…
2. Một số yếu tố tác động đến việc xây dựng văn hóa và con người Việt Nam trong bối cảnh mới

- Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển có tác động rất mạnh mẽ đến mỗi con người, cộng đồng và nền văn hóa khác nhau. Sự du nhập lối sống, các yếu tố văn hóa từ khắp nơi trên thế giới có thể phá vỡ, biến dạng, làm mai một nhanh chóng các giá trị văn hóa truyền thống, có thể cuốn con người đi theo những xu hướng văn hóa mới lạ mà không phù hợp với truyền thống văn hóa và tập quán sinh hoạt tốt đẹp vốn có. Việc du nhập này có thể đến bằng hai cách: cách tiếp xúc trực tiếp trong qua quá trình di chuyển, học tập, du lịch,…và cách gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Bối cảnh hội nhập có thể mang đến cho chúng ta những cơ hội học hỏi, khám phá và thu nhận tinh hoa văn hóa của các nước trong khu vực và thế giới, làm phong phú thêm văn hóa truyền thống nhưng cũng có thể biến con người trở nên tha hóa, chối bỏ thuần phong mỹ tục được thực hành từ lâu đời, đánh mất bản sắc tộc người và quốc gia dân tộc.
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo ra thách thức đối với việc bảo tồn văn hóa và phát triển con người. Đây là thách thức đối với các nước đang phát triển làm sao để cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thách thức con người trước nguy cơ bị tụt hậu, phải vươn lên nắm bắt kiến thức khoa học công nghệ để theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của thế giới.
- Quá trình giao lưu văn hóa khiến con người có thể được truyền cảm hứng để thay đổi nhận thức và hành động theo chiều hướng tốt, lan tỏa những việc làm có ích cho cộng đồng, cho đất nước nhưng cũng có thể bị lợi dụng để tuyên truyền những thông tin, suy nghĩ, lối sống tiêu cực, không lành mạnh, thậm chí là xuyên tạc, đi ngược với lợi ích của nhân dân, Tổ quốc.
- Trình độ nhận thức và trình độ văn hóa của người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số là không đồng đều dẫn đến việc tiếp nhận, nắm bắt thông tin, chủ trương chính sách gặp nhiều hạn chế.
- Việc thực thi đồng bộ các chính sách liên quan đến các lĩnh vực đời sống khác nhau của chúng ta còn chậm và thiếu, ảnh hưởng đến việc phát triển toàn diện con người Việt Nam. Việc quản lý và định hướng phát triển văn hóa ở một số địa phương, nhất là những địa phương vùng sâu, vùng xa và biên giới còn chưa chu đáo nên việc biến đổi văn hóa, tha hóa trong lối sống của nhân dân vẫn còn tồn tại.
- Việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo ở mỗi gia đình, vùng miền, dân tộc có sự chênh lệch ở khoảng cách lớn. Hệ thống giáo dục ở các địa phương trong thời gian qua chưa đồng bộ gây ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và khả năng nâng cao trình độ cho tất cả các bậc đào tạo. Việc chậm đổi mới phương pháp giảng dạy cũng khiến kết quả đào tạo của chúng ta không hiệu quả và trình độ chung của người Việt Nam bị tụt hậu so với thế giới. Đặc biệt, việc đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu tuyển dụng và làm việc gây lãng phí về tài chính, thời gian, công sức mà không đem lại hiệu quả thiết thực.
- Việc quản lý con người ở một số nơi mang tính chất cứng nhắc, rập khuôn, khiến cho con người không có hứng thú học tập, làm việc, gây hạn chế khả năng sáng tạo và phát triển của mỗi cá nhân.
3. Một số đề xuất giải pháp
- Cần có sự đổi mới đồng bộ và triệt để trong hệ thống giáo dục hiện nay nhằm giáo dục và đào tạo toàn diện cho con người, tránh tình trạng thiên lệch trong các lĩnh vực đào tạo, làm hạn chế khả năng phát triển toàn diện.
- Việc đầu tư cho giáo dục đào tạo cần phải được xem xét cho phù hợp với những đối tượng, địa phương cụ thể, phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của các cơ quan, doanh nghiệp để tránh lãng phí.
- Cần có sự linh hoạt, truyền cảm hứng trong cộng đồng để có thể khích lệ và khuyến khích tối đa khả năng sáng tạo của con người,
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy nhân tố con người nhằm khơi dậy sức mạnh của nhân dân trong thực hiện các mục tiêu về phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội.
- Công tác đào tạo cán bộ, công chức, viên chức cần được quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa, thường xuyên cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức và bản lĩnh chính trị để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước một cách nhanh chóng và bền vững hiện nay.
- Tăng cường các hoạt động ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh, giá trị văn hóa Việt Nam kết hợp với bảo tồn được những đặc trưng văn hóa của dân tộc để tạo nên sức mạnh mềm về văn hóa, có khả năng miễn dịch trước những luồng văn hóa độc hại du nhập vào cộng đồng.
Kết luận
Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tạo ra động lực mang tính đột phá, trong đó, việc phát huy nhân tố con người của Đảng và Nhà nước ta thể hiện tư duy đúng đắn vì mọi động lực phát triển đều bắt nguồn từ con người và thành quả phục vụ trở lại con người. Để việc phát huy hiệu quả yếu tố con người trong bối cảnh mới hiện nay, việc nâng cao nhận thức cho mỗi cá nhân, cộng đồng và đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng cho con người là việc quan trọng bậc nhất. Việc xây dựng hình ảnh con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới giúp gia tăng vị thế của chúng ta trên trường quốc tế, góp phần tạo nên “sức mạnh mềm” của toàn dân tộc. Phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong bối cảnh mới là việc làm cấp thiết để gia tăng nguồn lực phát triển đất nước, đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức rõ ràng, từ đó có những biện pháp đúng đắn và kịp thời để có thể vượt qua những thách thức, đạt được hiệu quả như mong đợi.
TS. Trần Thị Mai Lan
Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Phương Châm (2025), tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/xay-dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-tu-chinh-sach-de, cập nhật ngày 23 tháng 7 năm 2025.
2. Đặng Minh Tiến, "Phát huy nhân tố con người, lấy con người làm trung tâm, động lực của sự phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" trên trang quanlynhanuoc.vn, cập nhật ngày 3/4/2025.
3. Đặng Thị Tuyết (2025), Những yêu cầu đặt ra trong việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam hiện nay, trên trang https://lyluanchinhtri.vn/nhung-yeu-cau-dat-ra-trong-viec-phat-huy-gia-tri-van-hoa-suc-manh-con-nguoi-viet-nam-hien-nay-7015.html, cập nhật ngày 21 tháng 7 năm 2025.