Mở đầu
Trong tiến trình đổi mới đất nước những năm qua, nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế vận động của thời đại. Một trong những bước phát triển lý luận quan trọng hiện nay là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy phát triển thiên về kinh tế sang tư duy phát triển toàn diện, bao trùm, lấy con người làm trung tâm, lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần của xã hội và lấy chất lượng phát triển xã hội làm tiêu chí cốt lõi phản ánh bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tinh thần đó được thể hiện ngày càng rõ trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong nhiều phát biểu gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm khi nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ giá trị quốc gia, phát triển con người toàn diện, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xây dựng xã hội phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Nếu như trong mô hình lý luận truyền thống trước đây, việc kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thường được nhìn nhận chủ yếu thông qua các tiêu chí về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là sở hữu tư liệu sản xuất, thì trong điều kiện hiện nay, nhận thức về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã có bước phát triển mới. Chủ nghĩa xã hội không chỉ được nhìn nhận ở phương diện kinh tế hay chính trị mà ngày càng được tiếp cận như một mô hình phát triển xã hội toàn diện, nhân văn và bền vững, trong đó sự phát triển con người, chất lượng văn hóa và mức độ hạnh phúc của nhân dân trở thành những tiêu chí phản ánh bản chất và trình độ phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Điều đó cho thấy trong thời kỳ quá độ từ nay đến năm 2045, xây dựng văn hóa, phát triển con người và bảo đảm phát triển xã hội bền vững không chỉ là một nhiệm vụ xã hội, mà chính là nội dung cốt lõi của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Phát triển con người và văn hóa – bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong lý luận Mác – Lênin, mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. C.Mác và Ph.Ăngghen từng khẳng định rằng sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Điều đó cho thấy bản chất sâu xa của chủ nghĩa xã hội không chỉ nằm ở vấn đề sở hữu hay tổ chức sản xuất, mà còn nằm ở việc xây dựng một xã hội nhân văn, nơi con người được phát triển toàn diện cả về vật chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài, do hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhận thức về chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước thường nhấn mạnh nhiều hơn đến các yếu tố kinh tế và chính trị, trong khi vấn đề phát triển con người và văn hóa chưa được đặt đúng tầm như một động lực nội sinh của phát triển. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam đã cho thấy rằng, tăng trưởng kinh tế tuy có ý nghĩa quan trọng nhưng không tự nó tạo ra sự phát triển bền vững. Nếu phát triển kinh tế không gắn với tiến bộ xã hội, không chú trọng xây dựng văn hóa và con người thì sẽ dẫn đến những hệ lụy như phân hóa giàu nghèo, suy giảm đạo đức xã hội, khủng hoảng niềm tin, gia tăng chủ nghĩa cá nhân cực đoan và các nguy cơ bất ổn xã hội.
Chính từ thực tiễn đó, nhận thức lý luận của Đảng đã có bước phát triển quan trọng nhìn nhận phát triển toàn diện, hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; từ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực tinh thần đến coi văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước; từ tiếp cận con người như một lực lượng lao động đến tiếp cận con người như trung tâm, chủ thể và mục tiêu cao nhất của phát triển.
Đây là bước phát triển rất quan trọng trong lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nếu như trước đây tiêu chí phản ánh trình độ của chủ nghĩa xã hội thường nhấn mạnh chủ yếu tới mức độ phát triển của lực lượng sản xuất hay tính chất của quan hệ sở hữu, thì ngày nay chất lượng phát triển con người, trình độ văn hóa xã hội, mức độ hạnh phúc của nhân dân và khả năng phát triển bền vững ngày càng trở thành những tiêu chí có ý nghĩa bản chất.
Nhận thức mới này cũng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trong thế kỷ XXI, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực, sức mạnh văn hóa, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng phát triển xã hội bền vững. Điều đó khiến văn hóa và con người trở thành yếu tố quyết định vị thế phát triển của quốc gia.
2. Những vấn đề mới đặt ra đối với văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ quá độ hiện nay
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đang đứng trước những biến đổi sâu sắc của thời đại số, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Những biến đổi này vừa mở ra cơ hội phát triển to lớn, vừa đặt ra nhiều thách thức mới đối với việc xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng đã thúc đẩy tinh thần năng động, sáng tạo, khát vọng làm giàu chính đáng và ý thức phát triển cá nhân. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại như chủ nghĩa thực dụng, chạy theo vật chất, suy giảm chuẩn mực đạo đức, lối sống hưởng thụ, bệnh thành tích và sự xuống cấp trong văn hóa ứng xử xã hội. Một bộ phận xã hội có biểu hiện lệch chuẩn về giá trị, coi nhẹ trách nhiệm cộng đồng, đề cao lợi ích cá nhân cực đoan và thiếu lý tưởng xã hội.
Đặc biệt, sự phát triển của không gian mạng và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc môi trường văn hóa và đời sống tinh thần của xã hội. Không gian số trở thành nơi hình thành nhận thức, định hướng giá trị và ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi xã hội. Các nền tảng số và thuật toán công nghệ có khả năng chi phối mạnh mẽ xu hướng tư tưởng, văn hóa tiêu dùng và tâm lý xã hội. Các nguy cơ như tin giả, thao túng thông tin, cực đoan hóa xã hội, ô nhiễm văn hóa số và xâm lấn văn hóa ngoại lai ngày càng gia tăng. Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian mạng.
Cùng với đó, quá trình phát triển nhanh của đất nước cũng làm xuất hiện những vấn đề xã hội mới. Phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội tuy là hiện tượng khách quan trong kinh tế thị trường nhưng nếu không được điều tiết hiệu quả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý, trong nền kinh tế số, bất bình đẳng không chỉ thể hiện ở thu nhập mà còn ở khả năng tiếp cận tri thức, công nghệ, dữ liệu và cơ hội phát triển. Khoảng cách số giữa các vùng miền, các nhóm dân cư có thể trở thành nguồn gốc của những bất bình đẳng xã hội mới.
Bên cạnh đó, Việt Nam đang bước nhanh vào giai đoạn già hóa dân số trong khi chưa trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Điều này đặt ra áp lực lớn đối với hệ thống an sinh xã hội, y tế, chăm sóc người cao tuổi và thị trường lao động. Đô thị hóa, di cư lao động và biến đổi cấu trúc gia đình cũng đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng xã hội truyền thống.
Tất cả những vấn đề đó cho thấy xây dựng văn hóa, con người và phát triển xã hội bền vững trong thời kỳ quá độ hiện nay không chỉ là yêu cầu phát triển xã hội thông thường mà còn là nhiệm vụ chiến lược liên quan trực tiếp đến bản chất, mục tiêu và tính ưu việt của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
3. Xây dựng văn hóa và con người Việt Nam thời đại mới – nền tảng tinh thần của chủ nghĩa xã hội Việt Nam
Từ nay đến năm 2045, nhiệm vụ xây dựng văn hóa và con người Việt Nam cần được đặt trong tầm nhìn chiến lược phát triển quốc gia. Đây không chỉ là vấn đề bảo tồn bản sắc hay giáo dục đạo đức đơn thuần mà là quá trình xây dựng nền tảng tinh thần cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trước hết, cần tập trung xây dựng hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới. Hệ giá trị đó phải kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, giữa tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa với tư duy sáng tạo, năng lực số, ý thức pháp luật, trách nhiệm xã hội và khát vọng phát triển. Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, bản lĩnh văn hóa và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam sẽ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời, cần phát triển văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh và nguồn lực, hệ điều tiết phát triển bền vững. Trong điều kiện kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần mà còn là nguồn lực kinh tế quan trọng và là sức mạnh mềm của quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thúc đẩy văn hóa số và nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế cần trở thành định hướng chiến lược lâu dài.
