Thứ Ba, ngày 19 tháng 05 năm 2026

Xây dựng quốc gia Việt Nam hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc

Ngày phát hành: 19/05/2026 Lượt xem 23

Đặt vấn đề

 

Xây dựng quốc gia hạnh phúc không chỉ đơn thuần là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia về phương diện giàu có vật chất, mà còn chứa đựng ý tưởng cao cả về sự phát triển toàn diện đời sống tinh thần, đời sống thể chất của từng con người, hướng tới một xã hội dân chủ công bằng và văn minh. Trong đó nhấn mạnh các yếu tố nền tảng quan trọng của quốc gia hạnh phúc gồm: đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân luôn luôn được cải thiện, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, an sinh, phúc lợi xã hội luôn được đáp ứng; trong xã hội trẻ em, người lớn đều có cơ hội, tạo mọi điều kiện được tiếp cận công bằng, tôn trọng và được trao quyền đúng với năng lực, không ai bị bỏ lại phía sau; các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, giữ gìn, phát triển, hội nhập với nền văn hóa đa dạng của thế giới, con người được khuyến khích, sáng tạo trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; cộng đồng dân cư là một khối gắn kết, đồng thuận, quan tâm, chia sẻ, hỗ trợ, bảo vệ cho nhau vì sự hưng thịnh, hùng cường và hạnh phúc của quốc gia.

 

 

Hiện nay, trên thế giới chỉ số hạnh phúc của khá nhiều quốc gia tập trung vào những giá trị cốt lõi sau đây:

 

Thứ nhất, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trung bình tính trên đầu người được xác định là chỉ số mà người dân các nước trên khắp các lục địa quan tâm lớn nhất. Chính phủ coi chỉ số này là một yếu tố kinh tế để tạo nên sự hài lòng đầu tiên của người dân sinh sống trên đất nước đó[1].

 

Thứ hai, Tuổi thọ của người dân ở mức cao và có sức khỏe tốt được khẳng định là chỉ số nền tảng của cuộc sống hạnh phúc quốc gia. Yếu tố đảm bảo hạnh phúc cho con người được thể hiện thông qua các chính sách an sinh xã hội, chế độ phúc lợi cho mọi người dân đều tốt. Trong xã hội có sự kết nối, đồng thuận, chia sẻ của người dân, tạo thành cộng đồng dân cư, môi trường xã hội đáng sống, đáng gắn bó lâu dài, suốt đời, mọi người đều sống vui, sống khỏe, sống an khang, sống có ích[2].

 

Thứ ba, Nhà nước tôn trọng quyền tự quyết định sự lựa chọn của cá nhân về học tập, nghề nghiệp, hôn nhân, gia đình và nguyện vọng của họ để tạo nên những giá trị làm người dân hài lòng được coi là một chỉ số của quốc gia hạnh phúc. Ngay từ khi còn nhỏ, mọi công dân đều được xã hội tôn trọng, được tạo cơ hội, điều kiện tiếp cận kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống mà xã hội đòi hỏi để giúp họ thích nghi, phát triển và trở thành công dân hữu ích.

 

Thứ tư, Chỉ số quan trọng hàng đầu của quốc gia hạnh phúc đó là nền giáo dục chất lượng, hiện đại, xóa bỏ mọi rào cản, mọi người dân được học tập suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc, phù hợp với nguyện vọng của bản thân. Nhà nước có các chính sách để không ai bị bỏ lại phía sau[3].

 

Như vậy, dựa trên những nghiên cứu nước ngoài, có thể khẳng định hạnh phúc của một quốc gia được xây dựng với những chỉ số hạnh phúc cấu thành như: tổng sản phẩm quốc nội-GDP/đầu người, tuổi thọ bình quân cao, quyền con người và quyền công dân được tôn trọng, dịch vụ giáo dục và y tế, an sinh là dịch vụ lý tưởng...Việc xác lập cơ sở lý luận cho một quốc gia hạnh phúc không thể giới hạn trong một ngành khoa học riêng lẻ mà đòi hỏi sự giao thoa giữa kinh tế học, tâm lý học và xã hội học. Trong bối cảnh phát triển toàn cầu hiện nay, khái niệm quốc gia hạnh phúc đã được tiếp cận theo hướng đa chiều, phản ánh sự kết hợp giữa điều kiện vật chất, trạng thái tâm lý và chất lượng các mối quan hệ xã hội với những chỉ số hạnh phúc có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển bền vững của dân tộc, của cộng đồng và của mỗi con người ở bất cứ quốc gia nào. Các xu hướng và chuyển dịch của hạnh phúc toàn cầu ngày càng được tiếp cận như một khái niệm có thể định lượng thông qua các hệ chỉ số cụ thể, thay vì chỉ được xem như một trạng thái mang tính cảm nhận. Hệ thống đo lường hiện đại cho thấy sự khác biệt giữa các quốc gia không chỉ nằm ở quy mô thu nhập hay mức tăng trưởng kinh tế, mà còn ở cách thức thiết kế và vận hành các cơ chế chính sách nhằm tối ưu hóa mức độ hài lòng của người dân, yếu tố nền tảng của một xã hội hạnh phúc.

 

- Quốc gia hạnh phúc là quốc gia có nền quản trị nhà nước tốt. Mọi chính sách được xây dựng, hoạch định bảo đảm minh bạch, công bằng, tôn trọng ý kiến của người dân và quyền lợi, phúc lợi của người dân trong xã hội được bảo đảm, tạo nền tảng cho sự gắn kết cộng đồng.

 

- Quốc gia hạnh phúc là quốc gia phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, việc làm phát triển đa dạng để ai cũng có cơ hội tiếp cận, đón nhận và khoảng cách giàu - nghèo giảm dần.

- Quốc gia hạnh phúc là quốc gia các giá trị văn hóa được bảo tồn, duy trì và phát triển. Đồng thời tôn trọng sự khác biệt và sự đa dạng văn hóa bản địa và tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại trên thế giới.

 

- Quốc gia hạnh phúc là quốc gia môi trường tự nhiên được bảo vệ và phát triển. Hệ sinh thái được gìn giữ, môi trường không bị hủy hoại, tài nguyên thiên nhiên không bị khai thác đến cạn kiệt.

 

2. Xây dựng quốc gia Việt Nam hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc

 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn coi hạnh phúc của dân gắn liền với độc lập và tự do của đất nước. Trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” (tháng 6/1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Mục đích của thi đua ái quốc là gì?; Diệt giặc đói khổ; Diệt giặc dốt nát; Diệt giặc ngoại xâm. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến; Toàn diện kháng chiến. Trong thi đua ái quốc, chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc là: Toàn dân sẽ đủ ăn, đủ mặc; Toàn dân sẽ biết đọc biết viết; Toàn bộ đội sẽ đầy đủ lương thực khí giới; Để giết giặc ngoại xâm; Toàn quốc sẽ thống nhất hoàn toàn. Thế là chúng ta đã thực hiện: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc[4]..”.

 

Sau khi được nhân dân giao cho quyền hạn lãnh đạo (tháng 9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định trên các văn bản hành chính phải ghi rõ Quốc hiệu (tên chính thức của đất nước) và Tiêu ngữ (lý tưởng, mục tiêu xây dựng đất nước)[5]. Hôm nay, qua chặng đường 80 năm đầy gian khó nhưng hào hùng, Quốc hiệu (tên chính thức của đất nước Việt Nam đã thay đổi một lần), còn Tiêu ngữ thì không thay đổi. Như vậy, theo quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập và tự do là hai giá trị cốt lõi của Hạnh phúc (không có gì quý hơn độc lập và tự do).

 

Tiếp nối lý tưởng, mục tiêu Hạnh phúc của Việt Nam giai đoạn phát triển mới, hướng tới quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc trong kỷ nguyên số, tại diễn văn Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2025), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề cập đến mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 - năm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của chúng ta tròn 100 tuổi - “Việt Nam sẽ trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu”, Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội kiến tạo những thể chế phát triển, kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào trong và ngoài nước đoàn kết, đồng lòng, chung sức biến khát vọng thành hiện thực trên cơ sở phát huy cao độ trí tuệ, sức sáng tạo và bản lĩnh Việt Nam.

 

Quan niệm về Quốc gia hạnh phúc mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra, giúp chúng ta hiểu rằng, Quốc gia hạnh phúc là mô hình phát triển đánh giá sự tiến bộ của xã hội dựa trên chất lượng cuộc sống, sự hài lòng của người dân thay thế cho chỉ số tổng sản phẩm quốc nội GDP truyền thống, quan tâm vào tổng sản lượng giá trị làm ra và những dịch vụ được cung ứng. Quốc gia hạnh phúc là quốc gia phải lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống. Các cấp ủy đảng cam kết chăm lo đầy đủ tới đời sống của dân, luôn coi hạnh phúc của dân gắn liền với độc lập và tự do của đất nước. Như vậy, chúng ta vươn tới hòa bình, thịnh vượng, dân tộc ta trường tồn và phát triển.

 

Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, khẳng định quan điểm: tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân. Trong đó, xây dựng quốc gia hạnh phúc, phát triển đất nước nhanh bền vững, tập trung vào những chỉ số đánh giá cụ thể: GDP/đầu người tăng nhanh, hướng tới mục tiêu 8.500 USD (đến năm 2030) và 27.000 USD (đến năm 2045); Tuổi thọ trung bình của người dân (cả nam và nữ) là 75,5 năm, trong đó số năm khỏe mạnh là 68 năm; Toàn dân (100%) được kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm, tiến tới miễn phí; chăm sóc sức khỏe ban đầu có hiệu quả, giúp cho người dân không chỉ không bệnh tật, mà thoải mái về phát triển thể chất cũng như tinh thần; bữa ăn học đường sẽ được miễn phí, hướng tới mục tiêu nâng cao tầm vóc con người Việt Nam; bảo đảm tỷ lệ 19 bác sĩ/10.000 dân; phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất, thăng hạng trên bảng xếp hạng về hạnh phúc: 46/143 quốc gia (năm 2025), tiến tới hạng 35/143 quốc gia (năm 2026); phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; thực hiện có hiệu quả các quyết sách chiến lược nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế”…Đến năm 2030, 75% dân số hài lòng với sự phát triển xã hội bền vững, tiến bộ, công bằng.

 

 

Như vậy, để có được chỉ số hạnh phúc cao nhất, xây dựng quốc gia hạnh phúc trước tiên phải dựa trên các yếu tố: Hài lòng với các thể chế, quyết sách của Đảng và Nhà nước; bằng lòng với dịch vụ công; thoải mái về tâm lý, phát triển sức khỏe, thể chất và tinh thần; Yên tâm với chính sách an sinh xã hội; phấn khởi có việc làm, không lo lắng thất nghiệp; hào hứng tham gia học tập suốt đời dưới nhiều hình thức giáo dục và đào tạo, phù hợp với các đối tượng, từng địa phương. Đây là một mệnh lệnh mà mỗi cán bộ, đảng viên trong cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị phải đề cao trách nhiệm đối với công việc này.

 

3. Xu hướng xây dựng quốc gia Hạnh phúc trên thế giới, vấn đề đặt ra cho Việt Nam

 

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà tri thức là nguồn lực quan trọng bậc nhất của sự phát triển, là “năng lượng mới” của thế kỷ XXI. Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội; sự phát triển của công nghệ mang tính đột phá trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (trí tuệ nhân tạo-AI, mạng 5G,..) đưa đến những ngành, nghề mới, xuất hiện nhiều kỹ năng mới, đặt ra những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân.

 

Khủng hoảng kinh tế, biến động chính trị xã hội tác động tiêu cực mạnh mẽ hơn nữa tới toàn thế giới, không miễn trừ Việt Nam, nhất là chiến tranh Trung Đông và chiến tranh ở Ucraina,…có nguy cơ ập xuống đầu nhân loại những tai họa khôn lường. Sự biến đổi khí hậu, những đại dịch cũng sẽ có thể diễn ra ác liệt, rất khó đoán trước. Những kỹ thuật nền tảng đã được nâng lên mức hiện đại hơn để chuẩn bị cho sự hình thành từng bước cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ năm, cuộc cách mạng chuyển xã hội tri thức hiện nay trên thế giới sang xã hội thông minh khi kỷ nguyên số kết thúc vào giữa thế kỷ XXI này. Dự báo sự ra đời những thành phố thông minh, nền kinh tế thông minh và công dân thông minh sẽ là nền tảng cho kỷ nguyên thông minh của loài người. Yêu cầu đặt ra cho con người hiện tại phải chuẩn bị cho mình những tri thức mới để làm chủ: về AI (trí tuệ nhân tạo) để trở thành AI Native (Trí tuệ nhân tạo bản địa), có chức năng thiết kế từ cốt lõi thay vì tích hợp AI vào quy trình sẵn có; Cobots (robot cộng tác) được sử dụng để thúc đẩy mạnh hơn sự hợp tác giữa người và máy, hướng tới con người làm trung tâm trong sản xuất bền vững và cá nhân hóa; Internet vạn vật kết nối máy - máy (M2M), kết nối các thiết bị trong nhà máy dựa vào dữ liệu thời gian thực, tạo ra quy trình sản xuất linh hoạt; Tự động hóa thông minh (Intelligent Automation) với sự kết hợp giữa tự động hóa công nghiệp 4.0 với trí tuệ nhân tạo vào các quy trình xanh, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm bảo vệ môi trường….Khẳng định rằng, trong quá trình tiến tới xã hội thông minh, các chỉ số hạnh phúc của Quốc gia sẽ thay đổi và  không giữ nguyên trạng như các chỉ số mà Liên Hợp Quốc đang dùng hiện nay để xếp hạng các quốc gia hạnh phúc.

 

Đồng thời, những năm gần đây, các xu hướng và chuyển dịch của hạnh phúc toàn cầu ngày càng được tiếp cận như một khái niệm có thể định lượng thông qua các chỉ số cụ thể, thay vì chỉ được xem như một trạng thái mang tính cảm nhận. Các hệ thống đo lường hiện đại cho thấy sự khác biệt giữa các quốc gia không chỉ nằm ở quy mô thu nhập hay mức tăng trưởng kinh tế, mà còn ở cách thức thiết kế và vận hành các cơ chế chính sách nhằm tối ưu hóa mức độ hài lòng của người dân. Những mô hình minh chứng thực tiễn quan trọng cho việc nhận diện các yếu tố nền tảng của một xã hội hạnh phúc: mô hình xây dựng quốc gia hạnh phúc “Lòng tin và an sinh toàn diện” tại các quốc gia có thu nhập cao Bắc Âu[6]; hay như “Bền vững và Kỳ vọng sống” tại Costa Rica,  quốc gia có quy mô kinh tế trung bình vẫn đạt được mức độ hài lòng cuộc sống đáng kể thông qua việc ưu tiên các mục tiêu phát triển bền vững[7], khả năng đạt được mức độ hạnh phúc cao mà không phụ thuộc hoàn toàn vào quy mô tăng trưởng GDP; và mô hình xây dựng quốc gia hạnh phúc dựa trên “Hạ tầng quản trị công minh bạch và hệ thống an sinh xã hội được số hóa” tại khu vực châu Á Thái Bình Dương (Nhật Bản và Hàn Quốc) đã tăng khả năng thích ứng linh hoạt với những thách thức xã hội mới của hệ thống y tế dựa trên ứng dụng công nghệ số trong quản lý sức khỏe cộng đồng, phát triển mạng lưới trung tâm sinh hoạt cộng đồng nhằm tăng cường kết nối xã hội và hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho người dân, thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của công nghệ trong việc duy trì ổn định xã hội và hỗ trợ năng lực phục hồi quốc gia, yếu tố nền tảng của một xã hội hạnh phúc.

 

Trong bối cảnh đó, vấn đề tự học, học thường xuyên, học tập suốt đời sẽ là một yêu cầu cao trong Quốc gia hạnh phúc. Yêu cầu đặt ra với những thế hệ Z, Alpha, Beta sẽ buộc phải học hết chương trình đại học; hệ thống y tế, an sinh xã hội phải mở rộng, hiện đại giúp cho các thế hệ này có tuổi thọ cao với số năm khỏe mạnh vượt trội so với các thế hệ hiện nay. Từ đó quan điểm tiếp cận về chính sách giáo dục, y tế, sức khỏe, hưu trí, phúc lợi xã hội cũng sẽ được điều chỉnh, các chỉ số hạnh phúc cũng sẽ được cập nhật, bổ sung.

 

Đối với Việt Nam, để thực hiện được hiệu quả sự thăng hạng mức 35/143 quốc gia vào năm 2026, và vào nhóm 40 quốc gia hạnh phúc hàng đầu thế giới, yêu cầu đặt ra cho mỗi cán bộ, đảng viên nhất thiết phải nhận thức đầy đủ bối cảnh quốc tế và trong nước khi xây dựng Việt Nam trở thành Quốc gia hạnh phúc. Những đặc trưng cốt lõi của Quốc gia Việt Nam hạnh phúc sẽ là chuyển đổi số toàn diện mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; nền kinh tế số và xã hội số kết nối chặt chẽ; yếu tố con người là cốt lõi, tạo ra lực lượng lao động có kỹ năng số theo tiêu chuẩn quốc tế, cộng đồng công dân số có năng lực sử dụng công nghệ hiệu quả; tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của đất nước; hạ tầng số phải thật sự vững mạnh với chính sách pháp lý rõ ràng về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, phát triển doanh nghiệp số và khởi nghiệp[8]…Đây là điều kiện tiên quyết, yêu cầu mọi công dân, cán bộ, đảng viên phải quyết tâm thực hiện cho bằng được.

 

Thứ nhất, Quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về “Học tập suốt đời”, trong đó Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh “Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa...”. Đất nước đang đứng trước “sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số” như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; chỉ có con đường tự học, học suốt đời thực chất, mới giúp chúng ta tạo ra được đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt; có tư duy, tầm nhìn, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung; giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ. Muốn vậy, mỗi người cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự học tập, học suốt đời, không chỉ học về kiến thức, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn mà quan trọng hơn cả là học về tư cách, đạo đức người cán bộ cách mạng, để làm sao phụng sự tổ chức, phụng sự đoàn thể, phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại một cách tốt nhất như di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

 

Thứ hai, Các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm thể chế về xây dựng và phát triển Quốc gia Việt Nam hạnh phúc, bảo đảm Việt Nam liên tục thăng hạng trên bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc trên thế giới do Liên Hợp quốc điều hành và tổ chức đánh giá hàng năm. Phát huy cao nhất trí tuệ, phẩm chất cách mạng, lòng yêu nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị trong nghiên cứu, sáng tạo, cống hiến cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Nhất là thế hệ cán bộ, đảng viên trẻ cần thể hiện tinh thần dấn thân vì công việc, chủ động tham gia vào quá trình xây dựng và phản biện chính sách trên tinh thần khoa học, nhân văn, dân tộc trong các lĩnh vực mũi nhọn như khoa học công nghệ, giáo dục- đào tạo, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, xã hội số, chuyển đổi năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn…Từ đó, xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước, góp phần bổ sung tri thức, định hình đường lối phát triển của đất nước trên tinh thần hài lòng với các thể chế, quyết sách của Đảng và Nhà nước vì nước, vì dân, vì sự trường tồn của dân tộc.

 

Thứ ba, Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, gắn kết chặt chẽ phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023 - 2030”, với phong trào thi đua phát triển kinh tế-xã hội vì mục tiêu tăng trưởng bền vững 2 con số giai đoạn 2026-2030. Thường xuyên lồng ghép nội dung về chuyển đổi số với chuyển đổi xanh trong các cuộc sinh hoạt đảng, học tập quán triệt chỉ thị, nghị quyết mới của Đảng và Nhà nước, qua đó giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn những yếu tố cốt lõi để tạo nên các mô hình hạnh phúc có ý nghĩa quan trọng, là chìa khóa mở ra những cách làm sáng tạo trong nhân dân đối với việc xây dựng gia đình hạnh phúc, cộng đồng hạnh phúc...vì mục tiêu một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần phát động thi đua xây dựng môi trường làm việc hạnh phúc, theo tinh thần “Bình dân học vụ số”, gắn với xây dựng môi trường công sở xanh, sạch, đẹp, gắn với đánh giá, biểu dương, khen thưởng, để mọi thành viên của tổ chức hoàn toàn có thể tạo ra những đóng góp thiết thực vào tăng năng suất, hiệu suất lao động cho cơ quan, đơn vị, đất nước và cộng đồng một cách ổn định, bền vững.

 

 

Thứ tư, Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là người bạn đồng hành, là mái nhà chung bảo đảm cho gia đình mình hạnh phúc, cộng đồng nơi mình sinh sống hạnh phúc. Xây dựng các mô hình “Gia đình hạnh phúc”, “Cộng đồng hạnh phúc” trở thành hệ sinh thái xanh, khu dân cư xanh, vùng xanh, thành phố xanh, giúp mọi người kết nối với nhau, hỗ trợ, chia sẻ với nhau, phẩn khởi, hào hứng tham gia học tập, cống hiến trong công tác, điều kiện rất cơ bản để có được đơn vị, tổ chức, xóm làng hạnh phúc, khu phố hạnh phúc, thành phố hạnh phúc, quốc gia hạnh phúc. Có ý thức lan tỏa tinh thần học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập, phát triển văn hóa học tập trong gia đình, địa bàn dân cư. Tích cực tuyên truyền, vận động người thân trong gia đình, dòng họ, tổ dân phố, xã, phường kiên trì học tập suốt đời để trở thành công dân hữu ích phục vụ cộng đồng phát triển, đưa cộng đồng trở thành môi trường xã hội đáng sống, đáng gắn bó suốt đời, yếu tố cốt lõi của quốc gia hạnh phúc, quốc gia phát triển bền vững. Tham vấn với địa phương xây dựng kế hoạch lấy ý kiến cư dân trên địa bàn về các chỉ số hạnh phúc, từ đó có phương án điều chỉnh, cải thiện để tăng sự hài lòng của người dân đối với công tác quản trị ở địa phương.

 

Thứ năm, Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới để giáo dục, đào tạo công dân Việt Nam trở thành công dân toàn cầu trong môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại là tầm nhìn, là xu hướng phát triển đất nước Việt Nam hạnh phúc. Trong đó các yếu tố giáo dục cảm xúc, phát triển năng lực cá nhân và kết nối xã hội giữ vai trò quan trọng bên cạnh các chỉ số kinh tế. Việc tái định hướng giáo dục theo hướng phát triển hạnh phúc bền vững là một trong những giải pháp mà mỗi cán bộ, đảng viên, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong hệ thống cần xác định để thực hiện thành công nhiệm vụ đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên mới. Tích hợp giáo dục cảm xúc - xã hội vào chương trình các môn học, hoạt động giáo dục trong các nhà trường giúp người học phát triển các năng lực tự chủ, năng lực cá nhân và khả năng kết nối xã hội trong triển khai xây dựng mô hình “Trường học Hạnh phúc”. Mô hình trường được kỳ vọng có sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng (trường học không có bạo lực, gia đình không có đổ vỡ, bạo hành, xã hội có những công dân nhân ái, trách nhiệm vì cộng đồng, người dân hài lòng với thể chế, người học cảm thấy an toàn tin tưởng, gắn bó nhiều hơn với gia đình, trường học, địa bàn cư trú của mình…).

 

Kết luận

 

Hạnh phúc quốc gia không tồn tại như một trạng thái tách biệt mà được hình thành và duy trì trong mối liên hệ chặt chẽ với cấu trúc xã hội. Trong đó, vốn xã hội và lòng tin được xem là những yếu tố nền tảng quyết định mức độ ổn định và gắn kết của cộng đồng. Các nhu cầu cốt lõi, bao gồm nhu cầu về tự chủ (autonomy), nhu cầu về năng lực (competence) và nhu cầu về liên kết xã hội (relatedness) trong phát triển năng lực cá nhân, duy trì các mối quan hệ và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, nâng cao tính minh bạch quản trị quốc gia…được xem là những định hướng quan trọng nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sống của người dân trong dài hạn, nâng cao mức độ hạnh phúc của toàn xã hội, nền tảng của hạnh phúc quốc gia bền vững.

 

Xây dựng quốc gia Việt Nam hạnh phúc không chỉ gắn với tăng trưởng kinh tế mà còn liên quan chặt chẽ đến chất lượng quản trị, hệ thống an sinh và mức độ hài lòng của người dân. Hiểu đúng, đầy đủ và nắm chắc về quan điểm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, những chỉ số quan trọng của Quốc gia hạnh phúc là lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống, luôn coi hạnh phúc của nhân dân gắn liền với độc lập và tự do của đất nước, giúp mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, khơi dậy khát vọng cống hiến và lòng tự hào dân tộc để mang đến những tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, làm cho dân tin, dân ủng hộ, đồng hành chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, xây dựng quốc gia Việt Nam hạnh phúc, phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 

TS. Lê Thị Mai Hoa, Phó Vụ trưởng,

Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

 

Tài liệu tham khảo:

 

1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

2. Bài viết về “Học tập suốt đời”, của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

3. Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.

4. Kết luận số 49-KL/TW ngày 10/5/2029 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đổi với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

5. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

6. Helliwell, J. F., Layard, R., Sachs, J. D., De Neve, J.-E., Aknin, L. B., & Wang, S. (Eds.). (2024). World Happiness Report 2024. University of Oxford: Wellbeing Research Centre.

7. OECD. (2020). How's Life? 2020: Measuring Well-being. OECD Publishing.

8. Diener, E., & Seligman, M. E. (2004). Beyond money: Toward an economy of well-being. Psychological Science in the Public Interest, 5(1), 1-31.

9. OECD. (2024). How's Life? 2024: Well-being and Resilience in Times of Crisis. OECD Publishing.

10. Martela, F., & Sheldon, K. M. (2019). Clarifying the Concept of Well-Being: Psychological Need Satisfaction as the Common Core Connecting Eudaimonic and Subjective Well-Being. Review of General Psychology23(4), 458-474.

11. Cawvey, Matthew, and others, 'Biological and Psychological Influences on Interpersonal and Political Trust', in Eric M. Uslaner (ed.), The Oxford Handbook of Social and Political Trust, Oxford Handbooks (2018; online edn, Oxford Academic, 10 Jan. 2017),

12. Helliwell, J. F., Layard, R., Sachs, J. D., De Neve, J.-E., Aknin, L. B., & Wang, S. (Eds.). (2026). World Happiness Report 2026. University of Oxford: Wellbeing Research Centre.

13. Sachs, J.D., Lafortune, G., Fuller, G., Iablonovski, G. (2025). Financing Sustainable Development to 2030 and Mid-Century. Sustainable Development Report 2025. Paris: SDSN, Dublin: Dublin University Press. DOI: https://doi.org/10.25546/111909

14. OECD/WHO (2024), Health at a Glance: Asia/Pacific 2024, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/51fed7e9-en.

 

 

 



[1] Theo Tổng cục thống kê, tính đến năm 2025, GDP/đầu người của 10 quốc gia cao nhất trên toàn cầu gồm: Luxembourg 140.914 USD; Ireland: 108.919 USD; Thụy Sĩ: 104.896 USD; Singapore: 92.392 USD; Iceland: 90.248 USD; Na Uy: 89.694 USD; Hoa Kỳ: 89.105 USD; Ma Cao: 76.314 USD; Đan Mạch: 74.696 USD và Quatar: 71.653 USD. Việt Nam, GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD (tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD), đứng thứ 32 trên thế giới và xếp thứ 4 ở khu vực ASEAN (sau Indonesia, Singapore và Thái Lan).

[2] Quốc gia có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới là Monaco, trung bình là 86,5 tuổi, nữ giới cao hơn nam giới (88 tuổi); Tiếp đến San Marino, tuổi thọ trung bình là 85,8 tuổi; Singapore là 84,38 tuổi; Đặc biệt, ở Nhật Bản hiện nay tuổi thọ trung bình của Nam giới là 81,64 tuổi, Nữ giới là 87,74 tuổi. Trong đó số các cụ già sống trên 100 năm tuổi lớn hơn 100.000 người, có người sống đến 110 tuổi mà vẫn đi lại, giao tiếp, làm việc bình thường, suy nghĩ tích cực, thoải mái. Ikaria (Hy Lạp) là vùng xanh nổi tiếng, người dân sống vui và sống khỏe, cứ 3 người cao tuổi thì có 1 người sống qua tuổi 90. Các bệnh ung thư, tim mạch, trầm cảm... mà người trung niên tới người già cả tại các nước trên thế giới đều dễ mắc phải, thì tại Ikaria, nguy cơ mắc những bệnh này rất thấp.Việt Nam theo Kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình, tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2025 là 74,7 tuổi, trong đó tuổi thọ trung bình của nam là 72,3 tuổi và nữ là 77,3 tuổi, và với gia đình người Việt trong nhà có người tuổi thọ cao được coi đó là gia đình hạnh phúc.

[3] Một số quốc gia điển hình có hệ thống giáo dục chất lượng cao, đứng đầu thế giới: Hoa Kỳ, đứng đầu xếp hạng các trường đại học học danh tiếng, hệ thống giáo dục tập trung vào kiến tạo, khởi nghiệp; Vương quốc Anh, sở hữu nhiều trường đại học thuộc top đầu thế giới, thu hút đông đảo học sinh, sinh viên toàn cầu đến học tập, nghiên cứu; Đức, với những trường đại học công miễn phí cho sinh viên và sự định hướng rõ ràng đối với từng cấp học của hệ thống giáo dục; Canada, nước có tỷ lệ người có trình độ đại học vượt trội so với nhiều nước phát triển, chất lượng giáo dục rất cao nhờ hệ thống kiểm định nghiêm ngặt và chặt chẽ…

[4] Hồ Chí Minh, “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, Về vấn đề giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr 72-73.

[5] Từ tháng 9/1945 tới 30/6/1976, Quốc hiệu của Việt Nam là: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Tiêu ngữ của Việt Nam là; Độc lập - Tự do - Hạnh phúc; Từ tháng 7/1976 đến nay, Quốc hiệu của Việt Nam là: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tiêu ngữ là: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

[6] Phần Lan, Đan Mạch điển hình trong việc xây dựng mô hình quốc gia hạnh phúc dựa trên nền tảng lòng tin xã hội và hệ thống an sinh toàn diện, một yếu tố có khả năng làm giảm chi phí vận hành xã hội và tăng cường hiệu quả hợp tác giữa các chủ thể trong nền kinh tế luôn ở vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng hạnh phúc toàn cầu trong nhiều năm liên tiếp… Phần Lan đã áp dụng cơ chế an sinh linh hoạt (flexicurity), trong đó thị trường lao động được thiết kế theo hướng linh hoạt, đồng thời hệ thống trợ cấp thất nghiệp và đào tạo lại được duy trì ở mức cao nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp; chỉ số “Tự do lựa chọn cuộc sống” thường xuyên duy trì ở mức trên 9,4/10 trong các bảng đánh giá quốc tế, tỷ lệ hỗ trợ xã hội được ghi nhận ở mức cao, thường vượt ngưỡng 90%; người dân được bảo đảm bởi một mạng lưới an sinh vững chắc đã giúp họ duy trì mức độ lạc quan và sẵn sàng tham gia tích cực vào các hoạt động cộng đồng, qua đó góp phần củng cố mức độ hài lòng chung của xã hội.

 

[7] Một trong những quyết định chính sách quan trọng của quốc gia này là chuyển hướng nguồn lực tài chính sang đầu tư cho y tế và giáo dục, tạo nền tảng cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ công và cải thiện mức độ tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội thiết yếu, góp phần củng cố niềm tin của người dân và duy trì sự ổn định của các chỉ số hạnh phúc.

 

[8] Những chỉ số hạnh phúc cụ thể được xác định trong văn kiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng: Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng GDP hàng năm đạt > 10%/năm; GDP/đầu người đạt 8.500 USD (năm 2030), hướng tới mức 27.000 USD (năm 2045). Tuổi thọ trung bình: Tuổi thọ trung bình cả nước: 75,5 năm; Số năm sống khỏe: 68 năm. Dịch vụ y tế: Toàn dân (100%) được kiểm tra sức khỏe định kỳ; Bảo đảm tỷ lệ 19 bác sĩ/10.000 dân. Môi trường xã hội: Xây dựng các mô hình “Gia đình hạnh phúc”;  “Cộng đồng hạnh phúc” ; “Trường học hạnh phúc”. Quản trị xã hội: Quản trị Nhà nước minh bạch; Tôn trọng quyền dân chủ lựa chọn của nhân dân (công dân dám nghĩ, dám nói, dám làm, dân chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung).

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết