Ngày 6/1/1946 lần đầu tiên Nhân dân Việt Nam trực tiếp bỏ phiếu bầu ra Quốc hội của mình. Lá phiếu của ngày Tổng tuyển cử đầu tiên ấy không chỉ bầu ra Quốc hội khóa I, mà còn xác lập nền tảng chính danh cho Nhà nước Việt Nam mới, trong đó Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc thể chế hóa ý chí và nguyện vọng của nhân dân, biến hành động thành những giá trị phát triển bền vững cho đất nước và vì hạnh phúc ấm no của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử các thành viên lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội.
Lá phiếu của ý thức làm chủ và khát vọng tự quyết mạnh mẽ
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải đối mặt muôn vàn khó khăn, thử thách: kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn mù chữ; các lực lượng thù địch chống phá; nguy cơ xâm lược tái diễn. Trong bối cảnh ấy, một yêu cầu sống còn đặt ra là nhanh chóng xây dựng một thiết chế đại diện hợp hiến, hợp pháp để quy tụ lòng dân, củng cố chính quyền cách mạng và làm “chứng minh thư” pháp lý với quốc dân và thế giới.
Ngày 8/9/1945, Sắc lệnh số 14-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký được công bố đã ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân Đại hội ngày 16-17/8/1945 tại khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam theo chính thể Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên”.
Và để xúc tiến công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ban hành một loạt sắc lệnh: Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; ban hành Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 2/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử.
Và một ngày trước khi diễn ra cuộc tổng tuyển cử, ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu”, nhấn mạnh: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.
Theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 6/1/1946, người dân nô nức đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội của mình, với tỷ lên lên tới 89%; riêng Hà Nội đạt 91,95% cử tri đi bỏ phiếu.
Kết quả, 333 đại biểu ưu tú được bầu vào Quốc hội khóa I, đại diện cho các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và tôn giáo trên cả nước.
Quốc hội được bầu ra từ Tổng tuyển cử 6/1/1946 vì thế trở thành thiết chế đại diện cao nhất của Nhân dân, là kết quả trực tiếp của việc Nhân dân lần đầu tiên thực hiện quyền làm chủ thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp. Thực tiễn lịch sử cho thấy, sự tham gia rộng rãi, tự giác và đầy trách nhiệm của cử tri cả nước trong cuộc bầu cử đầu tiên ấy đã phản ánh ý thức làm chủ và khát vọng tự quyết mạnh mẽ của Nhân dân sau hàng thế kỷ mất độc lập.
Quốc hội Việt Nam - hiện thân của ý chí nhân dân, trụ cột của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước bền vững
80 đã năm trôi qua, điều làm nên giá trị lâu dài của ngày 6/1/1946 không chỉ là dấu ấn lịch sử, mà là khuôn mẫu quyền lực nhà nước được hình thành và duy trì từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, trong đó Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc thể chế hóa ý chí và nguyện vọng của Nhân dân; quyền lực nhà nước không vận hành thuần túy bằng mệnh lệnh hành chính, mà dựa trên sự ủy quyền, kiểm soát và trách nhiệm giải trình. Tinh thần ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam từ những ngày đầu lập quốc đến nay.
Suốt 80 năm hình thành và phát triển, trải qua nhiều gian khổ nhưng cũng hết sức vẻ vang, Quốc hội Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng hành cùng dân tộc qua các giai đoạn cách mạng: từ kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Mỗi nhiệm kỳ Quốc hội là một chặng đường lịch sử với những quyết sách lớn, những đạo luật nền tảng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Quốc hội không ngừng được củng cố, đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động, ngày càng phát huy rõ nét vai trò là cơ quan lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Phát biểu trong nhiều dịp quan trọng, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: quá trình phát triển của Quốc hội Việt Nam là một hành trình kiên định, sáng tạo và không ngừng đổi mới. Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc, là nơi những quyết sách trọng đại thể theo ý chí, nguyện vọng của Nhân dân được thảo luận dân chủ, thông qua thận trọng và triển khai quyết liệt.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng nhiều lần khẳng định: đồng hành cùng dân tộc và đất nước, Quốc hội không ngừng đổi mới, khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; để lại nhiều dấu ấn quan trọng, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Góp phần vào thành tựu chung ấy là sự cống hiến trí tuệ, bản lĩnh, tâm huyết và trách nhiệm cao của các thế hệ đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ.
Từ khát vọng độc lập, ý thức làm chủ đến khát vọng hùng cường, từ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đến mục tiêu “Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu”, dân tộc ta đang đi trên một hành trình nối dài khát vọng. Phát huy tinh thần ngày 6/1/1946 chính là tiếp tục khơi dậy và bảo vệ quyền làm chủ của Nhân dân trong điều kiện mới, bảo đảm mọi đường lối, chính sách đều hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Phương Dung (TTXVN)