Một yêu cầu đặc biệt quan trọng là phải xây dựng con người Việt Nam có khả năng thích ứng với xã hội số và nền kinh tế tri thức. Điều đó đòi hỏi đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng số và học tập suốt đời. Trong xã hội hiện đại, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được đo bằng trình độ chuyên môn mà còn bằng năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng và bản lĩnh văn hóa.
Cùng với đó, phải chú trọng xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường gắn kết cộng đồng. Một xã hội phát triển bền vững không chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế mà còn dựa trên sự ổn định xã hội, niềm tin của nhân dân và khả năng gắn kết cộng đồng trước những biến động của thời đại.
4. Phát triển xã hội bền vững – biểu hiện tập trung của bản chất xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới
Trong điều kiện hiện nay, phát triển xã hội bền vững ngày càng trở thành tiêu chí phản ánh rõ nét bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện ở việc bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội phát triển, được tiếp cận các dịch vụ cơ bản và được hưởng thành quả của quá trình phát triển.
Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển xã hội hiện nay không phải là cào bằng hay phủ nhận cạnh tranh thị trường, mà là bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển, điều tiết hợp lý các quan hệ lợi ích và không để ai bị bỏ lại phía sau. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, đa tầng và bao trùm, thích ứng với già hóa dân số, lao động phi chính thức và những biến động của nền kinh tế số.
Trong kỷ nguyên mới, chất lượng phát triển xã hội cần được đánh giá không chỉ bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn bằng các tiêu chí như mức độ phát triển con người, chỉ số hạnh phúc, mức độ công bằng xã hội, chất lượng giáo dục, y tế, môi trường sống và khả năng tiếp cận cơ hội phát triển của người dân.
Đây chính là điểm thể hiện rõ nhất sự phát triển trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Nếu trước đây việc kết thúc thời kỳ quá độ thường được hình dung chủ yếu qua các tiêu chí về sở hữu và cơ cấu kinh tế, thì ngày nay, tiêu chí một xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển phải là một xã hội có chất lượng sống cao, văn hóa phát triển, con người được phát triển toàn diện và xã hội vận hành theo hướng nhân văn, công bằng và bền vững.
5. Xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa – đột phá quản trị cơ sở và hình mẫu tương lai để quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Một trong những gợi mở lý luận và thực tiễn rất đáng chú ý trong các phát biểu gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm là yêu cầu nghiên cứu xây dựng mô hình “xã xã hội chủ nghĩa”, “phường xã hội chủ nghĩa”[1] như những tế bào nền tảng của xã hội tương lai. Đây không chỉ là một định hướng về quản trị hành chính cơ sở mà còn hàm chứa tư duy lý luận mới về con đường hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội từ nền tảng đời sống xã hội cụ thể, trực tiếp và gần dân nhất.
Nếu như trong một thời gian dài, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thường được tiếp cận chủ yếu ở tầm vĩ mô với các tiêu chí về tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, sở hữu và thể chế quốc gia, thì gợi mở này cho thấy một bước phát triển mới trong nhận thức lý luận: chủ nghĩa xã hội không chỉ được thể hiện ở tầm quốc gia mà phải được hiện thực hóa trong từng cộng đồng dân cư, từng đơn vị cơ sở, từng không gian sống cụ thể của nhân dân. Nói cách khác, xã hội xã hội chủ nghĩa không chỉ là một mục tiêu chiến lược ở tầm vĩ mô mà phải trở thành một hình thái tổ chức đời sống xã hội hiện hữu trong thực tiễn hằng ngày của người dân.
Theo cách tiếp cận đó, “xã, phường xã hội chủ nghĩa” không đơn thuần là đơn vị hành chính cơ sở, mà là mô hình tổ chức xã hội kiểu mới, nơi hội tụ các đặc trưng cốt lõi của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới: quản trị hiện đại, phát triển bền vững, văn hóa nhân văn, kinh tế phát triển, đời sống người dân hạnh phúc, xã hội an toàn, dân chủ được phát huy và con người được phát triển toàn diện.
Đây có thể xem là bước phát triển mới trong tư duy về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nếu trước đây, thời kỳ quá độ chủ yếu được hình dung như quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thì hiện nay trọng tâm ngày càng chuyển sang xây dựng mô hình xã hội hiện đại, văn minh và hạnh phúc ngay từ cấp cơ sở. Điều đó phản ánh nhận thức mới rằng bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội phải được kiểm chứng bằng chất lượng quản trị xã hội và chất lượng cuộc sống thực tế của nhân dân.
Về phương diện lý luận, mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa thể hiện sự phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của cộng đồng xã hội cơ sở trong tổ chức đời sống xã hội mới. Trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, xã hội cộng sản tương lai không chỉ là sự thay đổi về chế độ sở hữu mà còn là sự hình thành một kiểu tổ chức xã hội mới, trong đó con người phát triển tự do, cộng đồng gắn kết và quản lý xã hội mang tính nhân văn, tự giác cao. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa chính là sự cụ thể hóa tư tưởng đó phù hợp với bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xã hội số.
Điểm mới đặc biệt quan trọng là mô hình này gắn chặt với yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia hiện đại. Trong nhiều năm, một trong những điểm nghẽn lớn của phát triển là khoảng cách giữa chủ trương ở tầm trung ương với năng lực thực thi ở cơ sở. Không ít nơi còn tồn tại tình trạng quản trị hành chính nặng về mệnh lệnh, thủ tục hóa, thiếu liên kết dữ liệu, chất lượng dịch vụ công thấp và khoảng cách giữa chính quyền với người dân. Điều đó cho thấy nếu không tạo được đột phá ở cấp cơ sở thì nhiều mục tiêu lớn của chủ nghĩa xã hội sẽ khó được hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn.

Chính vì vậy, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trước hết phải được xem là đột phá về quản trị cơ sở trong thời kỳ quá độ. Đây phải là mô hình quản trị hiện đại, chuyển mạnh từ “quản lý hành chính” sang “quản trị phục vụ, kiến tạo phát triển”, lấy người dân làm trung tâm và mức độ hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Trong mô hình này, chính quyền cơ sở không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn phải đóng vai trò kiến tạo phát triển cộng đồng, kết nối xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Một đặc trưng rất quan trọng của xã, phường xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới là phải trở thành không gian phát triển toàn diện của con người. Điều đó có nghĩa là ở cấp cơ sở phải bảo đảm các điều kiện cơ bản để người dân được tiếp cận bình đẳng với giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường sống an toàn, hạ tầng số và các dịch vụ công hiện đại. Việc xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa không chỉ được phản ánh qua các chỉ tiêu tăng trưởng mà còn qua chất lượng sống cụ thể của người dân ở từng cộng đồng dân cư.
Từ góc độ đó, xã, phường xã hội chủ nghĩa phải là nơi hội tụ các yếu tố: kinh tế phát triển bền vững; văn hóa lành mạnh; môi trường xanh; quản trị minh bạch; xã hội an toàn; cộng đồng đoàn kết; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng nâng cao.
Đây thực chất là mô hình “tế bào xã hội chủ nghĩa hiện đại” trong điều kiện Việt Nam thế kỷ XXI.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh, mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa còn phải gắn với xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số. Điều này có ý nghĩa rất lớn bởi cấp cơ sở chính là nơi trực tiếp kết nối giữa Nhà nước với người dân. Nếu chuyển đổi số thành công ở cấp xã, phường thì sẽ tạo ra bước chuyển căn bản trong quản trị quốc gia. Chính quyền cơ sở tương lai không thể vận hành theo mô hình thủ công truyền thống mà phải dựa trên dữ liệu số, quản trị thông minh và tương tác số với người dân.
Điều này cũng làm xuất hiện một đặc trưng mới của chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong thời đại số: chủ nghĩa xã hội không đối lập với công nghệ hiện đại mà phải biết sử dụng công nghệ để phục vụ con người, nâng cao chất lượng quản trị và phát triển xã hội nhân văn hơn. Do đó, xã, phường xã hội chủ nghĩa trong tương lai không chỉ là cộng đồng “đoàn kết, văn minh” theo nghĩa truyền thống mà còn là cộng đồng số hiện đại, nơi người dân có khả năng tiếp cận tri thức, dịch vụ và cơ hội phát triển bình đẳng trong môi trường số.
Về phương diện thực tiễn, xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc củng cố niềm tin xã hội và tăng cường tính chính danh của chế độ. Trong thực tế, người dân cảm nhận trực tiếp nhất về chất lượng của chế độ không phải ở các tuyên bố lý luận vĩ mô mà thông qua những trải nghiệm cụ thể trong đời sống hằng ngày: thủ tục hành chính có thuận lợi hay không, môi trường sống có an toàn không, dịch vụ y tế – giáo dục có tốt không, đời sống văn hóa cộng đồng có lành mạnh không và người dân có thực sự được lắng nghe hay không. Vì vậy, xây dựng thành công mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa chính là cách trực tiếp nhất để hiện thực hóa bản chất “vì nhân dân” của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Từ nay đến năm 2045, nếu Việt Nam xây dựng thành công các mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa tiêu biểu, hiện đại và văn minh thì đây sẽ không chỉ là đột phá về quản trị cơ sở mà còn là hình mẫu cụ thể của xã hội tương lai trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Khi đó, chủ nghĩa xã hội không còn chỉ được nhận thức như một mục tiêu lâu dài mang tính khái quát, mà trở thành hiện thực sống động trong từng cộng đồng dân cư, từng không gian sống và từng trải nghiệm phát triển của người dân.
Có thể nói, tư duy về xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa là một gợi mở rất mới và có giá trị lý luận sâu sắc trong quá trình phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện nay. Nó phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy “xây dựng chủ nghĩa xã hội từ trên xuống” sang tư duy “kiến tạo chủ nghĩa xã hội từ nền tảng xã hội cơ sở”, từ nhấn mạnh cơ cấu kinh tế sang nhấn mạnh chất lượng quản trị và chất lượng sống của nhân dân. Đây có thể trở thành một trong những hướng đột phá lý luận và thực tiễn quan trọng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ nay đến năm 2045.
Kết luận
Từ nay đến năm 2045, xây dựng văn hóa, phát triển con người và bảo đảm phát triển xã hội bền vững sẽ là một trong những nội dung cốt lõi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây không chỉ là nhiệm vụ xã hội mà còn là quá trình hiện thực hóa bản chất nhân văn và mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới, thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ không chỉ được đo bằng quy mô GDP hay tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà ngày càng được đánh giá bằng chất lượng phát triển con người, sức mạnh văn hóa dân tộc, mức độ công bằng xã hội, năng lực thích ứng của xã hội và mức độ hạnh phúc của nhân dân.
Điều đó cho thấy mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam đang được phát triển theo hướng ngày càng hiện đại, nhân văn và phù hợp hơn với xu thế phát triển của thời đại. Trong mô hình đó, con người là trung tâm, văn hóa là nền tảng tinh thần, phát triển xã hội bền vững là mục tiêu và hạnh phúc của nhân dân là thước đo cao nhất của sự phát triển.
TS. Nguyễn Tiến Dũng
Tài liệu tham khảo
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và XIV của Đảng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - bổ sung, phát triển năm 2011
- Các bài phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm về kỷ nguyên phát triển mới, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa và quản trị quốc gia hiện đại.
[1] https://vnexpress.net/2045-co-the-ket-thuc-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-5069603.html