Thứ Năm, ngày 28 tháng 05 năm 2026

Đổi mới nhận thức và định hướng phát triển con người trong giai đoạn mới

Ngày phát hành: 28/05/2026 Lượt xem 20

 

Vấn đề phát triển con người được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau, mỗi giác độ tiếp cận sẽ nêu lên những tiêu chí về con người khác nhau, nhìn nhận về quá trình phát triển con người khác nhau. Nhưng có lẽ đúng đắn nhất nhận thức về con người là nhận thức về giá giá trị con người và quá trình phát triển giá trị con người, với tư cách vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của quá trình phát triển xã hội. Quá trình phát triển con người trong giai đoạn mới cũng nằm trong biện chứng chịu sự chi phối của các giá trị con người được hình thành trong các giai đoạn trước, các giá trị con người được hình thành trong thể chế phát triển hiện nay, đồng thời sẽ phải hướng tới phát triển các giá trị đáp ứng với bối cảnh và yêu cầu phát triển đất nước bứt phá, nhanh - bền vững trong giai đoạn mới. Văn kiện Đại hội XIV nêu rõ: “Phát triển nhanh và bền vững phải lấy con người, văn hóa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm trung tâm”, “Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế”, “Xây dựng con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển”.

 

 

I. BỐI CẢNH TÁC ĐỘNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 

1. Bối cảnh tác động

Sự phát triển con người trong giai đoạn mới chịu sự tác động của nhiều yếu tố, có thể nêu lên những yếu tố chủ yếu sau:

1). Yêu cầu phát triển bứt phá, nhanh - bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình cao vào năm 20230, và trờ thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

 

2). Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện thể chế phát triển nhanh - bền vững đồng bộ về chính trị, kinh tế. văn hóa, xã hội và môi trường sinh thái để tạo động lực phát triển bứt phá đất nước trong giai đoạn mới, dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

 

3). Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với nội dung cốt lõi là công nghệ số, tự động hóa, công nghệ sinh học hiện đại, Internet, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đang phát triển mạnh mẽ, tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ con người đế gia đình và xã hội…, làm thay đổi cơ bản bản chất, tính chất, cầu trúc và phương thức tạo nên và tác động của động lực phát triển.

 

4). Tác động sâu sắc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng, làm thay đổi mạnh mẽ nền kinh - tế xã hội, đời sống xã hội, đặt nền giáo dục- đào tạo của tất cả các nước đang đứng trước những thay đổi mang tính cách mạng cả về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức giáo dục - đào tạo.

 

5). Quan hệ quốc tế đang thay đổi mạnh mẽ, khó lường; cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước, đặc biệt là giữa các nước lớn, các nước phát triển, đang làm thay đổi các giá trị trong quan hệ quốc tế; mối quan hệ giữa lợi ích và giá trị quốc gia - dân tộc với lợi ích và giá trị hội nhập quốc tế, với lợi ích và giá trị chung của nhân loại, đang đặt ra vấn đề về chủ quyền, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược phát triển của một quốc gia kết nối với lợi ích hội nhập quốc tế.

Bối cảnh đó sẽ tác động mạnh mẽ đến hình thành các giá trị con người, phát triển con người trong giai đoạn mới.

 

2. Những yêu cầu đặt ra đối với phát triển con người trong giai đoạn mới

1). Phải xây dựng và phát triển các giá trị mới của con người đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước; gắn hữu cơ với phát huy các giá trị truyền thống, tạo động lực phát triển của giai đoạn mới; hạn chế, triệt tiêu, hóa giải các tác động tiêu cực đối với phát triển con người.

2). Xác định phát triển con người với tư cách là chủ thể phát triển của chính mình, của xã hội và của quốc gia - dân tộc; không phải chỉ với tư cách là người lao động - một chuyên gia thuần túy.

3). Phải xây dựng được đồng bộ thể chế phát triển con người; tạo lập được môi trường (hệ sinh thái) phát triển con người gắn kết giữa môi trường cá nhân - gia đình - tổ chức, đơn vị - công đồng - quốc gia - hội nhập quốc tế, nhằm tạo được các giá trị con người vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính cộng đồng, vừa mang tính quốc gia dân tộc - vừa mang tính hội nhập quốc tế.

4). Phát triển con người phải gắn kết đồng bộ các giá trị về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân.

 

 

II. NHẬN THỨC, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

  1. Nhận thức và quan điểm của Đảng về phát triển con người trong giai đoạn mới

Trong quá trình xây dựng, bảo vệ đất nước và đổi mới, Đảng và Nhà nước rất coi trọng vấn đề phát triển con người, thể hiện ở một số nhận thức, quan điểm sau: 

 

- "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), phải có con người xã hội chủ nghĩa" là tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người. Con người XHCN là người làm chủ, có đạo đức cách mạng, trí tuệ và tinh thần cống hiến, giúp hiện thực hóa lý tưởng cao đẹp.

 

- Con người là vốn quý nhất: Đảng khẳng định chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu cao nhất của chế độ.

 

- Phát triển toàn diện: Xây dựng con người Việt Nam phát triển hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.

 

- Con người là trung tâm: Mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội đều hướng tới nâng cao đời sống, trí tuệ, đạo đức, thể chất và tinh thần của nhân dân.

 

- Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự nghiệp phát triển. Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao: xác định đây là một đột phá chiến lược (Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng).

 

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển con người, phát triển nguồn lực con người. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước đạt được qua 40 năm đổi mới có sự đóng góp có tính quyết định của nguồn lực con người Việt Nam phát triển qua các thế hệ. Đồng thời, Đảng cũng nhận định sự nghiệp phát triển con người, nguồn lực con người vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập và gặp không ít khó khăn, thách thức. Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh, đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp, mất bản sắc.

 

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước đã có những nhận thức, quan điểm mới về phát triển con người, có thể nêu khái quát như sau:

 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (2021):

 

- “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”; Đề cao vai trò của nhân tố con người trong sáng tạo, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 07/01/2026, về phát triển văn hóa Việt Nam:

 

- Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước…, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới

- Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

- Xây dựng con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển.

- Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm; mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ.

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế, góp phần quan trọng phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới.

- Phát triển văn hoá và con người - nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước. Cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật.

 

 

Văn kiện Đại hội XIV (2026):

 

- Nhấn mạnh: Phát triển nhanh và bền vững phải lấy con người, văn hóa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm trung tâm. Hướng tới mục tiêu: Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc.

 

- Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số.

 

- Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phát huy có hiệu quả giá trị văn hoá và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hoá thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước.

 

- Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược.

 

- Lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách, phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức, thể chất, văn hóa và tinh thần, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế.

 

Đặt phát triển con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển, không chỉ là phát triển nguồn nhân lực, là một bước phát triển rất cao nhận thức về vai trò của con người, phát triển con người trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

 

2. Những vấn đề lớn đặt ra

 

i). Cần nhận thức đúng mối quan hệ giữa phát triển con người, các giá trị con người với thực trạng thể chế và trình độ phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

 

Sự phát triển con người, xét về bản chất cốt lõi, chính là sự phát triển các giá trị con người. Xét một cách tổng quát, trong mỗi giai đoạn phát triển, hệ giá trị con người (cũng như hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội) được cấu trúc bởi ba cấu phần chủ yếu: những giá trị truyền thống được lưu giữ lại từ quá khứ; những giá trị hiện tại do điều kiện khách quan quy định; và những giá trị định hướng cho sự phát triển trong giai đoạn mới (mà hiện thời có thể chưa đóng vai trò chủ đạo chi phối sự phát triển). Các giá trị này có thể và cần phải thay đổi nội dung và hình thức thể hiện cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện hiện tồn. Các giá trị này được hình thành một cách khách quan do điều kiện và trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái quy định.

 

Trong quá trình hình thành, biến đổi và phát triển hệ giá trị con người (hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội), có một vấn đề mang tính quy luật là khi đã được hình thành các giá trị đó tồn tại độc lập tương đối với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện tại. Và sự hình thành, vận động, thay đổi của các giá trị này trong các điều kiện bình thường thường có “độ trễ” nhất định so với sự thay đổi điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện thay đổi đột biến, mang tính bước ngoặt về thể chế phát triển, về mô hình phát triển và trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, sẽ xuất hiện (hoặc yêu cầu phải có) các giá trị mới “vượt trước” so với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội hiện tại của một quốc gia. Các giá trị này có thể tác động tích cực đối với sự phát triển, cũng có thể có tác động tiêu cực.

 

Sự đấu tranh, xung đột, chuyển hóa về giá trị tất yếu nảy sinh giữa các giá trị truyền thống, các giá trị hiện tại và các giá trị mới, giữa các giá trị quốc gia với các giá trị quốc tế, ngoại lai. Đây chính là vấn đề đặt ra đối với Việt Nam khi phải chủ động xây dựng và phát triển các giá trị con người mới (cũng như hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội) đáp ứng với đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh - bền vững trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội hập quốc tế. Trong bối cảnh này, cần khắc phục cả hai khuynh hường: khuynh hướng chậm đổi mới, vẫn tiếp tục sử dụng một cách không hợp lý và kém hiệu quả các giá trị con người tích ứng với thể chế phát triển theo chiều rộng (thể hiện ở các tiêu chỉ, tiêu chuẩn về cán bộ công chức, về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, về người lao động…) vào cho thể chế phát triển theo chiều sâu dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ cao; và khuynh hướng xây dựng và “áp đặt” các giá trị con người “rất tiên tiến, hiện đại” (của thế giới) không phù hợp với điều kiện và văn hóa của Việt Nam.

 

Về phương diện nhận thức và cách tiếp cận, ở đây không phải chỉ đề cập đến sự hình thành và phát triển hệ giá trị con người (giá trị văn hóa, giá trị xã hội) trong quá trình phát triển; mà là sự chủ động xây dựng và phát triển hệ giá trị con người đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bứt phá, có nghĩa là xây dựng các hệ giá trị đó mang “tính vượt trước” để không chỉ đáp ứng, mà còn là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy mạnh và có hiệu quả quá trình phát triển nhanh - bền vững đất nước. Nhưng “tính vượt trước” không thể duy ý trí, yêu cầu đặt ra là hệ giá trị này phải một mặt phải phát huy được các giá trị truyền thống tích cực thông qua việc đổi mới nội dung thích ứng với đòi hỏi của sự phát triển, đồng thời phát huy cao nhất các giá trị tích cực hiện tại (đang đóng vai trò chủ đạo); mặt khác phải chứa đựng những giá trị tiên tiến sẽ cần phải xây dựng để làm nền móng (chủ đạo) cho quá trình phát triển bứt phá đất nước. Các giá trị “chiến thắng” và phát triển sẽ là các giá trị có cơ sở kinh tế - xã hội làm nền tảng, có cơ sở pháp lý để vận động, phát triển và có cơ sở đạo đức để tồn tại, đáp ứng với yêu cầu phát triển nhanh - bền vững đất nước. 

 

ii). Cần nhận thức đúng mối quan hệ giữa phát triển con người (các giá trị con người với) với phát triển các giá trị văn hóa, giá trị xã hội trong quá trình phát triển.

 

Hiện nay đang còn có những nhận thức khác nhau về mối quan hệ giữa hệ giá trị con người với hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị xã hội. ). Ở đây xin nêu lên mối quan hệ giữa ba hệ giá trị này theo cách tiếp cận con người là chủ thể trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Từ bản chất và đặc trưng của giá trị con người mà hình thành giá trị văn hóa và giá trị xã hội (giá trị văn hóa được xét ở đây theo nghĩa rộng như quan niệm của Hồ Chí Minh, chứ không theo nghĩa hẹp thuộc lĩnh vực tinh thần). Và giá trị văn hóa, giá trị xã hội cũng là những phương diện biểu hiện (thể hiện) giá trị con người ở những lát cắt khác, bình diện khác mà thôi. Trên thế giới, ở tất cả các nước, chính giá trị con người (và giá trị công dân) là nền tảng gốc rễ cơ bản đề hình thành giá trị văn hóa và giá trị xã hội. Nhưng điều này không có nghĩa là giá trị văn hóa và giá trị xã hội được quy định đơn nhất và một chiều từ hệ giá trị con người. Khi nói đến hệ giá trị con người thường nói đến những giá trị mang bản chất con người - bản chất công dân (quyền con người - quyền công dân) của một xã hội cụ thể. Còn khi nói đến hệ giá trị văn hóa thường nói đến các giá trị mà con người sáng tạo ra (cả về đời sống vật chất và tinh thần) trong nền sản xuất xã hội - đời sống xã hội; đương nhiên các giá trị văn hóa phải phản ánh các bản chất cơ bản của giá trị con người về phương diện văn hóa trong tất cả các lĩnh vực của xã hội. Còn các giá trị xã hội lại thể hiện các giá trị con người trong sự liên kết thành một xã hội có tổ chức, một chế độ xã hội cụ thể, một Nhà nước cụ thể, với những chế định quan phương (và phi quan phương) mà nỗi cá nhân, chủ thể riêng biệt phải tôn trọng và tuân theo. Như vậy, chính hệ giá trị con người là hạt nhân cốt lõi của hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị xã hội. Nhưng khi hệ giá trị văn hóa và đặc biệt là hệ giá trị xã hội được định hình, sẽ có một vai trò chi phối quan trọng (có thể mang tính quyết định) đối với sự thay đổi và phát triển hệ giá trị con người. Nói một cách hình ảnh, có thể mô tả mối quan hệ giữa hệ giá trị con người với hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị xã hội như ba vòng tròn đồng tâm, mà vòng trong cùng là hệ giá trị con người, tiếp theo vòng thứ hai là hệ giá trị văn hóa, còn vòng thứ ba ngoài cùng là hệ giá trị xã hội. Sẽ là siêu hình và không đúng bản chất khi nhìn nhận tách biệt máy móc giữa các hệ giá trị này trong sự phát triển của xã hội.

 

 

iii). Hình thức thể hiện của giá trị con người

 

Các giá trị con người (cũng như các giá trị văn hóa, các giá trị xã hội) thường được khái quát dưới dạng trừu tượng (ví dụ như giá trị yêu nước…), nhưng trong đời sống hiện thực các giá trị thường được hiện thực hóa dưới các phạm trù khác nhau. Có thể nêu lên khái quát các phạm trù chủ yếu sau:

 

- Phạm trù đạo đức (đạo đức hóa),

 

- Phạm trù phong tục - tập quán (phong tục - tập quán hóa),

 

- Phạm trù tâm linh (tâm linh hóa)

 

- Phạm trù pháp luật (pháp luật hóa, ví dụ như các quyền con người, quyền công dân được chế định trong Hiến Pháp 2013…),

 

- Phạm trù thiết chế (được thiết chế hóa bằng các thiết chế xã hội, gia đình),

 

- Phạm trù lợi ích (lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần)…

 

Trong mỗi phạm trù cụ thể đó, các giá trị lại được cụ thể hóa thành các tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực khác nhau để điều tiết họat động của con người và mọi chủ thể, tổ chức trong xã hội. Trong các phạm trù hiện thực hóa các giá trị nêu trên, có ba phạm trù giá trị cơ bản nhất, đó là: giá trị lợi ích, giá trị đạo đức, và giá trị pháp lý. Giá trị lợi ích (vật chất và tinh thần) đóng vai trò động lực trung tâm của sự phát triển của con người, mọi chủ thể trong xã hội và cả quốc gia. Giá trị đạo đức đóng vai trò điều tiết hành vi của con người, cộng đồng và xã hội theo những chuẩn mực đạo đức chung của xã hội, của mỗi chủ thể trong xã hội. Giá trị pháp lý đóng vai trò điều chỉnh cả giá trị đạo đức, giá trị lợi ích và các giá trị khác theo chuẩn mực pháp lý, là “ranh giới” pháp lý để tạo sự đồng thuận trong xã hội khi thực hiện tất cả các giá trị khác trong cuộc sống.

 

Giá trị pháp lý thể hiện rõ giá trị nào được phép tồn tại, được khuyến khích phát triển, giá trị nào không được phép tồn tại, không được khuyến khích phát triển; thể hiện rõ phạm vi và mức độ (giới hạn) tồn tại và phát triển của các giá trị trong xã hội. Giá trị pháp lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo khung pháp lý để thúc đẩy hình thành các giá trị mới, như giá trị con người - giá trị văn hóa - giá trị xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, xã hội hóa đất nước. 

 

Cần thấy rằng, cả giá trị lợi ích, giá trị đạo đức, giá trị pháp lý (và các giá trị khác) đều sẽ có sự thay đổi trong quá trình phát triển. Ở nước ta hiện nay (cũng như ở những nước có sự thay đổi thể chế phát triển mang tính bước ngoặt, có sự phát triển rút ngắn), giá trị pháp lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển các giá trị mới (vốn đang hình thành, thậm chí chưa có) đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển nhanh - bền vững, đồng thời hạn chế sự lan tỏa, tác động, phát triển của những giá trị tiêu cực hiện tồn. Điều này có vẻ như “ngược” với quy luật thông thường, là trong điều kiện phát triển bình thường và tuần tự thì các giá trị đạo đức, giá trị phong tục tập quán được hình thành trước, rồi đến giá trị chung của xã hội, khi đó mới được “hợp thức” bằng các giá trị pháp lý. Còn trong điều kiện phát triển rút ngắn, đột biến thì trong không ít trường hợp, vai trò của giá trị pháp lý lại vượt trước (ví dụ để đẩy nhanh việc hình thành các giá trị con người - giá trị văn hóa - giá trị xã hội trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương thức rút ngắn).

 

iv). Xây dựng và phát triển các giá trị cốt lõi của con người đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh - bền vững trong kỷ nguyên mới.

 

Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 07/01/2026, về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, đã nêu cần xây dựng “chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế”.

 

Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển nhanh - bền vững đất nước trong bối cảnh quốc tế hiện nay, có thể nêu lên những yêu cầu cơ bản về xây dựng hệ giá trị con người (cũng như hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội) như sau: i) - Các giá trị thúc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; ii) - Các giá trị thúc đẩy xây dựng xã hội công nghiệp - xã hội thông tin, tiên tiến, dân chủ, văn minh; iii) - Các giá trị thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế hiệu quả (bao gồm cả hội nhập, hợp tác, cạnh tranh, đẩu tranh); xây dựng giá trị Việt Nam trên trường quốc tế; iv) - Các giá trị sống của một cá nhân gắn với một gia đình văn minh, hạnh phúc, gắn với cộng đồng nhân ái, với sự hài hòa với tự nhiên. Mỗi con người là một cá thể sinh học, một cá thể xã hội độc lập (tương đối), có những giá trị phát triển riêng của mình, có đời sống riêng của mình, cần phải tôn trọng sự phát triển đó trong tương quan với sự phát triển của xã hội.

 

Từ bốn yêu cầu cơ bản trên, xin gợi ý một số giá trị cơ bản, cốt lõi về con người cần xây dựng sau: i) Giá trị sáng tạo (tri thức khoa học - công nghệ, tự chủ, năng lực sáng tạo, năng lực tự phản biện và phản biện xã hội, dám nghĩ, dám làm; kỹ năng thực hành…). Có thể coi đây là giá trị trung tâm về con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ii) Giá trị pháp quyền, dân chủ, nhân văn, thượng tôn pháp luật, các giá trị quyền con người, quyền công dân, trách nhiệm xã hội. Đối với Việt Nam đây là một giá trị then chốt trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, tạo lập nên giá trị con người với tư cách chủ thể phát triển của đất nước; iii) - Giá trị con người chủ thể của chính mình, của gia đình hạnh phúc, cộng đồng nhân ái, nhân nghĩa, hài hòa với tự nhiên; iv) Giá trị liên kết - chia sẻ. Sự phát triển trong mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới hiện nay, không thể là thành quả và sự nỗ lực của mỗi chủ thể, mối đơn vị, mỗi quốc gia đơn lẻ, tách biệt như trước. Giá trị liên kết - chia sẻ thể hiện cả về lợi ích, trách nhiệm, rủi ro… Các chuỗi liên kết trong mỗi quốc gia cũng như trên thế giới, các hiệp định đa phương, song phương, các khối nước, các tổ chức quốc tế, quá trình toàn cầu hóa…đã nói lên điều này;  v) Giá trị về lòng tự hào - tự tôn dân tộc - đồng thuận dân tộc.

 

Thực tiễn trên thế giới cho thấy, không có quốc gia nào có thể phát triển mạnh - bền vững nếu thiếu (hoặc yếu) giá trị này. Vì đây là giá trị kết nối ý chí và khát vọng của mỗi con người, của mọi chủ thể trong xã hội thành giá trị của dân tộc, kết nối các giá trị truyền thống của dân tộc với các giá trị của thời đại, đưa dân tộc vượt qua những khó khăn, thách thức để vươn lên. Như vậy cần xây dựng đồng bộ các giá trị đạo đức (đạo làm người với tính cách là chủ thể của quá trình phát triển), giá trị sáng tạo, giá trị dân chủ, giá trị pháp lý - kỷ cương, giá trị trách nhiệm xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.

vi). Xây dựng và phát triển con người, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng với yêu cầu phát triển nhanh - bền vững đất nước trên nền tảng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cần nhận thức đúng, đầy đủ về mối quan hệ giữa phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Trong Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó có đột phá về “phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao”. Điều này là đúng, vì nguồn nhân lực là lực lượng chủ lực của sự phát triển. Song quan điểm này mới đề cập phát triển con người từ giác độ người lao động - chuyên gia, mà chưa đề cập rõ đến vấn đề cốt lõi là phát triển con người với tư cách là chủ thể quá trình phát triển đất nước. Vấn đề phát triển con người không thể chỉ được tiếp cận từ giác độ “nguồn nhân lực” - người lao động, mà phải từ giác độ “phát triển con người - chủ thể và mục tiêu của quá trình đổi mới và phát triển đất nước”. Phát triển con người phải là “gốc” là “nền tảng” của phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia.

 

Do đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Xây dựng và phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, “đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”; Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Phát triển nhanh và bền vững phải lấy con người, văn hóa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm trung tâm. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp… Đây là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực của đất nước.

 

Cần nhận thức cho đúng yêu cầu về đào tạo đồng bộ đội ngũ nhân lực, nhất là đội ngũ nhân lực chất lượng cao, trình độ cao đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Nhận thức rõ đội ngũ nhân lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH, chuyển đổi mô hình tăng trường sang phát triển theo chiều sâu không chỉ là những người hoạt động trực tiếp trong các lĩnh vực KHCN; mà phải bao gồm đồng bộ các loại nhân lực: nhân lực lãnh đạo - quản lý nhà nước các cấp; nhân lực chuyên gia tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách phát triển, ứng dụng KHCN; nhân lực trực tiếp lãnh đạo - quản lý hoạt động của các đơn vị KHCN & ĐMST; đội ngũ chuyên gia, chuyên viên trực tiếp thực hiện các hoạt động KHCN & ĐMST; đội ngũ nhân lực làm các nhiệm vụ gắn với ứng dụng, phát triển KHCN trong các tổ chức kinh tế, xã hội; đội ngũ doanh nhân, đội ngũ nhân viên, công nhân lành nghề, trình độ cao thực hiện các hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp, đơn vị (trong đó phải kể đến cả các chủ hộ nông dân ứng dụng công nghệ cao)…Sự đồng bộ của đội ngũ nhân lực này ở mọi cấp độ, mới đảm bảo cho sự phát triển, ứng dụng KHCN & ĐMST thực sự có hiệu quả. Từ thực tiễn đặt ra yêu cầu mới là đào tạo và sử dụng nhân lực đồng bộ theo chuỗi sản xuất kinh doanh, để rút ngắn thời gian đào tạo, nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nhân lực, gắn đào tạo liên tục với quá trình sử dụng. Chính yêu cầu này đặt ra mỗi tổ chức, mỗi đơn vị, cộng đồng phải là một chủ thể, một môi trường thuận lợi, phù hợp để phát triển đa dạng con người.

 

v). Đẩy mạnh đổi mới và tạo bước đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo

 

Giáo dục - đào tạo có chức năng cơ bản là phát triển toàn diện con người, quyết định tương lai của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV nêu rõ nhiệm vụ phải “tạo bước đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo”, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế”. Văn kiện đại hội cũng đã nhấn mạnh giáo dục phải đặt trọng tâm vào phát triển con người; Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW) ngày 22/8/2025, nêu rõ “phát triển giáo dục trên nền tảng văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại, chuẩn mực quốc tế; giáo dục, đào tạo công dân Việt Nam trở thành công dân toàn cầu”; “Giáo dục mầm non, phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực người học”, “Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới”.

 

Giáo dục - đào tạo phải đặt trọng tâm vào phát triển toàn diện con người Việt Nam với tư cách là chủ thể của quá trình phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới, theo định hướng: Phát triển bản sắc - phẩm chất - năng lực của mỗi con người trong sự gắn kết hữu cơ với sư phát triển các giá trị của gia đình, cộng đồng, quốc gia - dân tộc, và với các giá trị tốt đẹp của nhân loại. Phát triển con người đồng bộ về “Tâm lực - Trí lực - Kỹ lực - Thể lực - cuộc sống hạnh phúc”. Tâm lực - được đặt lên hàng đầu và cuộc sống hạnh phúc là điểm hướng tới của sự phát triển con người. Tâm lực là những giá trị về đạo đức, văn hóa, lối sống, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội, khát vọng vương lên, cống hiến cho đất nước…; Trí lực - là tư duy đổi mới sáng tạo, những giá trị về năng lực tri thức chuyên môn…; Kỹ lực - là những giá trị về kỹ năng thực hành, hiểu biết thực tiễn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, kỹ năng mềm, khả năng hợp tác - liên kết và hội nhập trong làm việc và cuộc sống; Thể lực - là những giá trị về thể chất con người, cùng với các giá trị khác đảm bảo cho sống và làm việc khỏe mạnh, hạnh phúc.

 

 Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong tất cả các lĩnh vực và cấp độ nhân lực (từ lãnh đạo cấp cao đến người lao động bình thường), trọng tâm là hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng. Phát triển nguồn nhân lực gắn hữu cơ với phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng, làm chủ công nghệ mới, tạo nền tảng để khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, tạo bứt phá về năng suất lao động, chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu, đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

 

Để tạo được bước đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, phải đẩy mạnh đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình và phương thức giáo dục - đào tạo; gắn liền với xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới.

 

vii)- Xây dựng thể chế phát triển đồng bộ hệ sinh thái phát triển con người kết nối hữu cơ giữa con người - gia đình - các tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị - cộng đồng - xã hội - hội nhập quốc tế, hài hòa với tự nhiên

 

Phát triển con người là kết quả tổng hợp của các quá trình “tự giáo dục” - giáo dục gia đình - giáo dục nhà trường - giáo dục trong các đơn vị - giáo dục trong công đồng - giáo dục xã hội. Các giá trị con người được hình thành từ ba kênh chủ yếu: tự giáo dục của bản thân (chính tâm tu thân); giáo dục từ các tổ chức, đơn vị mà cá nhân tham gia, và giáo dục từ tác động cộng đồng, xã hội. Trên thực tế, tất cả các kênh này đều có thể có những tác động tích cực và tiêu cực đến hình thành giá trị con người.

 

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới, phải sớm hình thành và khảng định những giá trị con người mang tính “vượt trội” (như giá trị sáng tạo, giá trị phản biện, dám đổi mới, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm…) trở thành những giá trị chi phối chủ đạo trong phát triển con người, trong giáo dục - đào tạo, trong sự vận hành của hệ thống chính trị, trong nền sản xuất xã hội, trong đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải xây dựng đồng bộ, có sự gắn kết hữu cơ với nhau giữa các hệ giá trị con người, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị của các tổ chức, đơn vị, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội, và được quy tụ ở hệ giá trị quốc gia -  dân tộc thể hiện bản sắc của dân tộc trong giai đoạn phát triển mới, phát triển bền vững hài hòa giữa xã hội và tự nhiên.

 

Để đạt được điều này, cần phải xây dựng thể chế phát triển đồng bộ hệ sinh thái phát triển con người kết nối hữu cơ giữa con người - gia đình - các tổ chức kinh tế, xã hội - các đơn vị trong hệ thống chính trị - cộng đồng - xã hội - tự nhiên. Thể chế đó có chức năng kết nối, tôn vinh, phát triển các giá trị tốt đẹp, có tác động thúc đẩy phát triển; đồng thời đấu tranh, hạn chế, “triệt tiêu” các tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển.

 

viii). Vai trò đặc biệt của chủ thể Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền trong việc xây dựng và phát triển con người - các giá trị con người

 

Để xây dựng và hiện thực hóa các giá trị con người (cũng như các giá trị văn hóa, giá trị xã hội) trong đời sống xã hội, thì rất quan trọng là các giá trị đó phải được cụ thể hóa phù hợp đối với từng chủ thể theo vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể trong xã hội: cá nhân (trong tư cách con người và công dân), gia đình, doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư, nhà trường, tổ chức xã hội, hệ thống của Đảng, hệ thống nhà nước... Hệ giá trị của mỗi chủ thể sẽ đóng vai trò điều tiết hoạt động của các chủ thể đó trong xã hội trong sự tương tác, tác động lẫn nhau.

 

Ở đây xin nhấn mạnh vai trò của Đảng và của Nhà nước. Với tư cách là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì về nguyên tắc Đảng (các tổ chức đảng) có hai nhiệm vụ quan trọng, đó là: xây dựng hệ giá trị của Đảng phải là sự kết tinh và tiêu biểu cao của các giá trị phát triển xã hội, trong đó có giá trị con người (Đảng ta là trí tuệ, là đạo đức, là văn minh - Hồ Chí Minh), thể hiện vai trò của người lãnh đạo suốt đời vì dân, vì nước, là tấm gương sáng dẫn dắt dân tộc phát triển; đồng thời lãnh đạo nhà nước và xã hội xây dựng và phát triển các giá trị tốt đẹp về con người, về văn hóa, về xã hội.

 

Nhà nước cũng sẽ có hai nhiệm vụ trọng yếu là: Xây dựng hệ giá trị của nhà nước pháp quyền “của dân, do dân, vì dân”, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức “thực đức - thực tài”, thực sự là “công bộc” của dân, xây dựng nền hành chính công khai, công bằng, dân chủ, bình đẳng, hiệu quả, trách nhiệm giải trình cao; đồng thời cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển con người - các giá trị con người (giá trị, văn hóa, giá trị xã hội), gắn kết hữu cơ giữa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm giải trình của mối cá nhân, đơn vị trong xã hội; phát triển các chủ thể năng động sáng tạo, kiến tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Những giá trị tốt đẹp của Đảng cầm quyền và của Nhà nước pháp quyền sẽ là tấm gương dẫn dắt, định hướng, điều tiết chủ đạo đối với sự phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội; kiến tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng và quản lý của nhà nước.

 

Đảng và Nhà nước phải xây dựng được hệ giá trị của chính mình, tiêu biểu cho những giá trị của dân tộc và giá trị tốt đẹp của nhân loại trong giai đoạn mới; phải xây dựng được thể chế và thiết chế để hiện thực hóa các giá trị đó trong thực tiễn lãnh đạo và quán lý phát triển đất nước. Tạo lập niềm tin của nhân dân và của xã hội vào tấm gương và kết quả thực tế sự lãnh đạo - quản lý của mình. Đồng thời, Đảng và Nhà nước phải đổi mới - tăng cường sự lãnh đạo và quản lý đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội Việt Nam. Đảng và Nhà nước phải trở thành nhân tố then chốt - quyết định trong việc hình thành và phát triển hệ giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội, làm động lực nội sinh mạnh mẽ cho sự phát triển bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới.

 

PGS.TS Trần Quốc Toản

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; NXB CTQG-ST, 2011
  2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; NXB CTQG-ST, 2016
  3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; NXB CTQG-ST, 2021
  4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; NXB CTQG-ST, 2026
  5. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 07/01/2026, về phát triển văn hóa Việt Nam.
  6. Nghị quyết số 71-NQ/TW) của Bộ Chính trị, ngày 22/8/2025, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
  7. Trần Quốc Toản, Về hệ giá trị con người, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội; Trang Hdll.vn ; ngày phát hành: 05/09/2018
  8. Trần Quốc Toản, Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội: Thực trạng, vấn đề và giải pháp; TrangHdll.vn; phần 1 phát hành ngày 05/04/2022, phần 2 phát hành ngày 07/04/2022

 

                                  

 

 

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết