Chủ Nhật, ngày 25 tháng 02 năm 2024

Sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia qua gần 50 năm đất nước thống nhất

Ngày phát hành: 07/12/2023 Lượt xem 413

 

1. An ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia là vấn đề hệ trọng của mọi quốc gia, dân tộc. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi giai đoạn cách mạng. Trải qua gần 50 năm đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia đã đạt được những thành tựu to lớn như giữ vững ổn định chính trị và an ninh, an toàn của đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc. Sự ổn định chính trị và môi trường an ninh, an toàn trở thành một trong những lợi thế, nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân, tạo lập vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là kết quả phấn đấu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, trong đó lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân đóng vai trò nòng cốt.

 

Đảng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia là tất yếu, phù hợp với quy luật khách quan, là nhân tố quyết định đến sự thắng lợi. Vì vậy, để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, Đảng ta đã luôn nâng tầm nhận thức an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia. Trải qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, sự thay đổi nhận thức lý luận về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng ngày càng rõ, thể hiện sự phát triển lý luận cách mạng không ngừng, phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra. Sự phát triển nhận thức lý luận về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung. Đây là cơ sở quan trọng để lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia tổ chức quán triệt, triển khai trên thực tế, góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

2. Nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia từ khi đất nước thống nhất đến nay được thể hiện trên nhiều phương diện với các nội dung khác nhau. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, sự thay đổi nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia cũng có sự khác nhau, phù hợp với bối cảnh tình hình thực tế của đất nước. Có thể khái quát sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia từ khi đất nước thống nhất cho đến nay như sau:

 

Một là, nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia

 

Từ khi đất nước thống nhất (1975) cho đến năm 1985, khi đề cập tới nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, Đảng ta xác định là an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.  Đến năm 1985, thuật ngữ “an ninh quốc gia” được đề cập trong Bộ luật Hình sự[1], tuy nhiên trên thực tế, thuật ngữ này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi. Đến năm 1991, trước bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới dần bị thu hẹp, đã tác động sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ VII, Báo cáo chính trị của Đảng đã chính thức dùng thuật ngữ “an ninh quốc gia” thay cho “an ninh chính trị”. Đồng thời, thuật ngữ “an ninh quốc gia” cũng được đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991): “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước”[2]. Từ đó đến nay, “an ninh quốc gia” được sử dụng chính thức, phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, nội hàm “an ninh quốc gia” mới chỉ được xác định dưới góc độ học thuật. Đến năm 2004, nội hàm “an ninh quốc gia” mới được ghi nhận tại văn bản pháp lý của Nhà nước. Theo đó Luật An ninh quốc gia xác định: “An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”[3]. Như vậy, nội hàm “an ninh quốc gia” đã được mở rộng hơn so với an ninh chính trị. Đây là những bước phát triển tư duy lý luận quan trọng của Đảng về an ninh quốc gia, là cơ sở, tiền đề để phát triển nhận thức lý luận về an ninh quốc gia trong những giai đoạn tiếp theo.

 

Tình hình thế giới và khu vực trong những năm gần đây có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm có sự thay đổi theo hướng phi truyền thống; nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống xuất hiện, đan xen như: khủng bố quốc tế, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh, nước biển dâng, an ninh mạng... đòi hỏi Đảng phải nhìn nhận thấu đáo, đưa ra các quan điểm định hướng chính sách bảo vệ an ninh quốc gia phù hợp. Trước tình hình đó, Đảng đã chủ động nghiên cứu, nhận định, đánh giá tình hình, đồng thời bổ sung, phát triển nhận thức lý luận về an ninh quốc gia.

