Chủ Nhật, ngày 31 tháng 05 năm 2026

Quản trị phát triển xã hội dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Ngày phát hành: 31/05/2026 Lượt xem 27

Tóm tắt

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số đang trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam nhằm hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ số, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu. Trong bối cảnh đó, quản trị phát triển xã hội không còn chủ yếu dựa vào mô hình quản lý hành chính truyền thống mà cần chuyển sang mô hình quản trị kiến tạo phát triển, dựa trên khoa học công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm nền tảng, lấy phát triển con người làm trung tâm. Các chủ thể xã hội không còn giữ vai trò thụ động mà trở thành nguồn lực phát triển quan trọng, vừa cung cấp nguồn nhân lực số, vừa mở rộng không gian ứng dụng công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để phát triển nhanh và bền vững. Quá trình này tác động trực tiếp đến năng suất lao động, chất lượng dịch vụ công và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở phân tích nội hàm, cơ hội và thách thức hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản trị xã hội trong kỷ nguyên số.

 

 

 

1. Đặt vấn đề

 

Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Đại hội phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức lý luận và tư duy chỉ đạo thực tiễn, đặc biệt là những chuyển biến căn bản về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và phương thức phát triển kinh tế - xã hội.  Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ “đến năm 2045, nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.”[1] Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.

 

Trong bối cảnh mới, quản trị xã hội ngày càng gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, năng lực dự báo và điều hành xã hội. Đây là quá trình xây dựng thể chế quản trị, nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực thi, tổ chức thực hiện và điều hành chính sách dựa trên công nghệ số, đổi mới sáng tạo, tối ưu hóa nguồn lực, duy trì ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trọng tâm của quá trình này là chuyển từ phương thức quản lý hành chính, nặng về kiểm soát sang quản trị kiến tạo phát triển dựa  trên dữ liệu, công nghệ số, và nguồn nhân lực số. Sự chuyển đổi này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công, và lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo. Đồng thời, đây cũng là yêu cầu tất yếu để thích ứng với xu thế phát triển của kỷ nguyên số và AI, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045.

 

Việt Nam hiện đã có những nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi số như hạ tầng viễn thông tương đối phát triển, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từng bước được hoàn thiện, cùng với quyết tâm chính trị cao trong thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, những điểm nghẽn hiện nay không chủ yếu nằm ở công nghệ vốn có thể tiếp cận và nhập khẩu, mà tập trung ở thể chế, dữ liệu, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực tổ chức thực thi chính sách. Thực tế này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong nhận thức, tư duy lý luận và phương thức quản trị xã hội hiện đại trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

 

Trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành động lực trung tâm của phát triển, việc nghiên cứu và hoàn thiện mô hình quản trị phát triển xã hội trở nên cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm trong kỷ nguyên số. Bài viết tập trung vào ba mục tiêu chính: (1) làm rõ một số vấn đề lý luận về quản trị phát triển xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo; (2) phân tích thực tiễn ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực xã hội nhằm nhận diện những kết quả đạt được, cùng các hạn chế và thách thức đang đặt ra; (3) đề xuất một số định hướng chính sách nhằm xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội, thúc đẩy sự tham gia của toàn hệ thống, hướng tới phục vụ phát triển con người và nâng cao chất lượng cuộc sống.

 

2.  Nội hàm xã hội trong mô hình phát triển mới dựa trên khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

 

Mô hình phát triển nhanh và bền vững dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, lấy con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển, nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, tự cường, tự tin tiến mạnh vào kỷ nguyên mới. Trong mô hình phát triển mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực nền tảng, giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế. Tuy nhiên, sự chuyển đổi không chỉ nằm ở việc lựa chọn động lực tăng trưởng mới mà còn ở tầm đổi mới tư duy phát triển, đặc biệt là mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội. Nếu như trước đây tư duy phát triển truyền thống nghiêng về “tăng trưởng trước, xã hội sau”, trong đó các vấn đề xã hội chủ yếu được xử lý như hệ quả của tăng trưởng, thì trong mô hình phát triển mới, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường ngày càng được nhìn nhận trong mối quan hệ thống nhất, chủ động tích hợp chặt chẽ. Xã hội vì vậy không còn là “sản phẩm phụ”, chỉ giữ vai trò thụ hưởng thành quả tăng trưởng kinh tế mà trở thành nền tảng và động lực trực tiếp của quá trình phát triển, với các nội dung cốt lõi bao gồm:

 

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động linh hoạt thích ứng với công nghệ số

 

Phát triển nguồn nhân lực gắn với thị trường lao động linh hoạt và thích ứng công nghệ là nội hàm trung tâm của phát triển xã hội trong thời đại khoa học - công nghệ. Nguồn nhân lực không còn là lao động giá rẻ như trong giai đoạn trước mà được định hình bởi tri thức, kỹ năng số, đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng công nghệ, nâng cao năng suất lao động và quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá quan trọng để khơi thông điểm nghẽn hiện nay. Tuy nhiên, mô hình phát triển mới đòi hỏi đồng thời việc đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng thị trường lao động linh hoạt, thích ứng với công nghệ số và bảo vệ người lao động trước làn sóng công nghệ và tự động hóa. Sự kết hợp giữa đào tạo nguồn nhân lực số và xây dựng thị trường lao động hiện đại, linh hoạt giúp giảm chi phí chuyển đổi việc làm, thúc đẩy dịch chuyển lao động sang khu vực năng suất cao, và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng dài hạn.

 

Thứ hai, cải cách thể chế và quản trị phát triển xã hội dựa trên công nghệ số, dữ liệu và đổi mới sáng tạo

 

Thể chế bao gồm hệ thống pháp luật, chính sách, quy định và các chuẩn mực quản lý, giữ vai trò định hướng hành vi và thiết lập môi trường hoạt động cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức. Trong ba điểm nghẽn lớn hiện nay (thể chế, hạ tầng và nhân lực), thể chế được xem là rào cản cốt lõi, là “điểm nghẽn của các điểm nghẽn”. Vì vậy, trong bối cảnh mới cải cách thể chế không chỉ cần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn khơi thông động lực xã hội thông qua việc tháo gỡ các thủ tục, cơ chế và rào cản đang kìm hãm sự đổi mới sáng.

 

Quản trị phát triển xã hội không còn chủ yếu dựa vào mô hình quản lý hành chính truyền thống, mà đang từng bước chuyển sang mô hình quản trị kiến tạo phát triển, lấy dữ liệu làm nền tảng, qua đó làm thay đổi căn bản phương thức điều hành và hoạch định chính sách. Nếu thiếu nền tảng quản trị vững chắc sẽ dẫn đến chồng chéo, bất cập trong tổ chức thực hiện, gây lãng phí nguồn lực và làm gia tăng rủi ro chính sách. Trong bối cảnh đó, quản trị dựa trên công nghệ số, dữ liệu và AI giúp nâng cao hiệu quả thể chế, giảm chi phí hành chính và các khâu trung gian, đồng thời cải thiện chất lượng thực thi chính sách, qua đó góp phần nâng cao năng suất của nền kinh tế.

 

Thứ ba, xây dựng xã hội số và công bằng số

 

Xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng và chính sách của Nhà nước.  Đây là là mô hình xã hội trong đó các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân ngày càng được vận hành trên môi trường số. Trong điều kiện hiện nay, xã hội số gắn với phổ cập hạ tầng và kỹ năng số, định danh điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và dịch vụ công trực tuyến nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, thúc đẩy bao trùm số và nâng cao chất lượng cuộc sống. Xã hội số là quá trình chuyển đổi phương thức tổ chức và vận hành xã hội theo hướng hiện đại, kết nối và tương tác trên nền tảng số. Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo ra tăng trưởng nhanh nhưng đồng thời làm gia tăng bất bình đẳng mới về thu nhập, kỹ năng và khả năng tiếp cận chuyển đổi số, yêu cầu bao trùm số trở thành điều kiện để hạn chế phân hóa xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực, bảo đảm tính bền vững của mô hình phát triển.

 

Thứ tư, đa dạng hóa chủ thể, mở rộng sự tham gia đổi mới sáng tạo

 

Đổi mới sáng tạo ngày càng mang tính mở, với sự tham gia của nhiều chủ thể vượt ra ngoài khu vực nhà nước và doanh nghiệp lớn. Vì vậy, mở rộng cơ hội tham gia đổi mới sáng tạo trở thành yêu cầu quan trọng nhằm gia tăng khả năng tạo lập tri thức và giá trị mới trong xã hội. Thông qua dữ liệu mở, nền tảng số và không gian sáng tạo mở, quá trình này giúp tăng số lượng chủ thể tham gia, thúc đẩy tốc độ đổi mới và lan tỏa công nghệ trong nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh, đổi mới sáng tạo không còn giới hạn trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn mà ngày càng gắn với khả năng tiếp cận công nghệ và nguồn lực sáng tạo của xã hội. Trên cơ sở đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần được phát triển theo hướng tăng cường kết nối giữa nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng nhằm hình thành mạng lưới hợp tác và chuyển giao tri thức hiệu quả. Khi cơ hội tham gia đổi mới sáng tạo được mở rộng, nền kinh tế sẽ gia tăng số lượng sáng kiến và công nghệ mới, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới và tăng cường năng suất, năng lực cạnh tranh quốc gia.

 

Các nội hàm trên cho thấy tầm nhìn chiến lược và tư duy mới trong mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Con người và xã hội không đóng vai trò thụ động mà trở thành nguồn lực quan trọng, vừa tạo ra nhân lực số, vừa mở rộng không gian ứng dụng công nghệ và trực tiếp thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, tác động trực tiếp đến năng suất, thị trường, và năng lực cạnh tranh quốc gia.

 

3. Quản trị phát triển xã hội dựa trên khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

 

Qua 40 năm lãnh đạo thực hiện công cuộc Đổi Mới, nhận thức lý luận của Đảng không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Tư duy phát triển ngày càng được điều chỉnh theo hướng hiện đại hơn, phù hợp với bối cảnh mới của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Văn kiện Đại hội XIV cho thấy tính cấp thiết phải “Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế từ theo chiều rộng sang chủ yếu theo chiều sâu với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, dựa trên khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, và đổi mới sáng tạo, gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đảm bảo phát triển nhanh, bền vững gắn với bảo vệ môi trường.”[2] Nghị quyết Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo: “Sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá trong trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa mở ra cơ hội lớn cần nắm bắt để phát triển bứt phá. tạo cơ hội lịch sử cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.[3]

 

Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào: vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ thì đến nay những động lực này đang dần tới giới hạn, thậm chí suy giảm hiệu quả trong việc tạo ra tăng trưởng bền vững và nâng cao năng suất tổng hợp. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng, đồng thời từng bước trở thành trung tâm của mô hình phát triển mới, giữ vai trò dẫn dắt quá trình phát triển kinh tế – xã hội và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Đây chính là chìa khóa để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị yêu cầu “tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.”[4] Khác với các cách tiếp cận truyền thống vốn tách biệt tương đối giữa tăng phát triển kinh tế và phát triển xã hội, cần tăng cường mối quan hệ tương hỗ giữa hai lĩnh vực này, trong đó KHCN, ĐMST & CĐS đóng vai trò trung gian quan trọng, cho phép phản ứng nhanh trước các vấn đề mới phát sinh, góp phần nâng cao phúc lợi, mở rộng cơ hội phát triển con người và thúc đẩy công bằng xã hội. Vì vậy, việc tích hợp sâu rộng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào các lĩnh vực đời sống xã hội trở thành yêu cầu tất yếu và định hướng chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới.

 

Cơ sở lý luận của ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý phát triển xã hội được phản ánh trong cách tiếp cận tích hợp, theo đó công nghệ số vừa là công cụ nâng cao năng lực quản trị, vừa là động lực thúc đẩy tái cấu trúc phương thức vận hành của nhà nước và hệ thống quản trị phát triển xã hội. Trong bối cảnh này, vai trò của nhà nước được mở rộng từ chức năng điều tiết và phân bổ nguồn lực nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội sang kiến tạo môi trường số, phát triển hạ tầng dữ liệu và thúc đẩy đổi mới mô hình quản trị phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên mới. Việc tích hợp AI vào các nền tảng số làm thay đổi căn bản cách thức chính quyền tương tác với người dân và doanh nghiệp trong cung cấp dịch vụ công, chuyển từ mô hình hành chính, mệnh lệnh truyền thống sang mô hình quản trị phục vụ, lấy người dân làm trung tâm và hướng tới kiến tạo phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng.

 

Cần chuyển mạnh tư duy quản trị xã hội từ cách tiếp cận bị động, thiên về ứng phó và xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa rủi ro, dự báo xu hướng và can thiệp sớm; đồng thời dịch chuyển từ “quản lý để hạn chế, kiểm soát” sang “quản trị để kiến tạo phát triển”. Đây là sự thay đổi mang tính nền tảng trong triết lý quản trị nhà nước, trong đó các quan hệ xã hội được điều chỉnh đồng thời bằng pháp luật, đạo đức, khoa học và công nghệ, với dữ liệu là nền tảng, công nghệ số là công cụ và người dân là trung tâm của toàn bộ quá trình phát triển và cung ứng dịch vụ công. Trên cơ sở đó, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành cần được kết nối, chia sẻ, vận hành đồng bộ và thông suốt, bảo đảm an ninh mạng và an toàn dữ liệu, qua đó hình thành nền tảng cho quản trị xã hội hiện đại dựa trên thông tin thời gian thực. Trong bối cảnh đó, năng lực dự báo, giám sát và cảnh báo sớm trở thành yêu cầu cốt lõi của quản trị hiện đại, gắn với tăng cường phối hợp liên ngành, liên cấp và mở rộng sự tham gia thực chất của người dân. Đặc biệt, trong một thế giới biến động nhanh và phức tạp với các rủi ro đan xen về kinh tế, xã hội và địa chính trị, năng lực dự báo và quản trị rủi ro có ý nghĩa sống còn đối với hiệu lực và tính bền vững của hệ thống quản trị quốc gia.

 

Quản trị xã hội hiện đại cần được vận hành trên một số nguyên tắc cốt lõi, trong đó thể chế, con người và năng lực thực thi giữ vai trò quyết định. Các thủ tục rườm rà, quy định chồng chéo và thiếu minh bạch làm gia tăng chi phí xã hội, đồng thời suy giảm niềm tin vào hiệu lực chính sách. Chuyển đổi số nếu chỉ dừng lại ở số hóa hình thức mà không gắn với cải cách quy trình, cắt giảm tầng nấc trung gian và hỗ trợ các nhóm yếu thế tiếp cận dịch vụ số thì có thể tạo thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp thay vì nâng cao hiệu quả quản trị. Trong bối đó, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo giúp nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và hỗ trợ điều hành chính sách nhanh hơn và chính xác hơn. Thông qua khai thác và liên thông dữ liệu, cơ quan quản lý có thể nhận diện sớm các xu hướng và rủi ro như thất nghiệp, nghèo đói, dịch bệnh, tội phạm hay bất ổn xã hội để chủ động xây dựng giải pháp ứng phó. Vì vậy, ứng dụng chuyển đổi số và AI đang trở thành nền tảng công nghệ của mô hình quản trị xã hội hiện đại, góp phần nâng cao hiệu lực, tính minh bạch, công bằng và năng lực dự báo trong quản trị quốc gia.

 

Trong bối cảnh đó, hiệu quả quản trị xã hội phụ thuộc trước hết vào năng lực của Nhà nước trong vai trò kiến tạo phát triển và điều phối chuyển đổi số. Điều này đòi hỏi hoàn thiện thể chế theo hướng hiện đại, đồng bộ, đồng thời đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng lực thực thi chính sách. Đồng thời, cần phát triển đội ngũ cán bộ có tư duy số, kỹ năng công nghệ và năng lực khai thác dữ liệu. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở số hóa hình thức mà không cải cách quy trình, tinh gọn thủ tục và hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ số, quá trình này có thể làm gia tăng chi phí xã hội. Do đó, cần ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số với đổi mới cung ứng dịch vụ công theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm thuận tiện, minh bạch và hiệu quả.

 

4. Tình hình thực tiễn và một số vấn đề đặt ra hiện nay

 

Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV trong kỷ nguyên số, đổi mới mô hình phát triển đất nước gắn liền với tiến trình tái cấu trúc phương thức quản trị quốc gia, đồng thời xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số trên nền tảng công nghệ thông minh, hiện đại. Việt Nam đã thực hiện một cuộc cách mạng trong việc sắp xếp hệ thống tổ chức bộ máy, nhất là chính quyền địa phương hai cấp, gắn liền với hạ tầng công nghệ số. Trên nền tảng đó, chuyển đổi số và ứng dụng AI trong quản lý, năng lực điều hành chính sách trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời mở rộng sự tham gia của người dân trong thực hiện các giao dịch và dịch vụ hành chính công trên môi trường trực tuyến.

 

Kết quả đạt được

 

Quá trình chuyển đổi số và ứng dụng AI đang từng bước được hiện thực hóa thông qua các chủ trương và chương trình lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Chương trình chuyển đổi sang chính phủ số và phát triển xã hội số. Trên bình diện quản trị phát triển xã hội, việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia (đặc biệt là dân cư, bảo hiểm, y tế, giáo dục, xuất nhập cảnh) đang dần được tích hợp cùng với triển khai định danh điện tử đã tạo nền tảng quan trọng để tích hợp và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý phát triển xã hội. Trên nền tảng này, AI bắt đầu được tích hợp vào một số lĩnh vực góp phần nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ ra quyết định và cải thiện chất lượng quản lý. Đồng thời, quá trình này cũng phản ánh xu hướng đổi mới trong khu vực công, khi nhà nước từng bước chuyển từ vai trò quản lý hành chính truyền thống sang vai trò kiến tạo, linh hoạt và thích ứng hơn với sự tham gia của các chủ thể công - tư trong phát triển và triển khai công nghệ.

 

Các cơ quan công quyền đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình chính phủ số so với nhiều thành tựu bước đầu. Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc (UN, 2024), chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam năm 2024 đạt 0,7709 điểm, xếp vào nhóm nước ở mức cao (40% các quốc gia thuộc nhóm này và cao hơn chỉ số EGDI trung bình của thế giới (0,6382) và của khu vực châu Á (0,6990) và của khu vực Đông Nam Á (0,6928)). Trong lĩnh vực bảo hiểm, quá trình số hóa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2025), đến năm 2024, khoảng 92% người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đã được quản lý trên nền tảng dữ liệu số, cài đặt ứng dụng VssID để tiếp cận các dịch vụ bảo hiểm (BHXH Việt Nam, 2025). Việc chi trả các chế độ bảo hiểm và trợ cấp xã hội qua tài khoản ngân hàng (không sử dụng tiền mặt) cũng được mở rộng. Những kết quả này giúp giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và hạn chế sai sót trong xác định đối tượng thụ hưởng.

 

Theo Liên Hợp Quốc (UN, 2024), chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam năm 2024 đạt 0,7709 điểm, thuộc nhóm quốc gia có mức phát triển cao, vượt mức trung bình của thế giới, châu Á và Đông Nam Á. Kết quả này phản ánh những tiến bộ trong xây dựng hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và phát triển dữ liệu số phục vụ quản trị quốc gia. Trong lĩnh vực bảo hiểm và an sinh xã hội, quá trình số hóa đã tạo chuyển biến đáng kể. Đến năm 2024 khoảng 92% người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã được quản lý trên nền tảng dữ liệu số và sử dụng ứng dụng VNeID để tiếp cận các dịch vụ bảo hiểm (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2025). Việc chi trả trợ cấp và các chế độ bảo hiểm qua tài khoản ngân hàng cũng được mở rộng, góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và hạn chế sai sót trong xác định đối tượng thụ hưởng.

 

Trong lĩnh vực y tế, chuyển đổi số đang góp phần nâng cao chất lượng quản lý và khả năng tiếp cận dịch vụ. Theo Bộ Y tế (2025), cả nước đã có 1.192 bệnh viện triển khai bệnh án điện tử, tương đương khoảng 76% tổng số bệnh viện. Mục tiêu đến cuối năm 2026 là thay thế hoàn toàn bệnh án giấy tại các cơ sở khám chữa bệnh. Các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi đi đầu trong tiến trình này. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống định danh điện tử đã tạo nền tảng quan trọng cho việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Nhiều địa phương đã đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và cung ứng dịch vụ công, với tỷ lệ xử lý hồ sơ trực tuyến ngày càng tăng.

 

Thực tiễn cho thấy các nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang từng bước tham gia vào nhiều lĩnh vực vốn thuộc chức năng xã hội truyền thống như giáo dục, y tế, giao thông, dân số và an sinh xã hội. Trong lĩnh vực bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, AI hỗ trợ nhận diện khuôn mặt, phân tích dữ liệu, phát hiện đối tượng truy nã và xử lý nhanh các tình huống khẩn cấp. Trong giao thông, các hệ thống thông minh được sử dụng để giám sát, phân tích và điều tiết lưu lượng phương tiện. Ở lĩnh vực ngân hàng và xuất nhập cảnh, công nghệ xác thực sinh trắc học và nhận diện khuôn mặt giúp nâng cao mức độ an toàn, bảo mật và hiệu quả quản lý. Trong y tế, AI hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh, phân tích bệnh án và quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử; trong giáo dục, AI và công nghệ số hỗ trợ phân tích dữ liệu học tập, cá thể hóa quá trình dạy và học.

 

Trí tuệ nhân tạo cũng đang được ứng dụng trong quản lý dân số thông qua khai thác cơ sở dữ liệu dân cư, xác thực danh tính điện tử và hỗ trợ thực hiện chính sách an sinh xã hội. Trong phát triển đô thị thông minh, AI góp phần giám sát môi trường, quản lý giao thông, an ninh đô thị và điều hành dịch vụ công theo thời gian thực. Bên cạnh đó, dữ liệu hành chính và AI còn giúp tự động hóa quy trình, giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí vận hành và nâng cao độ chính xác trong quản lý. Những ứng dụng này phản ánh xu hướng chuyển đổi từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu, công nghệ và năng lực thích ứng số của Nhà nước.

 

Bước sang giai đoạn 2026-2030, Việt Nam định hướng hoàn thiện nền tảng chính phủ số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trong đó trí tuệ nhân tạo được tích hợp sâu hơn vào hệ thống quản trị và cung cấp dịch vụ công, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành và năng lực dự báo chính sách. Chương trình Đề án 06 theo Quyết định 826 ngày 11/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục thúc đẩy ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử trong mọi lĩnh vực, phục vụ chuyển đổi số quốc gia và các trụ cột Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số. Đến năm 2030, mục tiêu là hoàn thiện nền tảng số và tiện ích cốt lõi, bảo đảm người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công thuận tiện, an toàn, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, trên nền dữ liệu liên thông theo phương châm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Tầm nhìn 2045 hướng tới quản trị hiện đại, thông minh, trong đó dữ liệu lớn và AI trở thành nền tảng hỗ trợ phân tích, phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả chính sách phát triển xã hội.

 

Một số hạn chế, thách thức và điểm nghẽn

 

Bối cảnh quốc tế hiện nay diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo với sự gia tăng xung đột và bất ổn kinh tế toàn cầu, biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, dịch bệnh đang tác động mạnh đến sự phát triển xã hội ở nhiều quốc gia. Những thách thức này làm gia tăng áp lực đối với an sinh xã hội, việc làm, y tế, giáo dục và quản lý dân cư, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình quản trị xã hội hiện đại theo hướng linh hoạt, thích ứng và dựa trên dữ liệu số.

 

Tuy nhiên, khung pháp lý, thể chế và năng lực quản trị xã hội ở nhiều lĩnh vực còn chậm hoàn thiện so với tốc độ phát triển của công nghệ và các nền tảng số. Khoảng cách chênh lệch về hạ tầng, kỹ năng số và khả năng tiếp cận công nghệ giữa cán bộ và người dân ở thành thị và nông thôn vẫn còn lớn, làm gia tăng bất bình đẳng và nguy cơ phân hóa xã hội. Bên cạnh đó, tình trạng tin giả, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân và các hành vi vi phạm trên không gian mạng ngày càng phức tạp, trong khi công tác bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an ninh mạng còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao năng lực quản trị và tăng cường khả năng thích ứng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra ngày càng sâu rộng.

 

Mặc dù trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội trong phát triển kinh tế - xã hội, quá trình triển khai trí tuệ nhân tạo ở Việt Nam vẫn có không ít hạn chế. Việc sản xuất và ứng dụng AI vẫn ở giai đoạn thử nghiệm, chưa hình thành hệ thống đồng bộ; trong khi hạ tầng số, nhân lực số và khung pháp lý vẫn trong quá trình hoàn thiện. Cơ sở dữ liệu dù đã theo định hướng “đúng, đủ, sạch, sống” nhưng còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, chia sẻ và chưa liên thông giữa các cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Hệ thống dữ liệu vận hành phân tán làm giảm khả năng khai thác điều hành chính sách và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ và liên thông thực chất.

 

Quá trình chuyển đổi số cũng đáng đối mặt với những thách thức và điểm nghẽn. Khoảng cách số giữa các khu vực và nhóm dân cư còn khá lớn; tỷ lệ hộ gia đình có kết nối Internet ở đô thị cao hơn đáng kể so với nông thôn (95% so với 76%) (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Kỹ năng số của cán bộ và người dân, đặc biệt là người cao tuổi và lao động khu vực phi chính thức, còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ số còn hạn chế. Các vấn đề về an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành những thách thức ngày càng rõ nét. Để bảo đảm nguyên tắc bao trùm và công bằng số, cần đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, nguồn nhân lực có kỹ năng số và tăng cường liên thông dữ liệu như một tài nguyên quốc gia để mọi chủ thể xã hội được tham gia và thụ hưởng từ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

 

Những hạn chế nêu trên cho thấy chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị phát triển xã hội không đơn thuần là vấn đề công nghệ mà gắn chặt với yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao năng lực quản trị. Hiệu quả của quá trình này cần được đánh giá thông qua khả năng phục vụ người dân và doanh nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm công bằng xã hội, cùng với mức độ hiện đại của công nghệ và hạ tầng. Vì vậy, quán trị phát triển xã hội dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được triển khai vận hành lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính bao trùm và bền vững.

 

5. Kết luận và định hướng chính sách

 

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang ngày càng trở thành động lực quan trọng. Xã hội không còn giữ vai trò hỗ trợ hay đi sau tăng trưởng kinh tế mà trở thành một cấu phần nền tảng, không thể tách rời của mô hình phát triển mới. Người dân, doanh nghiệp trở thành lực lượng trực tiếp của đổi mới sáng tạo. Xã hội vừa là nơi hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa là không gian tiếp nhận, ứng dụng và lan tỏa các giá trị công nghệ, đồng thời tạo lập văn hóa đổi mới sáng tạo, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bao trùm và bền vững.

 

Sự phát triển nhanh của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong phương thức tổ chức, vận hành xã hội. Quản trị phát triển xã hội vì vậy cần chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang quản trị hiện đại, thông minh, phục vụ dựa trên nền tảng công nghệ, dữ liệu và kết nối số. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong mô hình phát triển mới của đất nước.

 

Từ những phân tích trên, bài viết đề xuất một số giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản trị phát triển xã hội trong giai đoạn mới:

 

Một là, cần khẩn trương xây dựng và hoàn thiện khung thể chế về quản trị xã hội hiện đại dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu. Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ an ninh mạng, dữ liệu cá nhân và nâng cao trách nhiệm trong cập nhật, khai thác, sử dụng.

 

Hai là, đẩy mạnh hiện đại hóa nền quản trị quốc gia và phát triển Chính phủ số, xã hội số. Cần tăng tốc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI trong quản trị phát triển xã hội; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công theo hướng thuận tiện, minh bạch, hiệu quả, giảm thủ tục hành chính và chi phí xã hội. Đồng thời, phát triển các nền tảng số, mở rộng các hình thức tiếp cận và sử dụng dịch vụ công thuận tiện phục vụ đời sống xã hội.

 

Ba là, cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nâng cao kỹ năng số và khả năng thích ứng với công nghệ mới và AI nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số. Chính sách giáo dục và đào tạo cần chú trọng hướng mở, linh hoạt, tăng cường STEM, khoa học dữ liệu và kỹ năng số cơ bản, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng cuộc sống. Đồng thời, thúc đẩy đào tạo lại, nâng cao kỹ năng lao động để con người thực sự trở thành chủ thể của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

 

Bốn là, cần đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu quốc gia, hình thành “mặt bằng số” xuyên suốt, tích hợp và kết nối thống nhất các bộ, ngành, lĩnh vực và địa phương. Khắc phục tình trạng phân tán, cắt khúc dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, tạo nền tảng cho phân tích, dự báo và giám sát các xu hướng biến động xã hội theo thời gian thực, hỗ trợ hoạch định và điều hành chính sách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.

 

Năm là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong toàn hệ thống, bao gồm khu vực công, khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội và cộng đồng, nhằm kiến tạo năng lực thực hiện mô hình phát triển mới dựa trên tri thức, công nghệ và dữ liệu. Việc triển khai các mô hình thử nghiệm (sandbox) trong phạm vi và điều kiện kiểm soát sẽ giúp đánh giá tác động thực tiễn, kịp thời điều chỉnh chính sách và đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quản trị phát triển xã hội.

 

GS.TS. Đặng Nguyên Anh

Nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I & II. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật. Hà Nội

2. Ban Chấp hành Trung ương. 2025. Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngày 22/12/2024

3. Bộ Khoa học và Công nghệ. 2025. Báo cáo chuyển đổi số quốc gia. Bộ Khoa học và Công nghệ tháng 12/2025, Hà Nội

4. Bộ Y tế. 2025. Báo cáo ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế. Bộ Y tế. Hà Nội

5. Cục Thống kê. 2025. Niên giám thống kê 2025. Nxb Thống kê, Hà Nội

6. Thủ tướng Chính phủ. 2026. Chương trình Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035. Quyết định số 826/QĐ-TTg ngày 11/5/2026

7. United Nations. 2024. United Nations E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development. New York: UN



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Tập II, tr. 244.

[2]  Sđd, tr. 47-48.

[3]  Sđd, tr. 247-248.

[4] Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết