Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn đan xen với thách thức chưa từng có. Bối cảnh thế giới biến đổi nhanh, phức tạp và khó dự báo, với sự cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn, xu thế phân cực - đa cực đan xen, các cú sốc toàn cầu về kinh tế, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, vấn đề tự chủ chiến lược nổi lên như một yêu cầu có tính sống còn đối với mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, tự chủ chiến lược không chỉ là một lựa chọn chính sách, mà là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn liền với mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị - xã hội, phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việc nhận thức đúng, làm rõ nội hàm, vai trò và giải pháp nâng cao tự chủ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạch định đường lối phát triển quốc gia trong giai đoạn tới.
1. Khái niệm tự chủ chiến lược
Trong bối cảnh trật tự thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và toàn cầu hóa bộc lộ nhiều rủi ro, tự chủ chiến lược (strategic autonomy) trở thành khái niệm trung tâm trong nghiên cứu quan hệ quốc tế và phát triển. Theo Mario Damen (2022), tự chủ chiến lược là khái niệm đề cập đến khả năng của quốc gia hành động một cách tự chủ - tức là không phụ thuộc vào các quốc gia khác - trong các lĩnh vực chính sách quan trọng mang tính chiến lược. Các lĩnh vực này có thể bao gồm từ chính sách quốc phòng đến kinh tế, và khả năng duy trì các giá trị dân chủ, nhân văn [1]. Nhấn mạnh khía cạnh đối ngoại, Louis- Philippe Morneau (2024), cho rằng, tự chủ chiến lược là chính sách đối ngoại được thực hiện với mục đích giảm thiểu các ràng buộc từ bên ngoài. Đó là khả năng của một quốc gia trong việc phát triển và duy trì một chiến lược tổng thể mà không cần cam kết vào các thỏa thuận chính thức không cần thiết có thể tạo ra những hạn chế đối với chiến lược đó; và nếu cần thiết phải cam kết với các bên khác, và phải có các phương án thay thế để tránh bất lợi, bị động. Tự chủ chiến lược là khả năng của một chủ thể trong việc xây dựng một phản ứng nhất quán đối với bất kỳ tình huống bất ngờ nào và tránh được những hạn chế có thể cản trở việc đạt được mục tiêu của chủ thể đó [3]. Gắn với vai trò của chính phủ, James Jay Carafano (2025), xem, tự chủ chiến lược là việc chính phủ chịu trách nhiệm và giải trình về hành động của mình - chịu trách nhiệm với cử tri, chịu trách nhiệm với bạn bè và đồng minh, và trên hết là chịu trách nhiệm trước sự đánh giá sáng suốt và thực tế về lợi ích quốc gia của mình [2].
Tóm lại, tự chủ chiến lược có thể hiểu là khả năng của một quốc gia trong việc chủ động xác định mục tiêu, lựa chọn con đường phát triển, hoạch định và thực thi các quyết sách chiến lược cơ bản của mình, trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc, không bị chi phối, áp đặt hay lệ thuộc vào bất kỳ thế lực bên ngoài nào, đồng thời có đủ năng lực nội sinh để ứng phó hiệu quả với những biến động của môi trường trong nước và quốc tế.
Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với tự cô lập, khép kín hay đứng ngoài các tiến trình hợp tác quốc tế. Ngược lại, đó là tự chủ trong hội nhập, chủ động mở cửa nhưng không đánh mất quyền tự quyết chiến lược; là độc lập trong tư duy, linh hoạt trong hành động, biết tận dụng tối đa các nguồn lực bên ngoài để phục vụ lợi ích quốc gia, đồng thời giữ vững định hướng chiến lược lâu dài.
Tự chủ chiến lược là một khái niệm đa chiều, bao hàm nhiều lĩnh vực, trong đó có thể khái quát một số nội hàm cốt lõi sau:
Thứ nhất, tự chủ về chính trị - chiến lược. Đây là nội dung cốt lõi, thể hiện ở khả năng giữ vững độc lập trong đường lối, quan điểm, quyết sách lớn; không để bị lôi kéo, lệ thuộc hoặc đứng về phía này để chống lại phía kia trong quan hệ quốc tế. Quốc gia có năng lực tự chủ cao là quốc gia giữ vững độc lập trong hoạch định chính sách lớn, không bị chi phối hay áp đặt từ bên ngoài; có khả năng cân bằng quan hệ với các nước lớn, không rơi vào phụ thuộc chiến lược; duy trì ổn định chính trị - xã hội và sự thống nhất trong hệ thống lãnh đạo.
Thứ hai, tự chủ về kinh tế. Tự chủ kinh tế là nền tảng vật chất của tự chủ chiến lược, thể hiện ở khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn; mức độ phụ thuộc vào bên ngoài (vốn, công nghệ, thị trường, năng lượng, lương thực) được kiểm soát; chủ động tham gia và thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, hạn chế các điểm nghẽn phụ thuộc mang tính rủi ro cao. Sức chống chịu và khả năng phục hồi của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Thứ ba, tự chủ về quốc phòng - an ninh. Đây là khả năng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa truyền thống và phi truyền thống; thể hiện ở mức độ tự chủ trong công nghiệp quốc phòng và bảo đảm an ninh chiến lược, sự gắn kết giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại.
Thứ tư, tự chủ về khoa học - công nghệ và tri thức. Trong bối cảnh kinh tế số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành trụ cột mới của tự chủ chiến lược. Tự chủ về khoa học - công nghệ và tri thức thể hiển ở năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng; ở mức độ đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D); chất lượng nguồn nhân lực khoa học - công nghệ; khả năng chuyển hóa tri thức thành năng suất, giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Thứ năm, tự chủ về văn hóa và con người. Đây là nền tảng tinh thần của tự chủ chiến lược, thể hiện ở việc giữ vững bản sắc văn hóa, hệ giá trị, niềm tin xã hội và khát vọng phát triển dân tộc; ở mức độ đồng thuận, niềm tin xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân; chất lượng nguồn nhân lực, dân trí và ý chí tự cường dân tộc; khả năng bảo đảm công bằng xã hội, an sinh và phát triển bao trùm.
Thứ sáu, tự chủ đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tự chủ không tách rời hội nhập, mà được đánh giá qua: Khả năng triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; mức độ chủ động tham gia và đóng góp vào các thể chế khu vực, toàn cầu; uy tín, vị thế và mức độ tin cậy của quốc gia trong cộng đồng quốc tế; khả năng tận dụng nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển mà không đánh mất quyền tự quyết.
Năng lực tự chủ của một quốc gia phản ánh trình độ phát triển tổng hợp về chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội và quản trị quốc gia. Quốc gia có năng lực tự chủ cao không phải là quốc gia “ít hội nhập”, mà là quốc gia hội nhập sâu nhưng không lệ thuộc, mở cửa rộng nhưng không đánh mất quyền tự quyết, đủ bản lĩnh và năng lực để phát triển bền vững trong một thế giới đầy biến động.
2. Vai trò của tự chủ chiến lược đối với sự phát triển quốc gia
Thứ nhất, tự chủ chiến lược là điều kiện bảo đảm độc lập, chủ quyền và ổn định quốc gia. Lịch sử thế giới cho thấy, những quốc gia thiếu tự chủ chiến lược thường dễ rơi vào tình trạng bị chi phối, áp đặt hoặc trở thành “vệ tinh” trong các toan tính quyền lực của nước lớn. Đối với Việt Nam, một quốc gia có vị trí địa - chính trị quan trọng, tự chủ chiến lược là lá chắn căn bản để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong mọi tình huống.
Thứ hai, tự chủ chiến lược tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững. Chỉ khi có tự chủ chiến lược, quốc gia mới có thể chủ động lựa chọn mô hình phát triển, thứ tự ưu tiên và nhịp độ cải cách phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình. Tự chủ chiến lược giúp Việt Nam hạn chế được những cú sốc từ bên ngoài, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và xã hội trước các biến động toàn cầu.
Thứ ba, tự chủ chiến lược nâng cao vị thế và uy tín quốc tế. Một quốc gia có tự chủ chiến lược cao thường được nhìn nhận là đối tác độc lập, đáng tin cậy, có tiếng nói và trọng lượng trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Đối với Việt Nam, tự chủ chiến lược là nền tảng để thực hiện thành công đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, trở thành bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Thứ tư, tự chủ chiến lược là cơ sở để khơi dậy và phát huy sức mạnh nội sinh. Tự chủ chiến lược không chỉ là vấn đề đối ngoại hay an ninh, mà còn là động lực tinh thần to lớn, góp phần khơi dậy niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên của toàn xã hội. Khi quốc gia có chiến lược phát triển độc lập, rõ ràng, Nhân dân và doanh nghiệp sẽ có niềm tin dài hạn để đầu tư, sáng tạo và cống hiến.
3. Thực tiễn Việt Nam
Nhìn lại lịch sử tiến trình cách mạng Việt Nam, tư tưởng độc lập, tự chủ luôn giữ vị trí trung tâm trong đường lối của Đảng. Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, coi đó là con đường duy nhất bảo đảm quyền làm chủ thực sự của Nhân dân và sự phát triển lâu dài của đất nước. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, độc lập, tự chủ trước hết được thể hiện ở việc kiên quyết giữ vững quyền tự quyết dân tộc, không lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào, đồng thời phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, kết hợp với tranh thủ sự ủng hộ quốc tế trên cơ sở nguyên tắc. Đây là nền tảng tư tưởng - chính trị cho việc hình thành quan niệm về tự chủ trong tư duy phát triển của Đảng ta. Bước vào thời kỳ Đổi mới, trong điều kiện đất nước chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập quốc tế, nội hàm của độc lập, tự chủ tiếp tục được mở rộng. Độc lập, tự chủ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị - quân sự, mà được đặt ra một cách toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, đối ngoại, văn hóa và mô hình phát triển. Các Văn kiện từ Đại hội VI đến Đại hội XIII đều nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn này, trọng tâm là làm thế nào để tận dụng được các nguồn lực bên ngoài cho phát triển, đồng thời giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và tránh rơi vào phụ thuộc.
Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển quan trọng khi lần đầu tiên nêu rõ quan điểm tự chủ chiến lược. Đây là sự phát triển về chất so với khái niệm độc lập, tự chủ trước đây. Nếu độc lập, tự chủ trước đây chủ yếu nhấn mạnh vào việc không phụ thuộc, không bị chi phối từ bên ngoài, thì tự chủ chiến lược đặt trọng tâm vào năng lực lựa chọn con đường phát triển, đối tác, nhịp độ và không gian phát triển phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc trong bối cảnh thế giới biến động khôn lường và phân mảnh, cạnh tranh chiến lược gay gắt.
Tự chủ chiến lược được thể hiện đồng thời trên nhiều phương diện: kinh tế (tự chủ về chuỗi cung ứng, năng lực sản xuất cốt lõi), khoa học - công nghệ (làm chủ công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược), thể chế (tự chủ trong thiết kế chính sách), quốc phòng - an ninh và đối ngoại (đa phương hóa, đa dạng hóa, không liên minh đối đầu). Đây là điểm mới quan trọng so với các nhiệm kỳ trước, khi tư duy tự chủ chủ yếu được đặt trong khuôn khổ bảo đảm ổn định và hội nhập an toàn.
Thứ nhất, về tự chủ chiến lược - chính trị: Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã hình thành và duy trì vững chắc năng lực tự chủ chiến lược về chính trị. Đường lối phát triển đất nước, đối nội và đối ngoại đều xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc, không bị chi phối hay lệ thuộc vào bất kỳ trung tâm quyền lực nào. Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt trong sách lược, không chọn bên, không đứng về phía nước này để chống nước kia. Năng lực này được thể hiện rõ qua việc Việt Nam giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn và các đối tác chiến lược, tạo thế cân bằng động, bảo đảm môi trường hòa bình cho phát triển. Đây là trụ cột quan trọng nhất của tự chủ quốc gia.
Thứ hai, về tự chủ kinh tế: Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng về tự chủ kinh tế: duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập sâu rộng với mạng lưới FTA thế hệ mới. Tuy nhiên, mức độ tự chủ kinh tế chưa thật sự bền vững. Nền kinh tế vẫn phụ thuộc tương đối lớn vào khu vực FDI, nhập khẩu công nghệ, nguyên liệu đầu vào; vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu còn ở khâu trung bình - thấp. Điều này cho thấy tự chủ kinh tế của Việt Nam đang ở trạng thái cần không ngừng gia tăng.
Thứ ba, về tự chủ khoa học - công nghệ: Trong bối cảnh hiện nay, đây là khâu yếu nhất trong năng lực tự chủ của Việt Nam. Dù khoa học - công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng còn hạn chế; đầu tư cho R&D còn thấp so với yêu cầu và thấp so với các quốc gia khác[1]; liên kết giữa nghiên cứu - sản xuất - thị trường chưa chặt chẽ. Điều này khiến Việt Nam dễ bị tổn thương trước các đứt gãy chuỗi cung ứng công nghệ và hạn chế khả năng nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu không tạo được đột phá về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tự chủ chiến lược của Việt Nam sẽ thiếu nền tảng dài hạn.
Thứ tư về tự chủ quốc phòng - an ninh: Việt Nam đã xây dựng được nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ ổn định chính trị - xã hội. Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy cho thấy trình độ tư duy chiến lược ngày càng cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh an ninh phi truyền thống gia tăng (an ninh mạng, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường), yêu cầu đặt ra là mở rộng nội hàm tự chủ quốc phòng - an ninh, gắn chặt hơn với kinh tế, khoa học - công nghệ và đối ngoại.
Thứ năm, về tự chủ đối ngoại và hội nhập quốc tế: Việt Nam hiện nay có năng lực tự chủ đối ngoại khá cao. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa được triển khai hiệu quả; Việt Nam vừa hội nhập sâu, vừa giữ vững quyền tự quyết chiến lược. Uy tín và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao; Việt Nam được nhìn nhận là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Điều này cho phép Việt Nam tận dụng tốt nguồn lực bên ngoài mà không đánh mất tự chủ, một đặc trưng quan trọng của tự chủ chiến lược hiện đại.
Thứ sáu, về tự chủ văn hóa – xã hội và quản trị quốc gia: Việt Nam giữ vững bản sắc văn hóa, ổn định xã hội, có mức độ đồng thuận xã hội tương đối cao - đây là nền tảng tinh thần quan trọng của tự chủ quốc gia. Đồng thời, năng lực quản trị quốc gia từng bước được nâng cao, thể chế ngày càng hoàn thiện. Tuy vậy, yêu cầu mới đặt ra là phải tiếp tục nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực bộ máy, năng lực dự báo và phản ứng chính sách để tự chủ không chỉ là mục tiêu, mà trở thành năng lực thực chất.
Tóm lại, nhìn tổng thể, Việt Nam đã hình thành năng lực tự chủ chiến lược khá vững chắc về chính trị - đối ngoại - quốc phòng, nhưng tự chủ kinh tế và đặc biệt là tự chủ khoa học - công nghệ vẫn là khâu quyết định cần đột phá. Việc nâng cao năng lực tự chủ quốc gia trong kỷ nguyên mới vì vậy phải tập trung vào củng cố nội lực, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học - công nghệ và hoàn thiện thể chế, trên nền tảng kiên định độc lập, tự chủ và hội nhập chủ động, tích cực.
4. Giải pháp tiếp tục nâng cao tự chủ chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, hoàn thiện tư duy và lý luận về tự chủ chiến lược. Đây là giải pháp có tính nền tảng, là cơ sở để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trước hết, cần làm rõ nội hàm, phạm vi và phương thức thực hiện tự chủ chiến lược trong điều kiện mới. Tự chủ chiến lược không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh hay đối ngoại, mà là khái niệm tổng hợp, bao trùm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, thông tin - truyền thông. Do đó, cần tiếp cận tự chủ chiến lược như một năng lực tổng thể của quốc gia, được hình thành từ sự kết hợp hữu cơ giữa tiềm lực vật chất, thể chế, con người, văn hóa và uy tín quốc tế. Cần gắn chặt tự chủ chiến lược với các chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa mục tiêu tự chủ và mục tiêu phát triển. Tự chủ chiến lược không phải là mục tiêu tự thân, mà là điều kiện để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong nước và quốc tế về tự chủ chiến lược, làm rõ những mô hình, cách tiếp cận phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Việc phát triển lý luận về tự chủ chiến lược cần được đặt trong tổng thể lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về xây dựng nền kinh tế tự chủ gắn với hội nhập quốc tế toàn diện, chủ động, tích cực.
Thứ hai, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Kinh tế là trụ cột trung tâm của tự chủ chiến lược. Một nền kinh tế phụ thuộc, dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài sẽ không thể bảo đảm tự chủ chiến lược, dù có tiềm lực quân sự hay đối ngoại đến đâu. Do vậy, cần đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, xác lập mô hình tăng trương mới dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là con đường căn bản để nâng cao nội lực và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Cùng với đó, phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, coi đây là những động lực mới của tăng trưởng và là không gian chiến lược để Việt Nam bứt phá. Việc làm chủ các công nghệ nền tảng của kinh tế số, chuyển đổi xanh không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn là vấn đề tự chủ chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế ngày càng gay gắt. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân lớn, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp công nghiệp nền tảng, từng bước làm chủ các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng quan trọng. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, tạo điều kiện để hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Song song xây dựng các chuỗi cung ứng có khả năng tự chủ và thích ứng cao, giảm phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác hay một nguồn cung duy nhất. Bài học từ các cú sốc toàn cầu gần đây cho thấy, tự chủ chiến lược kinh tế gắn liền với khả năng đa dạng hóa, linh hoạt và dự phòng rủi ro.
Thứ ba, đẩy mạnh đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Đối ngoại là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nhất và trực tiếp nhất năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, Việt Nam càng cần kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trước hết, cần chủ động tham gia định hình các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, không chỉ ở vai trò “người tham gia”, mà từng bước nâng cao vai trò “người kiến tạo luật chơi” trong những lĩnh vực phù hợp với lợi ích và năng lực của Việt Nam. Điều này giúp Việt Nam nâng cao vị thế, tiếng nói và khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia từ sớm, từ xa. Bên cạnh đó, cần kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng - an ninh và phát triển kinh tế, tạo thế đan xen lợi ích với các đối tác, qua đó tăng cường dư địa chiến lược và khả năng tự chủ. Đối ngoại kinh tế cần được triển khai theo hướng phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nâng cao nội lực và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Tận dụng tối đa nguồn lực bên ngoài như vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, nhưng trên cơ sở chủ động lựa chọn, sàng lọc và làm chủ, tránh phụ thuộc hay đánh đổi lợi ích chiến lược lâu dài. Tự chủ chiến lược trong đối ngoại không đồng nghĩa với khước từ hợp tác, mà là làm chủ quá trình hội nhập.
Thứ tư, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh và năng lực ứng phó rủi ro. Quốc phòng - an ninh là trụ cột bảo đảm trực tiếp cho tự chủ chiến lược của quốc gia. Trong bối cảnh các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, có khả năng răn đe, phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với mọi tình huống. Cần tiếp tục xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh ngay từ cơ sở. Đây là nền tảng để bảo đảm tự chủ chiến lược trong mọi tình huống. Đồng thời, một mặt cần nâng cao năng lực dự báo chiến lược, kịp thời nhận diện sớm các nguy cơ, thách thức, từ đó chủ động xây dựng phương án ứng phó. Trong bối cảnh rủi ro ngày càng phức tạp, năng lực dự báo và quản trị rủi ro trở thành một cấu phần quan trọng của tự chủ chiến lược. Mặt khác, cần chủ động phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh thông tin. Đây là những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến ổn định xã hội và phát triển bền vững, do đó gắn chặt với tự chủ chiến lược quốc gia.
Thứ năm., phát triển con người, văn hóa và củng cố niềm tin xã hội. Con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của tự chủ chiến lược. Không có một xã hội đồng thuận, một nguồn nhân lực chất lượng cao và một nền văn hóa vững mạnh thì không thể có tự chủ chiến lược bền vững. Cần đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược tự chủ, coi phát triển con người toàn diện là nền tảng lâu dài của sức mạnh quốc gia. Đầu tư cho giáo dục, đào tạo, khoa học - công nghệ không chỉ là đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, mà còn là đầu tư cho năng lực tự chủ chiến lược. Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm công dân. Văn hóa và niềm tin xã hội là “sức mạnh mềm” đặc biệt quan trọng, giúp tăng cường sự gắn kết xã hội và khả năng vượt qua các thách thức. Cùng với đó, phải củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, thông qua việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình. Niềm tin xã hội là nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho tự chủ chiến lược.
Thứ sáu, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Đây chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam xây dựng và củng cố vững chắc tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới. Trước hết là nâng cao năng lực hoạch định đường lối chiến lược, bảo đảm tầm nhìn dài hạn và nhất quán. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tư duy chiến lược theo hướng khoa học, hiện đại, dựa trên phân tích sâu sắc bối cảnh khu vực và toàn cầu, nhất là cạnh tranh nước lớn, chuyển dịch chuỗi giá trị và cách mạng công nghiệp mới. Việc ban hành chủ trương phải gắn với dự báo dài hạn, tránh tư duy nhiệm kỳ, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho các quyết sách chiến lược của quốc gia. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị, bảo đảm sự thông suốt từ Trung ương đến cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược có tư duy toàn cầu, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng xử lý các vấn đề phức tạp trong môi trường quốc tế nhiều biến động. Bên cạnh đó, tăng cường năng lực lãnh đạo về xây dựng đồng thuận xã hội và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn xã hội là nguồn lực mềm quan trọng của tự chủ chiến lược. Thông qua công tác tư tưởng, truyền thông và vận động xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, từ đó tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho các quyết sách chiến lược dài hạn.
*
* *
Tự chủ chiến lược là yêu cầu mang tính khách quan, là điều kiện tiên quyết để Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Những thành tựu sau 40 năm Đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng cho tự chủ chiến lược, nhưng chặng đường phía trước vẫn đặt ra nhiều yêu cầu mới, cao hơn. Chỉ bằng cách kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời đổi mới tư duy, nâng cao năng lực nội sinh và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, Việt Nam mới có thể hiện thực hóa khát vọng phát triển hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.
PGS.TS. Vũ Văn Hà, Hội đồng Lý luận Trung ương
TS. Lê Minh Tâm, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Tài liệu tham khảo chính
1. Mario Damen (2022), EU strategic autonomy 2013-2023: From concept to capacity; Briefing EU Strategic Autonomy Monitor July 2022
2. James Jay Carafano (2025), Strategic Autonomy: A Reality Check - The National Interest
3. Louis- Philippe Morneau (2024), Theory of Strategy Autonomy: U.S. Foreign Policy between 1823 and 1921; Morneau-PhD-S2024.pdf
4. Vitor Bento (2022), Tự chủ chiến lược và sức mạnh kinh tế: Kinh tế là bệ phóng chiến lược” Tập đoàn Taylor & Francis xuất bản (bản dịch của Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ, https://cis.org.vn/, ngày 12/12/2022
5. Vũ Lê Thái Hoàng và Ngô Di Lân (2025), Tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên mới, https://baoquocte.vn, ngày 20/11/2025
[1] Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Việt Nam chỉ đạt 0,5% GDP, bằng một phần tư so với mục tiêu 2%. Theo tính toán gần đây của World Bank vào năm 2021, mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, tức gấp hơn 5 lần Việt Nam. https://vietnambiz.vn/, ngày 19/2/2025.