 

Đặc biệt, năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 05/9/2019 về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Nghị quyết đã chỉ rõ: “An ninh quốc gia là sự vững mạnh, trường tồn của Đảng, sự ổn định, phát triển bền vững về mọi mặt của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là sự ổn định về chính trị, về biên giới, chủ quyền lãnh thổ và an ninh, an toàn xã hội”[4]. Đến Đại hội XIII, tư duy về an ninh quốc gia của Đảng được mở rộng hơn, trong đó Đảng nhấn mạnh: “Vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống”[5]. Đồng thời, lần đầu tiên Đại hội XIII xác định “an ninh con người”, “bảo vệ an ninh con người” nhằm cụ thể hóa các tư tưởng lập hiến đã nêu trong Hiến pháp 2013 và trở thành các mục tiêu, định hướng phát triển đất nước từ năm 2021 đến 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Có thể thấy, nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia từ khi đất nước thống nhất đến nay đã có sự thay đổi phù hợp với sự biến động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước cũng như phù hợp với yêu cầu thực tiễn bảo vệ an ninh quốc gia đặt ra. Đây là những nhận thức quan trọng của Đảng để lực lượng chuyên trách từng bước nghiên cứu, cụ thể hóa và phát triển lý luận về an ninh quốc gia, đồng thời là cơ sở để lực lượng chuyên trách tổ chức, bố trí lực lượng, phương tiện, biện pháp và các điều kiện cần thiết để phục vụ công tác bảo vệ an ninh quốc gia.

 

Hai là, nhận thức lý luận của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia

 

Thứ nhất, nhận thức về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

Mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia gắn với mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của Đảng đề ra qua từng giai đoạn. Trong giai đoạn 1975 - 1986, căn cứ nhiệm vụ chiến lược chính trị trước mắt và lâu dài; căn cứ vào tình hình và âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch trong từng thời gian nhất định, Đảng xác định mục tiêu nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia: “Đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn phá hoại, gây bạo loạn và lật đổ của địch từ bên trong nội bộ; góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần chủ động tấn công kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và tấn công thành một chiến lược để đánh địch”[6].

 

Đến Đại hội VI (1986) Đảng ta xác định: “Trong giai đoạn mới của cách mạng, Đảng phải lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[7]. Bước sang giai đoạn 1986 - 1991, tình hình trong nước đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức về kinh tế - xã hội, đòi hỏi Đảng phải đổi mới toàn diện về tư duy, phong cách, tổ chức cán bộ. Chính vì vậy, bên cạnh việc bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia còn tập trung hướng đến phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, điều này đã được Đại hội VI (1986) chỉ ra: “Quốc phòng và an ninh được xây dựng và củng cố ngày càng vững mạnh bảo đảm điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế”[8].

 

Từ năm 1991 đến nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia ngày càng đa dạng, do đó, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia đã được Đảng nhận thức và điều chỉnh theo sự thay đổi của tình hình thực tiễn. Mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn này được thể hiện trong các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt là tại Nghị quyết 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia. Trong giai đoạn này, Đảng đều khẳng định lại mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra ở giai đoạn trước, đồng thời phát triển và bổ sung mục tiêu, nhiệm vụ mới phù hợp với sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới. Không chỉ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và Nhân dân, mục tiêu hướng đến còn là “bảo vệ con người, an ninh con người”, “xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”[9] bằng các biện pháp mới hơn, mạnh hơn, đó là phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia. Việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia là “bảo vệ con người, an ninh con người” thể hiện rõ bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa và phát huy tư duy trong xây dựng nguồn lực bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở để xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong tổng thể Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia.

 

Thứ hai, nhận thức về tầm nhìn và phạm vi bảo vệ an ninh quốc gia

 

Tầm nhìn trong bảo vệ Tổ quốc nói chung và bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng được Đảng luôn đặc biệt quan tâm và đề ra trong các kỳ đại hội. Sau khi thống nhất đất nước, đặc biệt tại Đại hội VII, Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, đưa ra tầm nhìn để định hướng tương lai, chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, xác định “giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước” và thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 với mục tiêu tổng quát “ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI. Tổng sản phẩn trong nước đến năm 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990”. Đến Đại hội XI, Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) có sự điều chỉnh, bổ sung thêm các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình, vị thế, tiềm lực đất nước, tầm nhìn đến giữ thế kỷ XXI xây dựng đất nước trở thành một nước công nghiệp, hiện đại, theo hướng xã hội chủ nghĩa, xác định “giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”.

 

Tại Đại hội XIII (2021), Đảng ta đã đặt tầm nhìn mới xa hơn, với chiến lược lâu dài và có lộ trình tổng thể trong hoạch định chính sách, mục tiêu cụ thể phát triển đất nước. Lần đầu tiên Đảng đưa ra tầm nhìn chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) - “Nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” và đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước) - “Nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao”; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tầm nhìn tổng thể đó đã định hướng về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh đến năm 2030: “Phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”[10]. Có thể thấy, nhận thức về tầm nhìn của Đảng trong bảo vệ Tổ quốc nói chung và bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng có sự thay đổi theo hướng chiến lược, với sự định hướng lâu dài, là cơ sở giúp lực lượng vũ trang chủ động trong việc xác định lộ trình, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và cách thức thực hiện phù hợp, nâng cao hiệu quả bảo vệ an ninh quốc gia trên thực tế.

 

Về phạm vi bảo vệ an ninh quốc gia, do sự thay đổi của các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia, tất yếu phạm vi bảo vệ an ninh quốc gia cũng có sự thay đổi tương ứng. Bảo vệ an ninh quốc gia luôn được xác định là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; phát hiện, loại trừ các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia – dân tộc khác. Tuy nhiên, do bối cảnh từng giai đoạn mà Đảng đã xác định phạm vi bảo vệ an ninh quốc gia có sự điều chỉnh từ “làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của đất nước ta” (Đại hội VII); “ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước” (Đại hội VIII); đến “sẵn sàng ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”. Đến Đại hội XII, Đảng đã đề ra quan điểm: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”[11]. Như vậy, Đảng đã xác định phạm vi bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia, mà phải mở rộng ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia; trong bảo vệ an ninh quốc gia phải có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, đồng thời phải “ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”[12]. Có thể nhận thấy, tư duy về phạm vi bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng đã có sự kế thừa tư duy bảo vệ Tổ quốc của cha ông ta theo tư tưởng “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Đồng thời, phát triển lên tầm cao mới, đó là chủ động, hợp tác, mở rộng phạm vi bảo vệ quốc gia ra khỏi biên giới hành chính quốc gia, không chỉ trên bộ, trên biển, trên không, trên vũ trụ mà còn mở rộng ra cả không gian mạng.

 

Thứ ba, nhận thức về quan điểm, phương châm chỉ đạo trong bảo vệ an ninh quốc gia

Về quan điểm chỉ đạo: Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Xuất phát từ bối cảnh tình hình của đất nước, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc nói chung và bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng cũng có sự thay đổi so với thời kỳ trước. Trong giai đoạn đầu thống nhất đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia được Đảng xác định: “Đảng lãnh đạo toàn dân thực hiện, ngành Công an là công cụ chuyên môn” với tinh thần “tấn công địch, đồng thời tích cực bảo vệ ta”[13]. Đến năm 1986, đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, cùng với đó, Đảng cũng đổi mới tư duy lý luận, bên cạnh quan điểm “Đảng lãnh đạo toàn dân” như giai đoạn trước đề ra, giai đoạn này Đảng đã bổ sung quan điểm “kết hợp chặt chẽ kinh tế, quốc phòng và an ninh”. Sự thay đổi này hoàn toàn phù hợp với tinh thần đổi mới, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo Nghị quyết của Đại hội VI (1986).

 

Đến năm 1991, trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, quan điểm của Đảng trong bảo vệ an ninh quốc gia được Đảng xác định với tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, “tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc”. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, ngày 12/8/2003 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã bổ sung quan điểm: “Chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi”[14].

 

Với sự biến đổi mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới, xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển cũng như các vấn đề an ninh phi truyền thống dần hiện hữu, đe dọa đến an ninh quốc gia. Nhận thức của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia đã có sự thay đổi, quan điểm của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia. Trong đó Đảng xác định: “Vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng”[15]; “Bảo vệ an ninh quốc gia là tổng thể các biện pháp xây dựng, củng cố tiềm lực an ninh quốc gia;...”; “củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dựa vào dân, yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia”[16]. Có thể nhận thấy, quan điểm của Đảng có sự phát triển phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh tình hình thực tế của đất nước; đồng thời sự phát triển dựa trên cơ sở kế thừa các quan điểm trước của Đảng, thể hiện tư duy sáng tạo, linh hoạt của Đảng trong bảo vệ an ninh quốc gia trước bối cảnh tình hình mới.

 

Về phương châm chỉ đạo: Cùng với quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng trong bảo vệ an ninh quốc gia cũng có sự thay đổi theo từng giai đoạn. Trong giai đoạn đầu sau khi đất nước thống nhất, với mỗi đối tượng đấu tranh khác nhau, Đảng đề ra phương châm với từng loại đối tượng cụ thể, trong đó nhấn mạnh “Chủ động phòng ngừa và tiến công địch”[17]. Đồng thời, phương châm này được Đảng bổ sung, phát triển toàn diện hơn ở các giai đoạn từ 1975 đến nay: “Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tích cực, chủ động, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá ta”[18]; “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính”[19]. Có thể nói, chủ động phòng ngừa là phương châm chỉ đạo xuyên suốt trong bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng, phương châm này được Đảng khẳng định, bổ sung và phát triển qua các thời kỳ khác nhau dựa trên bối cảnh thực tế tình hình của đất nước. Bên cạnh “chủ động phòng ngừa”, Đảng cũng đã bổ sung các phương châm chỉ đạo khác nhau trên cơ sở kế thừa phương châm chỉ đạo tại các kỳ Đại hội của giai đoạn trước, thể hiện tư duy của Đảng trong bảo vệ an ninh quốc gia là luôn giữ vững thế chủ động chiến lược, kiên quyết, mềm dẻo về sách lược: “Kiên định các nguyên tắc chiến lược, đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế; phân hoá, cô lập các phần tử chống đối, ngoan cố nhất, các thế lực chống phá Việt Nam hung hăng nhất”[20]; “Giải quyết các vụ việc phức tạp về an ninh quốc gia phải từ cơ sở, dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương theo cơ chế thống nhất và phương châm “Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ” [21]. Phương châm chỉ đạo bảo vệ an ninh quốc gia từ khi đất nước thống nhất đến nay luôn có sự thay đổi, phát triển, thể hiện tư tưởng chỉ đạo hành động ngày càng cụ thể hơn, với tinh thần và sự quyết tâm cao hơn trong đấu tranh với các thế lực thù địch, các loại tội phạm. Đồng thời, phương châm chỉ đạo bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng cũng chính là sự kế thừa, nghệ thuật đấu tranh cách mạng của dân tộc, truyền thống giữ nước của cha ông ta “giữ nước từ khi nước chưa nguy” và tính chất, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia “lấy phòng ngừa là chính”. Sự phát triển tư duy về phương châm bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng là sự phù hợp và đúng đắn, đảm bảo luôn giữ vững thế chủ động chiến lược, chủ động trong mọi tình huống, thể hiện “tính chiến đấu” thường xuyên, liên tục trong mọi hoàn cảnh, vừa gắn chặt với xu thế hòa bình, ổn định và phát triển của đất nước.

 

Thứ tư, nhận thức về đối tác, đối tượng

 

Xác định đối tác, đối tượng trong quan hệ quốc tế luôn là vấn đề nhạy cảm, quan trọng của quốc gia. Từ khi đất nước thống nhất đến nay, việc nhận diện đối tác, đối tượng, xử lý mối quan hệ giữa đối tác, đối tượng luôn được Đảng quan tâm, chú trọng. Đây chính là cơ sở để Việt Nam hoạch định đường lối đối ngoại, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

 

Trước khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới (1986), mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa là ưu tiên hàng đầu trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Các đối tượng đấu tranh trong quan hệ quốc tế là các nước đế quốc, tư bản. Sự phân định đối tác, đối tượng của Đảng trước thời kỳ đổi mới phản ánh bối cảnh lịch sử lúc đó, trật tự thế giới hai cực phân tuyến bạn - thù, địch - ta rõ ràng. Do vậy, việc đánh giá về đối tác, đối tượng của Đảng cũng chịu ảnh hưởng bởi tư duy ý thức hệ. Đến Đại hội VI (1986), Đảng ta đã kịp thời đổi mới tư duy, xác định đúng đắn tầm quan trọng của quan hệ với các nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư duy về đối tác, đối tượng của Đảng được định hình ngày một rõ nét, phát triển có hệ thống và liên tục được hoàn thiện. Đặc biệt, Nghị quyết số 13/NQ-TW ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đã đánh dấu bước chuyển chiến lược về tư duy bạn - thù, là tiền đề để Đại hội VII (1991) của Đảng chính thức khẳng định phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ đối ngoại.

 

Tại Đại hội VIII, Đảng ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 17/12/1998 về Chiến lược an ninh quốc gia đã nêu giải pháp phải “mở rộng hợp tác quốc tế, góp phần củng cố an ninh, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đến Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (năm 2003) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã chuyển từ tư duy “bạn - thù” sang tư duy mới “đối tác - đối tượng”[22], thể hiện cách nhìn nhận mới và thống nhất về đối tác, đối tượng. Việc xác định đối tác, đối tượng được Nghị quyết chỉ ra phải trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch chống đối, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

 

Tiếp đó, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã làm rõ hơn vấn đề đối tác, đối tượng, cụ thể như: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của ta”[23]. Mặt khác, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở Biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, việc xác định rõ đối tác, đối tượng là cơ sở để bảo vệ an ninh quốc gia. Chính vì thế, Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 05/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia đã chỉ rõ: “Nhận diện, xử lý đúng đắn và vận dụng sáng tạo quan điểm về đối tác, đối tượng trong bảo vệ an ninh quốc gia… Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải cảnh giác, đấu tranh”[24].

 

Có thể thấy, từ chỗ phân định rạch ròi theo khái niệm “địch - ta”, Đảng ta chuyển sang cách tiếp cận biện chứng, sang tư duy đối tác, đối tượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc. Thấy rõ sự đan xen, chuyển hóa giữa đối tượng, đối tác, xác định lấy đối tác làm cơ sở để thiết lập quan hệ quốc tế, đồng thời, đấu tranh với đối tượng. Sự thay đổi tư duy nhận thức về đối tác, đối tượng của Đảng thể hiện tầm nhìn chiến lược, phù hợp với tình hình thế giới cũng như thực tiễn đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia.

 

Thứ năm, nhận thức về xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia

 

Nhận thức của Đảng về xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia trong 50 năm qua được phát triển một cách toàn diện. Sau khi thống nhất đất nước, trước bối cảnh tình hình mới, để thực hiện 02 nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng đã có sự thay đổi tư duy về xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia, quan tâm đến xây dựng, củng cố quốc phòng theo hướng toàn dân, toàn diện và hiện đại, hướng đến một nền quốc phòng vững mạnh, đủ sức để đánh tan âm mưu chiến tranh xâm lược của địch; đồng thời, xây dựng lực lượng Công an trong sạch, vững mạnh toàn diện để đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đến Đại hội VI, nhận thức của Đảng về xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn này đã có sự phát triển mới, bên cạnh việc khẳng định phát triển tiềm lực kinh tế, gắn kinh tế với quốc phòng, an ninh, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng ta còn đặc biệt quan tâm đến phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ, coi khoa học kỹ thuật và công nghệ là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ quá trình đổi mới, nhấn mạnh “Tăng mức đầu tư, đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức lại lực lượng khoa học kỹ thuật, làm cho khoa học kỹ thuật gắn chặt với sản xuất và đời sống”[25].

 

Trong các kỳ đại hội tiếp theo, tư duy của Đảng về xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh nói chung và tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng có sự phát triển với nhiều điểm mới. Mặc dù tư duy về xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh đã xuất hiện từ sớm, tuy nhiên, thuật ngữ “tiềm lực quốc phòng, an ninh” mới được cụ thể hóa trong văn kiện Đại hội VII. Đồng thời, lần đầu tiên Đảng đề cập đến thuật ngữ “thế trận an ninh nhân dân”, “nền an ninh nhân dân” và chỉ rõ cách thức xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh, đó là “xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân”. Đến Đại hội XI, Đảng nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh của của toàn dân tộc vào bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở xây dựng “thế trận lòng dân”, cụ thể: “Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”[26]. Thuật ngữ “thế trận an ninh nhân dân”, “nền an ninh nhân dân”, “thế trận lòng dân” được Đảng đưa ra tại các kỳ Đại hội, thể hiện sự phát triển tư duy mới của Đảng trong xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia, đặc biệt Đảng đã nhấn mạnh vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân cần phải khơi gợi, quy tụ và phát huy trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia cũng như xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia.

 

Tại Đại hội XI, XII, XIII, Đảng không chỉ khẳng định lại việc xây dựng, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh được thể hiện ở giai đoạn trước, mà còn mở rộng về phạm vi: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc”[27]. Đồng thời, Đảng chỉ rõ cách thức xây dựng, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh: “Có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh”[28]. Đây là sự phát triển tư duy ở mức độ cao hơn, tạo ra cơ chế mở để phát huy cao nhất các nguồn lực xã hội nhằm xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia vững mạnh hơn. Bên cạnh đó, trong xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia, Đảng cũng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”[29]. Tư duy về xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng được xác định với yêu cầu cao hơn, chuyển từ trạng thái “từng bước hiện đại” sang “một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”. Đồng thời, xác định mục tiêu phấn đấu “đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là sự phát triển nhận thức quan trọng của Đảng trong việc định hướng xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp với xu thế, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia cũng như tiềm lực của đất nước hiện nay.

 

3. Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, biến đổi mau lẹ, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra quyết liệt, quy mô ngày càng rộng lớn; các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng đa dạng, khó nhận diện, khó kiểm soát; quá trình toàn cầu hóa cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Ở trong nước, những thành tựu của 50 năm từ khi đất nước thống nhất đã tạo thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Tuy nhiên, những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế tiếp tục gia tăng cả về quy mô và cường độ. Trong bối cảnh đó, để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, đòi hỏi lực lượng chuyên trách phải tiếp tục phát triển nhận thức lý luận về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia, đồng thời phải tập trung triển khai có hiệu quả các mặt công tác trọng tâm, chiến lược trong bảo vệ an ninh quốc gia. Các mặt công tác trọng tâm, chiến lược cần thực hiện cụ thể như sau:

 

Một là, nhận thức rõ và quán triệt sâu sắc tư duy lý luận của Đảng về an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia để làm cơ sở, căn cứ triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia là vấn đề chiến lược luôn được Đảng ta quan tâm bổ sung, phát triển, hoàn thiện về nhận thức, tư duy lý luận qua các thời kỳ để phù hợp với tình hình thực tiễn. Do đó, lực lượng chuyên trách trong bảo vệ an ninh quốc gia cần phải nghiên cứu, nhận thức rõ về tư duy, tầm nhìn cũng như những nhiệm vụ mới mà Đảng đề ra trong bảo vệ an ninh quốc gia, lấy đó làm kim chỉ nam cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Đồng thời, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cần chủ động nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nhận thức tư duy lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia nhất là nhận thức về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia; quan điểm, phương châm chỉ đạo trong bảo vệ an ninh quốc gia; đối tác, đối tượng; xây dựng tiềm lực bảo vệ an ninh quốc gia… Trên cơ sở nhận thức rõ về tư duy lý luận an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia, sẽ là cơ sở, tiền đề quan trọng để lực lượng chuyên trách triển khai có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới. 

 

Hai là, vận dụng có hiệu quả lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia trong thực tiễn. Lực lượng chuyên trách trong bảo vệ an ninh quốc gia cần nắm vững, vận dụng đúng đắn, có hiệu quả nhận thức lý luận của Đảng về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Trên cơ sở xác định cụ thể mục tiêu, nhiệm vụ cũng như quán triệt quan điểm, phương châm trong bảo vệ an ninh quốc gia đã được Đảng chỉ ra, lực lượng chuyên trách trong bảo vệ an ninh quốc gia cần cụ thể hóa những nội dung này vào thực tiễn công tác tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia đặt ra. Đồng thời, vận dụng có hiệu quả nhận thức lý luận của Đảng về xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia hướng đến mục tiêu thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và hậu cần, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trước mắt và lâu dài.

 

Ba là, chủ động nắm tình hình về mọi mặt, nhận diện chính xác các vấn đề mới trong bảo vệ an ninh quốc gia. Yêu cầu đặt ra đối với công tác nắm tình hình là phải chủ động nắm chắc, nắm sớm, toàn diện mọi diễn biến tình hình thế giới, khu vực, trong nước và quan hệ song phương để đánh giá, phát hiện sự điều chỉnh về ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống tác động tới an ninh quốc gia. Để làm tốt công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược trong bảo vệ an ninh quốc gia thời gian tới, lực lượng chuyên trách cần tập trung một số vấn đề như: (1) Tăng cường nắm tình hình, thu thập, xử lý thông tin liên quan an ninh quốc gia; đẩy mạnh công tác điều tra nghiên cứu về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động; tập trung phân tích, dự báo chính xác để phát hiện các nguy cơ, thách thức về an ninh quốc gia; (2) Đa dạng hóa nguồn, phương thức thu tin theo hướng có trọng tâm, trọng điểm và chiều sâu; coi trọng phối hợp xác minh, thẩm tra, phân tích, đánh giá thông tin; (3) Tăng cường công tác chỉ huy, chỉ đạo tập trung, thống nhất, đồng bộ về thu thập, xử lý thông tin liên quan an ninh quốc gia đảm bảo nhanh chóng, kịp thời, từng bước nâng cao hiệu quả đánh giá, dự báo chiến lược. Bên cạnh đó, trên cơ sở nắm tình hình cần nghiên cứu, phân tích, đánh giá và nhận diện chính xác những vấn đề mới nảy sinh có liên quan đến bảo vệ an ninh quốc gia như không gian chiến lược của quốc gia; nguy cơ, thách thức đe doa đến an ninh quốc gia; vấn đề đối tượng, đối tác và hợp tác quốc tế trong bảo vệ an ninh quốc gia. Trên cơ sở nắm tình hình, nhận diện chính xác các vấn đề mới, lực lượng chuyên trách trong bảo vệ an ninh quốc gia tính toán tổ chức, bố trí nguồn lực, xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh quốc gia phù hợp, hiệu quả.

 

Bốn là, xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt đảm bảo đủ khả năng bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Tiếp tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa quân chủng, binh chủng, lực lượng hải quân, phòng không, không quân, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, cảnh sát biển, tình báo, cơ yếu, an ninh, cảnh sát cơ động, kỹ thuật nghiệp vụ, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao”[30]. Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đáp ứng được các mục tiêu “vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Đây là điều kiện quan trọng để lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đảm bảo đủ khả năng bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.

 

Năm là, tổ chức nghiên cứu phát triển, hoàn thiện lý luận về quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, nghiên cứu phát triển, hoàn thiện lý luận về quốc phòng, an ninh là hết sức cần thiết. Thời gian tới cần tiếp tục tập trung nghiên cứu, phát triển lý luận về xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Nghiên cứu, phát triển lý luận về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên đất liền, trên biển, trên không và không gian mạng, cả bên trong và bên ngoài, trong thời bình và thời chiến, tác chiến liên hoàn giữa các loại hình thế trận. Nghiên cứu, phát triển lý luận về xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh một cách toàn diện. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về “nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới”[31]. Cần đặc biệt quan tâm nghiên cứu, phát triển lý luận về các hoạt động nghiệp vụ trên môi trường không gian mạng, tác chiến điện tử, chiến tranh mạng; chiến thuật, chiến dịch trong công tác công an. Đồng thời, việc nghiên cứu phát triển, hoàn thiện lý luận về quốc phòng, an ninh đến năm 2030 và những năm tiếp theo, cần quán triệt sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng trong tình hình mới./.

 

Thiếu tướng, PGS.TS Trịnh Ngọc Quyên

Giám đốc Học viện An ninh nhân dân

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1992), Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 29/6/1992 về nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia, chống diễn biến hoà bình của địch, Hà Nội.

           2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hà Nội.

3. Bộ Chính trị (1984), Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/11/1984 về công tác an ninh, Hà Nội.

4. Bộ Chính trị (1998), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 17/12/1998 vChiến lược an ninh quốc gia, Hà Nội.

           4. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 5/9/2019 về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Hà Nội.

 5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, V, VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII, XIII, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới phần I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới phần II,  Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

8. Hội đồng Nhà nước (1985), Bộ luật Hình sự, số 17-LCT/HDDNN7 ngày 27/6/1985, Hà Nội.

9. Thường vụ Trung ương Cục miền Nam (1972), Nghị quyết 165 về Đường lối công tác an ninh, Hà Nội.

10. Tô Lâm (2021), Những điểm mới về an ninh quốc gia trong Văn kiện đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

11. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

12. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật An ninh quốc gia, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 



[1] Tô Lâm (2021), Những điểm mới về an ninh quốc gia trong Văn kiện đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.50.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Phần I, tr.437.

[3] Luật An ninh quốc gia (2004), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 05/9/2019 về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Hà Nội.

[5] Tô Lâm (2021), Những điểm mới về an ninh quốc gia trong Văn kiện đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.108-109.

[6] Bộ Chính trị (1984), Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 26  tháng 11 năm 1984 về công tác an ninh, tr.9

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Phần I, tr.45.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.156.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.158.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.149.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.156.

[13] Thường vụ Trung ương Cục miền Nam (1972), Nghị quyết 165 về đường lối công tác an ninh, Hà Nội.

[14] Ban Chấp hành Trung ương (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, ngày 12/8/2003 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hà Nội.

[15] Ban Chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hà Nội.

[16] Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 5/9/2019 về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Hà Nội.

[17] Thường vụ Trung ương Cục miền Nam (1972), Nghị quyết 165 về đường lối công tác an ninh, Hà Nội.

[18] Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Phần I, tr.717.

[19] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.156.

[20] Ban Chấp hành Trung ương (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, ngày 12/8/2003 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hà Nội.

[21] Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 5/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Hà Nội.

[22] Tô Lâm (2021), Những điểm mới về an ninh quốc gia trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr.85.

[23] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hà Nội.

[24] Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 5/9/2019 về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Hà Nội.

[25] Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Phần II, tr.274.

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng toàn tập - Tập 65, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.207.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.234.

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.159.

[29] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.157-158.

[30] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.276-277.

[31] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.159.

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết