TCCS - Sau hơn 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao; đồng thời, những chuyển biến của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và kinh tế dữ liệu đang tác động sâu sắc đến phương thức tổ chức và vận hành của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và vận hành phù hợp với yêu cầu mới, nhằm phát huy hiệu quả quản trị quốc gia và sức mạnh của toàn dân trong công cuộc phát triển đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, ngày 27-9-2026_Ảnh: TTXVN
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và sự biến đổi phương thức vận hành dưới tác động của chuyển đổi số
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là cơ chế vận hành tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam, phản ánh sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện quyền lực chính trị giữa ba chủ thể: Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cơ chế này phản ánh bản chất của chế độ chính trị - xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Trong cơ chế đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, giữ vai trò hoạch định Cương lĩnh, đường lối, chủ trương và định hướng phát triển đất nước; lãnh đạo công tác cán bộ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát... Đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu”(1); đồng thời tôn trọng và phát huy tính chủ động, sáng tạo, không bao biện, làm thay chức năng quản lý của Nhà nước.
Nhà nước là chủ thể thực hiện quyền lực công, có chức năng thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật, quyền con người, quyền công dân và tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển; mọi hoạt động của Nhà nước đều phải “bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”(2).
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”(3). Quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và các hình thức tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội theo quy định của pháp luật. Đồng thời, nhân dân thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước, góp phần bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng pháp luật và vì lợi ích của nhân dân.
Ba thành tố trên không tồn tại tách biệt mà gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất. Đảng lãnh đạo nhằm bảo đảm định hướng chính trị và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước quản lý nhằm thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua tham gia, giám sát và phản biện xã hội, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.
Chuyển đổi số không làm thay đổi bản chất và cấu trúc của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhưng đang làm biến đổi sâu sắc phương thức vận hành của cơ chế này. Sự biến đổi đó không diễn ra ở chức năng của từng chủ thể, mà chủ yếu ở phương thức thực hiện chức năng và phương thức tương tác giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị. Điều đó thể hiện trên bốn phương diện chủ yếu sau đây.
Thứ nhất, sự biến đổi phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong điều kiện chuyển đổi số, phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước chuyển từ chủ yếu dựa trên hệ thống báo cáo theo cấp hành chính và tổng kết thực tiễn định kỳ sang tăng cường khai thác dữ liệu phục vụ phân tích, dự báo và hoạch định chủ trương, đường lối. Dữ liệu ngày càng trở thành nguồn thông tin quan trọng hỗ trợ các cơ quan tham mưu chiến lược trong việc đánh giá thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển và nâng cao chất lượng tham mưu. Đồng thời, chuyển đổi số tạo điều kiện đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát theo hướng thường xuyên, liên tục và dựa trên dữ liệu. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát”, thực hiện kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu, đáp ứng yêu cầu “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu”(4). Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý đảng viên, sinh hoạt đảng và điều hành công việc cũng góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng.
Thứ hai, sự biến đổi phương thức quản lý, quản trị của Nhà nước. Chuyển đổi số đang thúc đẩy quá trình đổi mới phương thức quản lý hành chính, chuyển từ phương thức quản lý truyền thống “sang mô hình kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân, thúc đẩy quản trị quốc gia, quản trị địa phương... thực sự gần dân, sát cơ sở, phục vụ người dân tốt hơn”(5). Quá trình số hóa, liên thông cơ sở dữ liệu và cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình góp phần chuẩn hóa quy trình quản lý, tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, đồng thời từng bước thu hẹp điều kiện phát sinh các biểu hiện quan liêu, nhũng nhiễu và cơ chế “xin - cho”. Cùng với đó, việc quản lý dựa trên dữ liệu tạo điều kiện để chuyển mạnh từ phương thức quản lý thiên về tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm gắn với giám sát thường xuyên, qua đó vừa tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Việc “xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và liên thông với dữ liệu quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông từ cấp tỉnh đến cấp xã; tổ chức một cửa liên thông số”(6) đang tạo nền tảng để nâng cao chất lượng điều hành, tăng cường khả năng phối hợp giữa các cơ quan và nâng cao năng lực phản ứng chính sách trước những biến động của thực tiễn.
Thứ ba, sự biến đổi phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Chuyển đổi số đã mở rộng không gian, hình thức và điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Nếu trước đây việc tham gia xây dựng chính sách, giám sát và phản biện xã hội chủ yếu được thực hiện thông qua các kênh truyền thống, thì trong môi trường số, người dân có điều kiện tham gia ngày càng thuận lợi hơn thông qua các nền tảng số(7). Văn kiện Đại hội XIV xác định nhiệm vụ “phát triển và vận hành hiệu quả Cổng pháp luật quốc gia phục vụ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận pháp luật, tiếp nhận, giải quyết kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật trên môi trường số”(8). Việc công khai thông tin, dữ liệu về quản lý nhà nước, đầu tư công, ngân sách và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cũng góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan công quyền. Đồng thời, việc triển khai định danh điện tử, hồ sơ sức khỏe điện tử, cơ sở dữ liệu an sinh xã hội và các nền tảng số khác từng bước tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ công và chính sách xã hội nhanh chóng, thuận tiện và minh bạch hơn.
Thứ tư, sự biến đổi phương thức vận hành của toàn bộ cơ chế. Không chỉ tác động đến từng thành tố của cơ chế, chuyển đổi số cũng đang làm thay đổi cả phương thức tương tác giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị. Nếu trước đây, quá trình vận hành chủ yếu diễn ra theo mô hình nhiều tầng nấc, thông tin truyền đạt theo cấp hành chính và có độ trễ nhất định, thì trong điều kiện chuyển đổi số, sự phối hợp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân từng bước được thực hiện trên nền tảng dữ liệu số theo hướng kết nối, liên thông và phản hồi nhanh hơn. Việc “thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân, thông qua các nền tảng số”(9), mở rộng chia sẻ dữ liệu và tăng cường khả năng theo dõi, giám sát quá trình thực thi chính sách góp phần nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chủ thể, đồng thời tạo điều kiện hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trên cơ sở dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Đây là sự biến đổi có ý nghĩa quan trọng nhất đối với phương thức vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số.
Như vậy, tác động chủ yếu của chuyển đổi số đối với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” không nằm ở sự thay đổi chức năng của các chủ thể, mà ở sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức quản lý, quản trị của Nhà nước, phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và phương thức phối hợp, tương tác giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị. Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế này nhằm thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị.
Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số
Những biến đổi về phương thức vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” dưới tác động của chuyển đổi số đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cả về nhận thức, thể chế, tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị. Đáng chú ý, chuyển đổi số đang làm gia tăng khả năng kết nối, liên thông và chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các chủ thể, song kết nối về mặt công nghệ chưa đồng nghĩa với hiệu quả vận hành. Khoảng cách giữa thiết kế chính sách và tổ chức thực thi, giữa cung cấp dịch vụ số và khả năng tiếp cận của người dân, giữa liên thông dữ liệu và phối hợp giữa các chủ thể vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được giải quyết. Đây là cơ sở để nhận diện những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ nhất, những vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Trước hết, chuyển đổi số đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ “tư duy phát triển chưa theo kịp các xu thế phát triển của thế giới, phản ứng chính sách chưa kịp thời”, đồng thời cảnh báo “nguy cơ bao trùm là nguy cơ tụt hậu, nhất là về công nghệ”(10). Trong bối cảnh đó, yêu cầu nâng cao năng lực phân tích, dự báo chiến lược trên cơ sở dữ liệu số và ứng dụng công nghệ số trong công tác lãnh đạo trở nên cấp thiết hơn. Đồng thời, cần “đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong các cơ quan đảng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành gắn với cải cách thủ tục hành chính”(11). Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đặt ra yêu cầu tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao hiệu quả đấu tranh với các thông tin sai trái, xuyên tạc và đổi mới phương thức công tác tư tưởng phù hợp với môi trường số. Cùng với đó, việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong điều kiện chuyển đổi số cũng trở thành yêu cầu thường xuyên đối với công tác xây dựng Đảng.
Thứ hai, những vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới phương thức quản lý, quản trị của Nhà nước. Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển phù hợp với sự xuất hiện của các mô hình kinh tế, công nghệ và phương thức quản trị mới. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”(12), trong khi hệ thống pháp luật vẫn còn tình trạng thiếu đồng bộ, chồng chéo và chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và xã hội số. Đồng thời, quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh số hóa hoạt động quản lý nhà nước cũng đòi hỏi nâng cao năng lực số, năng lực thực thi và tinh thần đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức. Đặc biệt, yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, quản trị phải được thể hiện bằng kết quả vận hành thực tế. Kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” nhấn mạnh: “Các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được”(13). Điều này cho thấy chuyển đổi số trong quản lý, quản trị nhà nước không thể dừng ở việc xây dựng văn bản, nền tảng hay hệ thống kỹ thuật, mà phải được đánh giá dựa trên khả năng vận hành, mức độ sử dụng và hiệu quả thực tế đối với người dân, xã hội. Một vấn đề quan trọng khác là yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong điều kiện các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngày càng được kết nối và chia sẻ trên phạm vi rộng.
Thứ ba, những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Chuyển đổi số tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng dân chủ, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các điều kiện bảo đảm để quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện một cách thực chất. Thực tiễn sử dụng các dịch vụ số cho thấy mức độ tiếp cận và tham gia của người dân vẫn còn hạn chế.
Theo báo cáo Đánh giá 63 cổng dịch vụ công cấp tỉnh từ góc độ người dùng năm 2024, “tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đối với các dịch vụ công trực tuyến toàn trình của cấp tỉnh, thành phố mới chỉ đạt 17%”; đồng thời, khảo sát Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) ghi nhận “chỉ có 7,6% số người dân đã dùng Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh” năm 2023(14). Điều này cho thấy giữa khả năng cung cấp các công cụ và nền tảng số với kả năng tiếp cận, sử dụng thực tế của người dân vẫn tồn tại một khoảng cách nhất định. Khoảng cách đó đặt ra vấn đề về sự gắn kết giữa các nền tảng số phục vụ lấy ý kiến, phản biện xã hội, tiếp nhận kiến nghị của người dân với cơ chế tiếp thu, phản hồi và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, qua đó hạn chế nguy cơ dân chủ hình thức trên môi trường số. Bên cạnh đó, khoảng cách số giữa các vùng, miền và “kỹ năng số của người dân chưa đồng đều, đặc biệt người dân tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng khó khăn”, cùng với tình trạng “người dân chưa thực sự hiểu, tin và làm theo chuyển đổi số”(15) tiếp tục là những rào cản đối với việc thực hiện đầy đủ quyền làm chủ và tiếp cận bình đẳng các dịch vụ công số. Đồng thời, những tác động tiêu cực của môi trường mạng đối với đạo đức xã hội, văn hóa ứng xử và khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng đặt ra yêu cầu tăng cường giáo dục, hoàn thiện thể chế và “xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh”(16).
Thứ tư, những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện phương thức vận hành của toàn bộ cơ chế. Một vấn đề có tính xuyên suốt là hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị trên nền tảng số. Trong khi chuyển đổi số đòi hỏi sự kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực, thì trên thực tế, tình trạng phân tán dữ liệu, thiếu đồng bộ giữa các hệ thống và sự phối hợp chưa thật chặt chẽ giữa các chủ thể vẫn là những rào cản đối với việc nâng cao hiệu quả vận hành của cơ chế. Đến hết tháng 6-2023, “tỷ lệ các bộ, ngành, địa phương đã cung cấp dịch vụ chia sẻ dữ liệu trên nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu NDXP/LGSP đạt 100%”; “tất cả các bộ, ngành, địa phương đã triển khai hệ thống hạ tầng chia sẻ dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh”(17). Tuy nhiên, “việc triển khai các nền tảng phân tích dữ liệu còn hạn chế, chưa nhiều bộ, ngành, địa phương tận dụng khả năng của dữ liệu để phục vụ chỉ đạo, điều hành”(18). Điều này cho thấy khoảng cách giữa việc hình thành hạ tầng dữ liệu và khả năng khai thác dữ liệu trong hoạt động quản lý, điều hành vẫn còn đáng kể.
Ở khía cạnh số hóa quy trình, Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia tháng 3-2025 cũng chỉ ra “việc số hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ để đưa lên môi trường số không có chuyển biến”(19). Những hạn chế trong kết nối, khai thác dữ liệu và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ cho thấy phương thức phối hợp và tổ chức thực hiện vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện. Từ thực tiễn đó, việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực dựa trên dữ liệu, tăng cường trách nhiệm giải trình và bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong môi trường số vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn.
Những vấn đề nêu trên cho thấy, chuyển đổi số đang tạo ra những điều kiện mới để hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và hoàn thiện cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị. Giải quyết đồng bộ những vấn đề này là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế trong bối cảnh chuyển đổi số.
Một số định hướng hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số
Việc hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số cần được thực hiện trên quan điểm giữ vững bản chất và cấu trúc của cơ chế, đồng thời tiếp tục đổi mới phương thức vận hành phù hợp với yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại. Trọng tâm của quá trình này không phải là thay đổi chức năng của các chủ thể trong hệ thống chính trị, mà là hoàn thiện thể chế, phương thức lãnh đạo, phương thức quản lý, quản trị, phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực trên nền tảng số, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị.
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện chuyển đổi số. Trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo trên cơ sở dữ liệu, từng bước hình thành phương thức hoạch định chủ trương, đường lối, kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện nghị quyết dựa trên dữ liệu số. Tiếp tục hoàn thiện và triển khai hiệu quả chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số; nâng cao năng lực dự báo, định hướng dư luận xã hội và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Đồng thời, đổi mới nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa trình độ lý luận chính trị, năng lực lãnh đạo và năng lực số, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong điều kiện phát triển mới.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, quản trị của Nhà nước. Cần tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số; kịp thời điều chỉnh khung pháp lý đối với các mô hình, công nghệ và phương thức quản trị mới. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, từng bước chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị quốc gia hiện đại dựa trên dữ liệu. Cùng với đó, cần xây dựng hạ tầng số đồng bộ, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, coi đây là điều kiện nền tảng cho quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Thứ ba, tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong môi trường số. Hoàn thiện các nền tảng số phục vụ việc tham gia góp ý, phản biện xã hội, giám sát và tiếp cận thông tin của người dân; đồng thời xây dựng cơ chế tiếp thu, phản hồi và trách nhiệm giải trình rõ ràng đối với các ý kiến, kiến nghị trên môi trường số. Tiếp tục triển khai hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”, từng bước nâng cao kỹ năng số cho người dân, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội, bảo đảm mọi người dân đều có điều kiện tham gia và thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số. Đồng thời, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, nâng cao ý thức pháp luật, đạo đức và văn hóa ứng xử trên không gian mạng.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện phương thức vận hành của toàn bộ cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trên nền tảng số. Trọng tâm là xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế phối hợp, phản hồi và trách nhiệm giải trình giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực trên cơ sở dữ liệu và công nghệ số. Việc hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất, kết nối và vận hành thông suốt sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản trị của Nhà nước và phát huy đầy đủ hơn quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch và phục vụ nhân dân.
Chuyển đổi số không làm thay đổi bản chất và cấu trúc của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, mà làm biến đổi sâu sắc phương thức vận hành trên nền tảng số. Điều đó đòi hỏi tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức quản lý, quản trị của Nhà nước, phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, trên cơ sở giữ vững bản chất của cơ chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Qua đó, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nền quản trị quốc gia hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số./.
TS PHẠM THỊ THÚY VÂN
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Link gốc: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1314402/hoan-thien-co-che-%E2%80%9Cdang-lanh-dao%2C-nha-nuoc-quan-ly%2C-nhan-dan-lam-chu%E2%80%9D-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-hien-nay*.aspx
Ngày phát hành: 29-10-2026
---------------------------
* Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài KHCN cấp bộ trọng điểm năm 2025 - 2026: “Nghiên cứu thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số”
(1), (2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 99, tr. 285, tr. 373
(4), (5), (6), (8), (9), (10), (12), (16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 140, tr. 63, tr. 135, tr. 171, tr. 152, tr. 80, tr. 70, tr. 125
(7) Lại Quốc Khánh: “E-Government and E-Democracy - Some Theoretical and Practical Issues” (tạm dịch: Chính phủ điện tử và dân chủ điện tử - Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn), in E-Government and Administrative Reform in Germany and Vietnam, Cuvillier Verlag Göttingen, Germany, 2018, pp. 43 - 49
(11) Quyết định số 204-QĐ/TW, ngày 29-11-2024, của Ban Bí thư, về “Phê duyệt Đề án Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng”, https://btc.lamdong.dcs.vn/van-ban/type/detail/id/58211/task/24
(13) Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, ngày 7-7-2026, của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương, về “Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ngay-7-7-2026-cua-co-quan-thuong-truc-ban-chi-dao-trung-uong-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-th.html
(14) Xem; Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam (2024): “Đánh giá 63 Cổng dịch vụ công cấp tỉnh từ góc độ người dùng năm 2024”, https://papi.org.vn/danh-gia-63-cong-dich-vu-cong-cap-tinh-tu-goc-do-nguoi-dung-nam-2024/
(15) Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo tóm tắt Kết quả Chuyển đổi số quốc gia năm 2024 và Kế hoạch trọng tâm năm 2025, Hà Nội, 2025, tr. 4 - 5
(17), (18) Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo chuyên đề: Tổng hợp hiện trạng dữ liệu số trong cơ quan nhà nước (Phiên họp 6 của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số), Hà Nội, 2023, tr. 8, tr. 9
(19) Bộ Khoa học và Công nghệ: Báo cáo số 44/BC-KHCN về chuyển đổi số quốc gia tháng 3-2025, Hà Nội, 2025, tr. 8