Thứ Sáu, ngày 15 tháng 05 năm 2026

Nâng cao vai trò của chủ thể nhà nước trong thể chế phát triển văn hóa giai đoạn mới

Ngày phát hành: 15/05/2026 Lượt xem 22

                                            

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ trong giai đoạn mới phải “Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa Việt Nam tiến tiến, đạm đà bản sắc dân tộc”, để văn hoá thực sự “là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Trong phát triển văn hóa, xây dựng và thực thi thể chế phát triển văn hóa, chủ thể nhà nước có vai trò đa diện, đặc biệt quan trọng: vừa là chủ thế ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa, vừa là chủ thể quản lý nhà nước về tổ chức thực hiện pháp luật cơ chế, chính sách phát triển văn hóa, vừa là chủ thể kiểm tra, giám sát việc thực hiện thể chế phát triển văn hóa, đồng thời nhà nước (các đơn vị, cơ quan nhà nước) cũng là một thiết chế văn hóa, có giá trị văn hóa đặc trưng của nhà nước pháp quyền; mặt khác, nhà nước còn là một đối tác với các chủ thể khác trong quá trình phát triển văn hóa. Việc xác định rõ vai trò của nhà nước trong thể chế phát triển văn hóa là rất quan trọng, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

 

 

 

I. VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

 

Vai trò của Nhà nước trong thể chế phát triển văn hóa có những đặc điểm, chức năng chung của nhà nước pháp quyền; đồng thời có những đặc điểm, chức năng riêng do bản chất của văn hóa, quá trình phát triển văn hóa chế định. Vì vậy cần xuất phát từ bản chất của văn hóa, quá trình phát triển văn hóa để xem xét về vai trò của nhà nước trong thể chế phát triển văn hóa.

 

1. Nhận thức về bản chất của văn hóa và vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển

 

(i). Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia. Tuy nhiên, khi nhìn nhận về vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển hiện có những cách tiếp cận khác nhau, điều đó một phần quan trọng phụ thuộc vào quan niệm về văn hóa. Năm 2001, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” (Unesco, năm 2001)[1].

Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa chứa đựng cả yếu tố vật chất và phi vật chất, tuy nhiên vai trò chủ yếu của văn hóa là về lĩnh vực tinh thần - phi vật chất (tâm hồn, tri thức, cảm xúc, văn học, nghệ thuật, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, đức tin,…). Hơn nữa, theo định nghĩa này văn hóa thuộc phạm trù của một xã hội hay một nhóm người, như vậy vai trò của văn hóa trong cá nhân con người và vai trò của văn hóa trong thể chế chính trị - xã hội (nhất là nhà nước) đã không được đề cập tới.

 

(ii). Quan niệm của Đảng ta về văn hóa cũng có những bước phát triển. Sau năm 1986, bước vào công cuộc Đổi mới, kế thừa và phát triển quan điểm về văn hóa của các giai đoạn trước, Đảng ta đưa ra nhận thức: văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống.

 

Năm 1998, Nghị quyết T.Ư 5 (Khóa VIII) của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, khẳng định “Văn hóa Việt Nam là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”.

 

Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã nhấn mạnh “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mĩ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiên dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.

 

Tiếp tục phát triển các quan điểm trước đây về phát triển văn hóa, Đại hội lần thứ XII, XIII của Đảng đã nhấn mạnh quan điểm: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

 

Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hoá Việt Nam; bảo đảm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hoá thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

 

Như vậy, quan niệm của Đảng ta về văn hóa đã tiến tới khẳng định “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần”, “là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đồng thời chỉ rõ vị trí của văn hóa - “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Mặt khác, khi khẳng định văn hóa “là sức mạnh nội sinh” của sự phát triển, thì văn hóa phải được tiếp cận là nội dung mang tính bản chất cơ bản, hữu cơ của chính các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội…; không thể coi là yếu tố “bên ngoài, bên cạnh” tác động qua lại với các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội...

 

(iii). Để xác định đúng vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, cần thiết phải nhận thức sâu sắc quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa.

 

Năm 1943 Người nêu lên quan niệm tổng quát về văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn[2]. Quan niệm tổng quát của Hồ Chí Minh về văn hóa cho thấy văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần, văn hóa chính là đời sống lao động sáng tạo gắn với phương thức tổ chức đời sống của xã hội loài người, văn hóa vừa là nhân tố bản chất bên trong vừa là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển con người, của nền sản xuất xã hội loài người. Hay nói cách khái quát, văn hóa là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Từ quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh, có thể hiểu văn hóa còn là sự thống nhất hữu cơ giữa con người và tự nhiên (thiên nhiên); vì tự nhiên không chỉ là môi trường, điều kiện sống, mà còn là “đối tác” phát triển chính con người, xã hội con người, như một chủ thể văn hóa. Mặc dù thiên nhiên không phải do con người sáng tạo ra; tuy nhiên, với sự phát triển của loài người, nhất là về khoa học - công nghệ, thiên nhiên “hoang sơ” không có dấu chân người cũng không còn nữa. Vì vậy, thiên nhiên ngày nay cũng có thể nói là thiên nhiên văn hóa. Con người và thiên nhiên hòa quyện với nhau trở thành một thực thể văn hóa. Điều đó đang nói lên một vai trò rất mới của văn hóa - văn hóa sinh thái. Chính vì vậy mà Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững cả về kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái. Có thể nói quan niệm phát triển bền vững là một giá trị văn hóa tổng hợp của sự phát triển trong thời đại ngày nay, và trở thành một giá trị nhân loại.

 

2. Vai trò của Văn hóa trong phát triển

 

Văn hóa có vai trò động lực nội sinh của sự phát triển, được thể hiện ở vai trò của văn hóa, nội dung văn hóa mang tính bản chất trong hoạt động của mỗi chủ thể và trong toàn xã hội, gắn với vai trò và chức năng của từng chủ thể, như trên đã phân tích. Để hiểu rõ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển thì cần tránh cách hiểu văn hóa thiên về giác độ cách ứng xử, quan hệ văn hóa; văn hóa chỉ quy về các hoạt động văn hóa, chỉ thuộc lĩnh vực tinh thần…; mà phải hiểu văn hóa là những giá trị cốt lõi định hướng, chi phối hoạt động của các chủ thể và toàn xã hội trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái. Nhìn nhận một cách khái quát văn hóa có những vai trò chủ yếu sau:

 

(i) - Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của mô hình - con đường - thể chế phát triển của một quốc gia - dân tộc, xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế chính trị thực sự “của dân, do dân và vì dân”. Xác lập mục tiêu bao trùm của sự phát triển là vì con người - con người vừa là chủ thể vừa là mục tiêu của sự phát triển. Các giá trị này thường được xác định, chế định trong cương lĩnh của các Đảng cầm quyền, trong hiến pháp, pháp luật, chiến lược phát triển của quốc gia,…

 

(ii) - Là cơ sở để xác lập các giá trị cốt lõi của thể chế kinh tế, triết lí và đạo đức kinh doanh thúc đẩy phát triển năng động, hiệu quả, hài hòa và bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển bao trùm “không để ai tụt lại phía sau”. Xác lập hệ giá trị phát triển chung của quốc gia trong định hướng phát triển dài hạn và trong những giai đoạn cụ thể. Hệ giá trị phát triển đó được cụ thể hóa thành các giá trị phát triển trong các lĩnh vực con người, chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.

 

(iii) - Là cơ sở để xác lập các giá trị xã hội, lối sống xã hội, nền đạo đức xã hội thượng tôn pháp luật, nhân văn, nhân ái, tôn trọng quyền con người, quyền công dân. Là cơ sở để tạo nên “sức mạnh mềm” trong phát triển.

 

(iv) - Là cơ sở để xác lập hệ giá trị phát triển cùng với cơ chế hoạt động tương ứng của từng chủ thể trong xã hội (thể hiện những giá trị mà chủ thể đó tuân thủ theo và hướng tới); tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của từng chủ thể cũng như toàn xã hội với tư cách là một hệ thống mở trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

(v) - Là cơ sở để xác lập hệ giá trị hợp tác và hội nhập quốc tế trên cơ sở nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, đồng thời tôn trọng các lợi ích chính đáng của các quốc gia - dân tộc khác, hợp tác bình đẳng cùng phát triển và cùng có lợi, cùng bảo vệ các giá trị chung của nhân loại.

 

(vi) - Là cơ sở để xây dựng cơ chế liên kết - điều tiết sự phát triển thông qua liên kết các giá trị giữa các chủ thể và trong toàn xã hội, tạo nên nền tảng cố kết cộng đồng, đồng thuận xã hội; hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình phát triển.

 

Xét trên bình diện quốc gia - dân tộc, để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững, thì các giá trị con người - văn hóa phải trở thành nền tảng cốt lõi trong mọi hoạt động của tất cả các chủ thể trong xã hội, nhưng trong đó trọng trách hàng đầu đã được đặt vào vai trò giá trị văn hóa của đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền. Có thể chính vì vậy mà cách đây bảy thập kỉ, từ những ngày đầu cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh đã nói đến nguyên lí “Văn hóa soi đường quốc dân đi”. Rõ ràng Người đã xác định rất sâu sắc vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước.

 

Để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh và hệ điều tiết của sự phát triển trong mỗi chủ thể và liên kết thành sức mạnh nội sinh phát triển của cả xã hội, cần phải xây dựng và phát triển đồng bộ các trụ cột văn hóa chủ yếu sau: Một là, xây dựng và phát triển các giá trị đời sống - lối sống văn hóa. Hai là, phát triển sáng tạo các giá trị văn hóa. Ba là, xây dựng và phát triển đồng bộ các thiết chế văn hóa. Bốn là, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa phù hợp, hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Năm là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa. Sáu là, xây dựng đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nghĩa là các giá trị đó phải trở thành giá trị bản chất trong đời sống thường nhật của tất cả các chủ thể, được phát triển sáng tạo trong và gắn liền với sự phát triển của mọi lĩnh vực của xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường sinh thái,…), và được một hệ thống đồng bộ thể chế làm “giá đỡ” cho sự phát triển và phát huy các giá trị đó.

 

3. Công cuộc đổi mới: Cuộc hành trình đổi mới - xây dựng - xác lập - Phát triển các giá trị con người - giá trị văn hóa - giá trị xã hội mới

 

Công cuộc Đổi mới được bắt đầu từ thực tiễn. Chính thực tiễn đã đặt ra yêu cầu Đảng, Nhà nước và mọi chủ thể trong xã hội phải đổi mới tư duy, nhận thức, quan điểm về con đường và mô hình phát triển mà trọng tâm là phát triển kinh tế. Từ đổi mới tư duy, nhận thức mới đưa đến đổi mới đường lối, quan điểm, chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển đất nước. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng đưa ra tại Đại hội lần thứ VI (1986), xét về phương diện văn hóa, thì vấn đề đầu tiên và cũng là cốt lõi nhất chính là xác định lại hệ giá trị phát triển, trong đó cơ bản nhất là giá trị con người, giá trị lợi ích (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần), giá trị pháp lí, giá trị đạo đức của tất cả các chủ thể trong xã hội, phù hợp với đòi hỏi khách quan của sự phát triển trong giai đoạn mới.

 

Bước đột phá trong quan điểm của Đảng về lĩnh vực văn hóa gắn liền với Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) - Đại hội mở đầu thời kì Đổi mới. Đảng đã khẳng định vị trí quan trọng của văn hóa trong xây dựng nhân cách, xây dựng lối sống mới của con người, của mọi chủ thể và của cả xã hội. Yếu tố tinh thần của văn hóa một lần nữa được nhấn mạnh, hạt nhân của văn hóa tinh thần chính là rèn luyện đạo đức cách mạng, Đảng đã cụ thể hóa quan điểm ấy bằng hàng loạt Nghị quyết và Chỉ thị mang tính định hướng cho quá trình phát huy hơn nữa vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước. Nhưng không chỉ trong lĩnh vực văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp, mà chính các giá trị thể hiện trong các nghị quyết đổi mới như Khoán 100, Khoán 10, Luật Đất đai 1993, phát triển kinh tế tư nhân, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, dân chủ hóa xã hội... là những giá trị nền móng mới về sự phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội,... tạo động lực cho sự phát triển đất nước.

 

Xét theo góc độ văn hóa, quá trình Đổi mới chính là quá trình đổi mới căn bản hệ thống giá trị phát triển, được thể hiện trong những nội dung chính sau:

  • Xác lập hệ giá trị của thể chế chính trị phát triển theo định hướng XHCN, “dân chủ - pháp quyền”, hội nhập quốc tế;
  • Xác lập hệ giá trị của Nhà nước pháp quyền “của dân, do dân, vì dân”; xác lập quyền con người, quyền công dân; xác lập xã hội dông dân;
  • Xác lập các giá trị của mô hình và thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; xác lập các giá trị mới của mối quan hệ mới giữa nhà nước, thị trường và xã hội;
  • Xác lập cấu trúc (giá trị) đa sở hữu gắn với đó là cấu trúc đa chủ thể (đa thành phần) phát triển kinh tế, cả quốc doanh và ngoài quốc doanh, trong đó có việc xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ;
  • Xác lập các giá trị của nền kinh tế thị trường (hiệu quả, cạnh tranh, quy luật giá trị…);
  • Xác lập giá trị về quyền tự do - tự chủ sản xuất kinh doanh;
  • Xác lập các giá trị con người và công dân trong thể chế phát triển mới;
  • Xác lập các giá trị xã hội, quan hệ xã hội trong thể chế phát triển mới;
  • Xác lập các giá trị của Việt Nam trong hội nhập quốc tế; ….

Các giá trị đó, được Đảng và Nhà nước thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương, hiến pháp, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực đất nước. Việc hình thành hệ giá trị mới thực sự là một quá trình đấu tranh cam go cả về nhận thức lí luận và thực hiện trong thực tiễn để từng bước nhận thức và định chế đúng đắn hơn trong quá trình phát triển. Trong quá trình Đổi mới, chuyển từ thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường, đã có nhiều ý kiến thống nhất gọi đó là quá trình “cởi trói”. Xét về phương diện văn hóa đó là quá trình thay đổi hệ giá trị phát triển, “cởi bỏ” các giá trị không phù hợp và xác lập các giá trị mới phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Để sự thay đổi này được xác lập trên bình diện toàn xã hội, thành dòng chủ đạo, thì đòi hỏi phải thay đổi tư duy, nhận thức về các giá trị phát triển, về thể chế phát triển; trước hết về sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới

 

 

 

II. NÂNG CAO VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA CHỦ THỂ NHÀ NƯỚC TRONG THỂ CHẾ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

 

1. Khái quát chung vai trò của Nhà nước đối với phát triển văn hóa

 

Trên thế giới, trong quá trình phát triển văn hóa của các nước, dù với thể chế chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng Nhà nước vẫn có những vai trò chung về phát triển văn hóa; mặt khác có những vai trò và chức năng mang đặc trưng riêng của mỗi nước. Vai trò của chủ thể nhà nước về phát triển văn hóa được chế định không chỉ với những nguyên tắc chung của nhà nước pháp quyền, mà còn thể hiện (được chi phối bởi) bản chất, những đặc điểm và vai trò đặc trưng của văn hóa trong quá trình phát triển, mang tính quốc gia - dân tộc. Về tổng thể, trong thể chế phát triển văn hóa, Nhà nước thực hiện các vai trò, chức năng cơ bản sau:

 

(1). Định hướng đường lối, mục tiêu và chiến lược phát triển văn hóa

 

Trên cơ sở quán triệt quan điểm chỉ đạo của đảng cầm quyền, bối cảnh, điều kiện phát triển của đất nước, Nhà nước có vai trò và chức năng xác định đường lối, mục tiêu và chiến lược phát triển văn hóa; xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển văn hóa (chung và đối với từng lĩnh vực văn hóa) trong từng giai đoạn. Đặc biệt là thể hiện rõ đường lối, mục tiêu và chiến lược phát triển văn hóa thích ứng hiệu quả với phát triển văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phát triển văn hóa gắn hữu cơ với phát triển các lĩnh vực khác. Đối với Việt Nam, đó là đường lối phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, hiện đại và hội nhập quốc tế; tạo động lực nội sinh cho sự phát triển nhanh - bền vững đất nước.

 

(2).  Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa

 

Đây là một vai trò, chức năng rất quan trọng của nhà nước, Nhà nước phải xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa chung và về từng lĩnh vực, đối với từng loại chủ thể, phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; để vừa bảo vệ, phát triển, phát huy cao được các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu có hiệu quả, sáng tạo các giá trị văn hóa của nhân loại trong quá trình phát triển; kết nối có hiệu quả thể chế chế chính thức và thể chế phi chính thức, kết nối có hiệu quả vai trò của các chủ thể liên quan, đặc biệt là vai trò của nhà nước với các chủ thể khác trong quá trình phát triển văn hóa. Đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa bảo tồn, phát triển, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống với quá trình phát triển các giá trị văn hóa mới đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh - bề vững và hội nhập văn hóa quốc tế của đất nước. Nhưng do văn hóa là một nhân tố hữu cơ bên trong, mang tính bản chất của tất cả các chủ thể trong quá trình phát triển của tất cả các lĩnh vực; vì vậy, nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển không chỉ về phát triển các lĩnh vực văn hóa, các hoạt động văn hóa; mà trong thể chế, cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực khác phải có thành tố phát triển văn hóa như một cấu thành hữu cơ của thể chế phát triển của tất cả các chủ thể, trong tất cả các lĩnh vực.

 

(3). Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, quản lý - quản trị phát triển, giám sát hoạt động văn hóa

 

Đây là vai trò trung tâm của nhà nước về phát triển văn hóa. Tất cả đường lối, chủ trương, luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa; mọi hoạt động của các chủ thể liên quan đến văn hóa đi vào cuộc sống mức nào, hiệu quả thế nào đều phải thông qua vai trò lãnh đạo - quản lý - quản trị phát triển văn hóa của nhà nước (bộ máy nhà nước). Để thực hiện vai trò, chức năng này, nhà nước phải không ngừng hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý văn hóa từ trung ương đến cơ sở; gắn liền với đó là phải hoàn thiện đồng bộ cơ chế hoạt động của Chính phù, các bộ, ngành, địa phương để triển khai thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa.

 

Nhà nước còn phải thực hiện có hiệu quả vai trò, chức năng kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện và hiệu quả hoạt động của tất cả các chủ thể hoạt động văn hóa, các thiết chế văn hóa. Để trên cơ sở đó kịp thời phát hiện ra những bất cập, những sai lệch, những nút thắt cần phải thay đổi, bổ sung, tiếp tục hoàn thiện hệ thống phát luật, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa.

 

Đồng thời, khi văn hóa là một nhân tố hữu cơ bên trong, mang tính bản chất của tất cả các chủ thể trong quá trình phát triển của tất cả các lĩnh vực, thì việc lãnh đạo, tổ chức quản lý phát triển, giám sát hoạt động văn hóa không thể chỉ được triển khai “độc lập”, “biệt lập” riêng về các hoạt động văn hóa, thực hiện các mục tiêu văn hóa, mà phải được xem xét trong tổng thể thực hiện mục tiêu phát triển về tất cả các mặt liên quan trong quá trình phát triển, để thấy rõ văn hóa đã đóng vai trò như thế nào về “sức mạnh nội sinh”, “động lực” của sự phát triển.

 

(4). Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đầu tư của nhà nước và của xã hội cho phát triển văn hóa.

 

Đây là một chức năng rất quan trọng của nhà nước. Văn hóa, phát triển văn hóa, trong cốt lõi chứa đựng các giá trị con người, giá trị xã hội sâu rộng; do đó vai trò đầu tư phát triển văn hóa của nhà nước là rất quan trọng, được xác định theo quan điểm “đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển”. Vai trò đầu tư phát triển văn hóa của nhà nước được xác định theo hai yêu cầu (hai mục tiêu) cơ bản: Một là, phát triển văn hóa với tính cách là một loại dịch vụ công cộng, mang tính chất lợi ích, phúc lợi xã hội, quyền con người, mà nhà nước phải đảm bảo để nâng cao nền tảng văn hóa cơ bản của toàn xã hội; hai là, nhà nước đầu tư phát triển văn hóa phù hợp với cơ chế thị trường (cung cấp các dịch vụ và hàng hóa văn hóa), kết hợp giữa mục tiêu văn hóa và mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội theo những cấp độ khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, đa tầng của các đối tượng, chủ thể trong xã hội.

 

Đầu tư phát triển văn hóa của nhà nước phải thể hiện được cấp độ, mức độ ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực khác nhau, đối tượng, chủ thể khác nhau để đảm bảo công bằng, bình đẳng trong phát triển và hưởng thụ văn hóa, đồng thời thể hiện rõ quan điểm ưu tiên phát triển các lĩnh vực văn hóa nhằm tạo động lực phát triển trong mỗi giai đoạn, mỗi lĩnh vực; được thể hiện qua cơ chế, chính sách đầu tư công.

 

Cùng với tăng đầu tư của Nhà nước cho phát triển văn hóa, nhà nước còn có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách “xã hội hóa”, nhằm huy động các nguồn lực của tất cả các chủ thể, của toàn xã hội cho đầu tư phát triển văn hóa theo hai hướng: phát triển mạnh các hoạt động văn hóa ngoài nhà nước, mang tính xã hội cao; đồng thời phát triển cơ chế “đối tác công - tư” trong phát triển văn hóa, phù hợp với từng lĩnh vực; lấy mục tiêu phát triển lành mạnh, mang lại giá trị, lợi ích cho mỗi chủ thể và cho toàn xã hội làm tiêu chí điều tiết. Cần xác định rõ đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa không phải là nhằm giảm bớt vai trò đầu tư của nhà nước, “san bớt gánh nặng” của nhà nước cho xã hội (cho các chủ thể ngoài nhà nước), mà là nhằm phát huy cao nhất, hiệu quả nhất vai trò khách quan của nhà nước và của xã hội (các chủ thể hoạt động văn hóa) trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

  

(5). Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển hạ tầng văn hóa và thiết chế văn hóa

 

Do văn hóa có bản chất xã hội rất cao, nên Nhà nước có vai trò chủ đạo trong phát triển hạ tầng văn hóa, được thể hiện ở hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng đầu tư của nhà nước cho phát triển hạ tầng văn hóa quốc gia, như hệ thống thông tin truyền thông, mạng xã hội, hạ tầng công nghệ, hạ tầng số quốc gia… cho phát triển văn hóa, trong đó chế định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tất cả các chủ thể trong sử dụng, tiếp cận hệ thống cơ sở hạ tầng văn hóa. Đồng thời phải hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách đầu tư, quản lý phát triển hệ thống các thiết chế văn hóa, trong đó xác định rõ vai trò của nhà nước, vai trò của xã hội, của các chủ thể đầu tư, của các chủ thể hoạt động văn hóa trong xây dựng, phát triển và quản lý hoạt động của các thiết chế văn hóa công lập và ngoài công lập, đối tác công - tư (như: nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, rạp chiếu phim, trung tâm biểu diễn nghệ thuật, các khu di tích văn hóa…). Đặc biệt phải chế định rõ mối tương quan về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm giải trình của nhà nước và các chủ thể liên quan.

 

Xét về bản chất, nhất là trong bối cảnh phát triển văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì tất cả các tổ chức trong xã hội (các tổ chức của đảng, các tổ chức của nhà nước, các tổ chức kinh tế (nhất là các doanh nghiệp), các hộ sản xuất kinh doanh, các đơn vị giáo dục đào tạo, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, gia đình… đều phải là các thiết chế văn hóa, chứa đựng những giá văn hóa đặc trưng của mình trong quá trình phát triển. Vì vậy, nhà nước cần thiết phải chế định rõ khung pháp lý, cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển các giá trị văn hóa, tạo động lực phát triển bền vững của các thiết chế này.  

 

(6). Hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo tồn, phát triển và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống kết nối hữu cơ, hiệu quả với phát triển các giá trị văn hóa hiện đại, hội nhập đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh - bền vững

 

Trong quá trình phát triển, ở mỗi giai đoạn cụ thể, các hoạt động văn hóa luôn chứa đựng đồng thời ba loại giá trị: các giá trị văn hóa truyền thống (có thể đang còn vai trò và tác động tích cực, cũng có thể đang là nhân tố tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển), các giá trị văn hóa thể hiện xu hướng phát triển chủ yếu hiện tại gắn với thể chế và trình độ phát triển hiện tại (có thể đóng vai trò tích cực, chủ dạo, cũng có thể đóng vai trò tiêu cực, kìm hãm sự phát triển); đồng thời, cũng xuất hiện những giá trị văn hóa mới (có thể chưa đóng vai trò chủ đạo) dưới tác động và yêu cầu của quá trình phát triển mới (như tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nền sản xuất xã hội mới, số hóa, mạng xã hội, hội nhập quốc tế sâu rộng…). Điều đó đặt ra cho nhà nước một vai trò rất quan trọng là phải có tầm nhìn chiến lược phát triển sâu rộng, để tren cơ sở đó, xây dựng đồng bộ cơ chế, chính sách có thể kết nối hữu ba loại giá trị đó, phát huy cao nhất tác động tích cực của mỗi loại giá trị trong mỗi giai đoạn và trong từng lĩnh vực, hạn chế các tác động tiêu cực; đặc biệt là thúc đẩy phát triển các giá trị văn hóa mới vươn lên đóng vai trò chủ đạo, chi phối, tạo động lực phát triển nhanh - bền vững đất nước (ví dụ như giá trị sáng tạo, giá trị pháp quyền, gái trị hiệu quả, trách nhiệm xã hội, giá trị liêm chính…).

 

(7). Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sáng tạo văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa, thị trường văn hóa

 

Đây là trụ cột thể hiện sức sống sinh động của một nền văn hóa trong quá trình phát triển. Nói đến phát triển văn hóa là phải nói đến vấn đề cốt lõi mang tính bản chất là phát triển sáng tạo văn hóa. Điều quan trọng là cần nhận thức rõ bản chất của sự sáng tạo văn hóa. Sự sáng tạo văn hóa nằm sâu từ trong bản chất của sự sáng tạo trong nền sản xuất xã hội, đời sống xã hội, trong chế ngự tự nhiên, trong đấu tranh… và trong thể chế phát triển xã hội, thông qua những hoạt động của con người, của các chủ thể trong xã hội. Chính sự sáng tạo trong nền sản xuất xã hội và trong mọi mặt đấu tranh và phát triển của đời sống xã hội đã được “cô đúc” lại thành những giá trị văn hóa (cả vật thể và phi vật thể), giá trị con người, giá trị xã hội tương ứng trình độ của nền sản xuất xã hội đó. Đương nhiên ở đây còn phải chứa đựng những giá trị văn hóa mang đặc điểm của từng dân tộc; nhưng bản thân những giá trị văn hóa mang đặc điểm dân tộc cũng sẽ thay đổi, vận động, phát triển thích ứng với sự phát triển của trình độ nền sản xuất xã hội.

 

Cần nhận thức đầy đủ rằng trong quá trình phát triển sáng tạo văn hóa, có sáng tạo văn hóa quần chúng, có sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp (ở đây không dùng khái niệm văn hóa “đỉnh cao”, hay “văn hóa bác học” vì trong cả sáng tạo văn hóa quần chúng và trong sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp đều có thể có những giá trị đỉnh cao, đồng thời cũng có cả những giá trị bình thường). Cả hai loại hình sáng tạo văn hóa này không thể coi nhẹ loại hình nào, không thể lấy loại hình này thay thế loại hình kia. Có thể coi đó như là “cặp song sinh” của một nền văn hóa. Chính vì vậy cả hai loại hình sáng tạo văn hóa phải phát triển cộng sinh với nhau, tạo thành trụ cột sáng tạo văn hóa vững mạnh. Sáng tạo văn hóa chuyên nghiệp hay văn hóa quần chúng đều phải gắn được với đời sống hiện thực, “sống” bằng hơi thở của đời sống hiện thực.

Quá trình phát triển sáng tạo văn hóa lành mạnh của các chủ thể luôn chứa đựng đặc điểm: gắn đặc tính, giá trị cá nhân với giá trị cộng đồng, giá trị xã hội; tuân thủ các nguyên tắc sáng tạo nhưng không có công thức máy móc. Sự sáng tạo văn hóa mang tính đặc thù rất cao, không chỉ là thể hiện tài năng, trí tuệ của chủ thể sáng tạo, mà luôn luôn gắn với (và thể hiện) nhận thức và giá trị của các chủ thể về giá trị sống, đạo đức, tâm hồn của mình với các giá trị xã hội. Vì vậy, phát triển sáng tạo văn hóa của các chủ thể cũng chính là quá trình phát triển các giá trị đặc trưng của các chủ thể, được thể hiện ở cả giá trị bản chất nội tại và giá trị lan tỏa (giá trị thể hiện) ra xã hội. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách (về quyền tự do sáng tạo văn hóa gắn với trách nhiệm xã hội, về bản quyền tác giả, về chính sách đầu tư, chính sách thuế, chế độ dãi ngộ, tôn vinh…) phù hợp với đặc điểm hoạt động sáng tạo văn hóa nói chung và đối với từng lĩnh vực văn hóa, để thúc đẩy phát triển sáng tạo văn hóa của mọi chủ thể (cả sáng tạo chuyên nghiệp và sáng tạo quần chúng - nhân dân) trong mọi lĩnh vực.

 

Phát triển văn hóa, nhất là công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đòi hỏi nhà nước phải chế định rõ, phù hợp cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển. Do bản chất, tính chất, cơ chế phát triển của văn hóa không hoàn toàn giống như trong kinh tế: có những lĩnh vực văn hóa, hoạt động văn hóa không thể để cho cơ chế thị trường chi phối (hoàn toàn phi lợi nhuận, do nhà nước và các tổ chức xa hội, các chủ thể đảm bảo hoàn toàn); có những lĩnh vực văn hóa, hoạt động văn hóa tiếp cận cơ chế thị trường ở mức độ thấp (không hoàn toàn theo cơ chế thị trường đầy đủ); có những lĩnh vực văn hóa, hoạt động văn hóa được tiếp cận hoàn toàn theo cơ chế thị trường (tức là gắn với mục đích tìm kiếm lợi nhuận theo cơ chế kinh doanh). Điều này đòi hỏi phải chế định phù hợp mối quan hệ giữa Nhà nước - cơ chế thị trường - xã hội (các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa, thụ hưởng văn hóa) phù hợp với bản chất của văn hóa nói chung và đối với từng lĩnh vực văn hóa.

 

(8). Hoàn thiện cơ chế, chính sách đào tạo, phát triển nhân lực trong lĩnh vực văn hóa

 

Nhân lực trong lĩnh vực văn hóa được hình thành và phát triển có những đặc điểm chung và đặc điểm riêng so với nhân lực thuộc các lĩnh vực khác. Nhân lực trong lĩnh vực văn hóa có thể phân ra làm các loại chủ yếu sau:

 

 

* Nhân lực làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý phát triển văn hóa;

 

* Nhân lực trực tiếp hoạt động sáng tạo và phát triển văn hóa;

 

* Nhân lực nghiên cứu khoa học, đào tạo trong lĩnh vực văn hóa;

 

* Nhân lực phát triển văn hóa theo cơ chế thị trường;

 

* Những người (các chủ thể) được thụ hưởng (chịu tác động) của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa.

 

Tất cả các loại nhân lực đó có các yêu cầu về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn và văn hóa khác nhau, có những yêu cầu chung, nhưng có những yêu cầu khác nhau phù hợp đối với từng loại hình văn hóa. Hơn nữa, các loại hình nhân lực đó có những nội dung đào tạo, phương thức đào tạo, cơ chế đào tạo và sử dụng, cơ chế hoạt động và phát triển khác nhau (có loại đào tạo theo chương trình chung cho số đông, có lại phải đào tạo theo cơ chế “cá thể hóa”; có loại có thể hoạt động theo theo cơ chế thị trường, có loại phải theo cơ chế bao cấp của nhà nước…). Chính vì vậy, Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực văn hóa; trong đó cần phải chế định rõ cơ chế, chính sách phù hợp đối với từng loại nhân lực, đặc biệt là phải phù hợp với đặc điểm và tính chất hoạt động phát triển sáng tạo của từng loại hoạt động văn hóa, lĩnh vực văn hóa. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của nhà nước, của xã hội và của từng loại chủ thể trong phát triển, sử dụng và phát huy các loại nguồn nhân lực văn hóa; trong đó cần có những chính sách ưu tiên đào tạo, phát triển, sử dụng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực văn hóa truyền thống, văn hóa “hàn lâm”, khả năng tiếp cận cơ chế thị trường bị hạn chế.

 

Đồng thời, nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý, cơ chế, chính sách để tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, hình thành nhận thức, ý thức và nâng cao trình độ thụ hưởng văn hóa lành mạnh của toàn xã hội; xây dựng môi trường văn hóa văn minh làm nền tảng cho phát triển văn hóa, các giá trị văn hóa, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển văn hóa xã hội bền vững.  

 

(9). Hoàn thiện cơ chế, chính sách đảm bảo và ngày càng nâng cao quyền tiếp cận văn hóa cho mọi người dân

 

Đây là một nhiệm vụ, trách nhiệm rất quan trọng của nhà nước trong việc đảm bảo và thực hiện các quyền con người, quyền công dân. Cùng với việc nhà nước phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho toàn xã hội, toàn dân, thông qua phát triển hệ thống cung ứng các dịch vụ, hàng hóa văn hóa công cơ bản, thiết yếu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao hơn của xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, sử dụng cơ chế thị trường để thúc đẩy phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa văn hóa đáp ứng nhu cầu đa dạng, đa tầng của các đối tượng trong xã hội. Đồng thời nhà nước phải xây dựng cơ chế, chính sách ưu tiên, tăng nguồn lực đầu tư để phát triển văn hóa cơ sở, nhất là ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; phát triển và phát huy các loại hình, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, văn hóa quần chúng, lễ hội truyền thống…

 

(10). Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy hội nhập quốc tế về văn hóa

 

Hội nhập quốc tế về văn hóa là một xu thế lớn, một yêu cầu khách quan trong thế giới hiện nay; hội nhập quốc tế về văn hóa hiệu quả sẽ góp phần quan trọng nâng sức mạng mềm (và cả sức mạnh cứng khi văn hóa trở thành một ngành kinh tế quan trọng) của dân tộc - đất nước. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong hội nhập quốc tế về văn hóa, thể hiện trên những phương diện sau:

 

 

- Xây dựng đường lối, chủ trương, pháp luật, cơ chế, chính sách hội nhập quốc tế về văn hóa (chung và đối với từng lĩnh vực văn hóa) theo quan điểm phát triển, phát huy, hiện đại hóa phù hợp các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp; đồng thời tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo phù hợp tinh hoa văn hóa của nhân loại; hạn chế, khắc phục các tác động tiêu cực, không phù hợp.

 

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa đưa ra thế giới, nhất là các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa trong các lĩnh vực công nghiệp văn hóa; kết nối được với các giá trị chung của các dân tộc.

 

- Hoàn thiện thiện đồng bộ thế chế để phát huy có hiệu quả cao các quan hệ hợp tác văn hóa song phương và đa phương.

Đưa các giá trị văn hóa vào trong tất cả các quan hệ quốc tế về chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục…

 

 

(11). Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển nghiên cứu khoa học gắn với tổng kết thực tiễn về phát triển văn hóa bền vững

 

Để phát triển văn hóa thực sự trở thành động lực nội sinh, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển mạnh mẽ triển đất nước, nhất là trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn, và cạnh tranh chiến lược giữa các nước thông qua không chỉ sức mạnh cứng, mà còn qua “sức mạnh mềm” ngày càng tăng lên. Đòi hỏi phải nghiên cứu đồng bộ, sâu sắc bản chất, cơ chế vận động và phát triển văn hóa, sự tương tác của văn hóa với tất các các lĩnh vực khác trong điều kiện mới (chung và đối với từng lĩnh vực). Điều này đặt ra phải có nhận thức mới về vai trò của nhà nước đối với công tác nghiên cứu lý luận khoa học và tổng kết thực tiễn về phát triển văn hóa gắn liền với toàn bộ sự vận động và phát triển của tất cả các lĩnh vực khác, các chủ thể trong quá trình phát triển.

 

Đặc biệt, nhà nước phải có Chương trình nghiên cứu mang tầm chiến lược dài hạn, đồng bộ về bản chất, cơ chế vận động và phát triển các giá trị văn hóa gắn liền với sự thay đổi, phát triển các giá trị con người, giá trị gia đình, giá trị xã hội (cả phương diện tích cực và tiêu cực) trong bối cảnh thay đổi sâu sắc của nền sản xuất xã hội, đời sống xã hội, dưới tác động mạnh mẽ, đột biến của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là trí tuệ nhân tạo AI, mạng xã hội, số hóa, tự động hóa…trên bình diện toàn cầu; văn hóa trở thành một nhân tố bên trong, mang tính bản chất của tất cả các lĩnh vực trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Nghĩa là không thể nhìn nhận sự phát triển văn hóa chỉ như một lĩnh vực phát triển độc lập tương đối và “tương tác với các lĩnh vực khác; mà phải hướng tới xây dựng một hệ sinh thái văn hóa bao trùm, chứa đựng trong đó các giá trị sống tốt đẹp của toàn bộ xã hội, của tất cả các chủ thể trong tất cả các lĩnh vực, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững bao trùm, hài hòa giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội, quốc gia - dân tộc, môi trường sinh thái và hội nhập quốc tế; được thể hiện tổng hợp ở Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (Sustainable Development Goals - SDGs) với một bộ 17 mục tiêu toàn cầu được thông qua vào năm 2015[3]; được Việt Nam cụ thể hóa thành 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030.

 

2. Phân định, chế định rõ, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị nhà nước trong việc thực hiện vai trò chủ thể quản lý - quản trị phát triển trong thể chế phát triển văn hóa

 

Đây là một yêu cầu quan trọng, vì hiệu lực, hiệu quả thực hiện vai trò của nhà nước phụ thuộc rất lớn vào việc phân định rõ, chế định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện vai trò chủ thể của mình; một mặt không để dẫn đến trùng chéo, mâu thuẫn, có khoảng trống giữa các tổ chức, đơn vị nhà nước, mặt khác phải có sự phối hợp hữu cơ với nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Xét một cách tổng quát, các đơn vị, tổ chức nhà nước thực hiện vai trò chủ thể trong thể chế văn hóa có thể được phân ra các loại sau:

 

- Loại tổ chức, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ xây dựng và ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa (ở đây trước hết là Quốc hội và Chính phủ).

 

- Loại tổ chức, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ trực tiếp tổ chức, quản lý, quản trị thực hiện luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa (ở đây trước hết là Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các cấp).

 

- Loại tổ chức, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa (ở đây trước hết là Quốc hội (chức năng giám sát), Chính phủ (các bộ, cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ này), Ủy ban nhân dân các cấp (các tổ chức, đơn vị đơn được giao chức năng này).

 

- Loại tổ chức, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ đầu tư, cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực văn hóa; thực hiện cơ chế đối tác công - tư.

 

Vấn đề quan trọng đặt ra là phải chế định rõ quyền hạn, trách nhiệm, cơ chế thực thi, trách nhiệm giải trình của từng loại cơ quan, đơn vị thực thi các vai trò, nhiệm vụ trên, để không dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, lợi dụng chức quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tình trạng “đánh trống bỏ dùi” trong lĩnh vực văn hóa.

 

Vai trò trọng tâm của Nhà nước là phải xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa, hướng tới tạo lập một hệ sinh thái văn hóa bao trùm, chứa đựng trong đó cơ chế phát triển các giá trị sống tốt đẹp của toàn bộ xã hội, của tất cả các chủ thể trong tất cả các lĩnh vực của đất nước; thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam cũng bao gồm 17 mục tiêu tương tự như của Liên hợp quốc, được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện của Việt Nam[4].

 

  PGS. TS Trần Quốc Toản

                                               Chuyên gia cao cấp

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2011.
  2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng cộng sản Việt Nam, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016.
  3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng cộng sản Việt Nam; NXB CTQGST, Tập 1, Tập 2, Hà Nội - 2021
  4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng cộng sản Việt Nam; NXB CTQGST, Tập 1, Tập 2, Hà Nội - 2026.
  5. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ nămcủa Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  6. PGS.TS. Trần Quốc Toản (Chủ biên), GS.TS. Phùng Hữu Phú (Đồng chủ biên) , GS.TS. Tạ Ngọc Tấn (Đồng chủ biên): Thể chế phát triển nhanh - bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn mới; NXB CTQGST, Hà Nội - 2019.
  7. PGS.TS Trần Quốc Toản: Cách tiếp cận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển; Hdll.vn, ngày11/08/2020
  8. PGS.TS Trần Quốc Toản: Vị trí và vai trò của văn hóa trong đổi mới-phát triển: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra; Hdll.vn, ngày 18/09/2018
  9. PGS.TS Trần Quốc Toản: Xây dựng hệ giá trị quốc gia trong tương quan với hệ giá trị con người, giá trị gia đình, giá trị văn hóa, giá trị xã hội; Hdll.vn, ngày 20/12/2022.
  10. PGS.TS Trần Quốc Toản: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (Phần 1: Hdll.vn, Ngày18/08/2020; phần 2, Hdll.vn, ngày 21/08/2020).
  11. Daron Acemoglu - Jemes Robinson, Why Nations fail, Crown Publishers, N.Y. 2012.

 



[1] Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng của văn hóa , ngày 2/11/2001

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 3, tr.431

[4] Ngày 14/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 841/QĐ-TTg năm 2023 ban hành Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Việt Nam đến năm 2030 với 17 mục tiêu:

- Mục tiêu 1: Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi

- Mục tiêu 2: Xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững

- Mục tiêu 3: Bảo đảm cuộc sống khỏe mạnh và tăng cường phúc lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi

- Mục tiêu 4: Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người

- Mục tiêu 5: Đạt được bình đẳng về giới, tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái

- Mục tiêu 6: Đảm bảo đầy đủ và quản lý bền vững tài nguyên nước và hệ thống vệ sinh cho tất cả mọi người

- Mục tiêu 7: Đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn năng lượng bền vững, đáng tin cậy và có khả năng chi trả cho tất cả mọi người

- Mục tiêu 8: Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, liên tục; tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người

- Mục tiêu 9: Xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu cao, thúc đẩy công nghiệp hóa bao trùm và bền vững, tăng cường đổi mới

- Mục tiêu 10: Giảm bất bình đẳng trong xã hội

- Mục tiêu 11: Phát triển đô thị, nông thôn bền vững, có khả năng chống chịu; đảm bảo môi trường sống và làm việc an toàn; phân bổ hợp lý dân cư và lao động theo vùng

- Mục tiêu 12: Đảm bảo mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững

- Mục tiêu 13: Ứng phó kịp thời, hiệu quả với biến đổi khí hậu và thiên tai

- Mục tiêu 14: Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và nguồn lợi biển để phát triển bền vững

- Mục tiêu 15: Bảo vệ và phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển dịch vụ hệ sinh thái, chống sa mạc hoá, ngăn chặn suy thoái và phục hồi tài nguyên đất

- Mục tiêu 16: Thúc đẩy xã hội hòa bình, công bằng, bình đẳng vì phát triển bền vững, tạo khả năng tiếp cận công lý cho tất cả mọi người; xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và có sự tham gia ở các cấp

- Mục tiêu 17: Tăng cường phương thức thực hiện và thúc đẩy đối tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết