Thứ Năm, ngày 29 tháng 10 năm 2026

Ngoại giao văn hóa và việc lan tỏa hơn nữa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế trong kỷ nguyên mới

Ngày phát hành: 29/10/2026 Lượt xem 23

Sau bốn thập niên đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc lan tỏa hơn nữa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế trở thành đòi hỏi mang tầm chiến lược. Đảng và Nhà nước xác định ngoại giao là một trong những trụ cột quan trọng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trong đó ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế tạo nên thế chân kiềng trong hoạt động đối ngoại. Ngoại giao văn hóa vừa là phương tiện triển khai đường lối đối ngoại, vừa là cách thức lan tỏa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế. 

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống chào mừng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và Phu nhân Kim Hae Kyung tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: TTXVN

 

Khái niệm và vai trò ngoại giao văn hóa

 

Trong lý luận quan hệ quốc tế hiện đại, ngoại giao văn hóa thường được xem như một bộ phận của ngoại giao công chúng, nhấn mạnh việc sử dụng phương tiện, sản phẩm và hoạt động văn hóa để xây dựng lòng tin, tạo thiện cảm, thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Nếu ngoại giao truyền thống chú trọng kênh nhà nước với nhà nước thì ngoại giao văn hóa mở rộng không gian tiếp xúc giữa nhân dân với nhân dân, xã hội với xã hội, hướng tới công chúng rộng rãi ở nước ngoài.

 

Ngoại giao văn hóa thường được tiếp cận như việc sử dụng biểu đạt sáng tạo, trao đổi ý tưởng, thông tin, giao lưu để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, đồng thời quảng bá, lan tỏa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người của một quốc gia đến cộng đồng quốc tế. Văn hóa ở đây không chỉ là di sản, lễ hội, nghệ thuật, mà còn bao gồm lối sống, hệ giá trị, chuẩn mực ứng xử, ẩm thực, sáng tạo đương đại, sản phẩm công nghiệp văn hóa... Ngoại giao văn hóa không phải là hoạt động một chiều, mà là sự trao đổi, tương tác qua lại, thông qua quá trình này các quốc gia sẽ hiểu, tiếp nhận giá trị và thành tựu văn hóa nổi bật của nhân loại để làm giàu thêm kho tàng văn hóa của mình, đồng thời định hướng việc gìn giữ, phát huy và điều chỉnh giá trị văn hóa riêng cho phù hợp với dòng chảy phát triển chung của thế giới.

 

Ngoại giao văn hóa gắn bó chặt chẽ với khái niệm “sức mạnh mềm”, tức là khả năng thu hút, thuyết phục thay vì ép buộc, cưỡng chế. Nhờ văn hóa, giá trị và mô hình phát triển của một quốc gia được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, quốc gia đó có thêm điều kiện thuận lợi để triển khai đối ngoại chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng một cách hiệu quả hơn. Nói cách khác, ngoại giao văn hóa có vai trò quan trọng trong thúc đẩy ngoại giao trong lĩnh vực khác, như ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị, quốc phòng, an ninh... Ngoại giao văn hóa không chỉ tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, mà còn “làm dịu”, góp phần giải quyết căng thẳng về chính trị, tạo lập môi trường cho hợp tác, phát triển. 

 

Giá trị Việt Nam có thể tiếp cận từ nhiều góc độ. Dưới góc nhìn văn hóa - xã hội, đó là hệ thống giá trị được hình thành, chưng cất qua lịch sử dựng nước và giữ nước, qua quá trình lao động, sáng tạo và hội nhập quốc tế. Có thể khái quát một số nhóm giá trị nổi bật thường được nhắc đến như sau:
Giá trị lịch sử - cách mạng: ý chí độc lập, tự chủ; tinh thần kiên cường, bất khuất; lòng yêu nước nồng nàn, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết...

 

Giá trị văn hóa - tinh thần: lòng nhân ái, khoan dung; truyền thống đoàn kết, tương trợ; văn hóa làng, xã giàu tính cộng đồng; sự hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình...

 

Giá trị con người: cần cù, sáng tạo, linh hoạt, khéo léo; trọng nghĩa tình; coi trọng gia đình, hiếu học, tôn sư trọng đạo...

 

Hình ảnh đất nước, con người Việt Nam là cách Việt Nam được nhìn nhận, cảm nhận và đánh giá từ bạn bè quốc tế. Hình ảnh đó được cấu thành từ nhiều yếu tố: lịch sử, địa lý, thể chế chính trị, thành tựu kinh tế - xã hội, con người, văn hóa, di sản, lối sống, trình độ khoa học - công nghệ... Thương hiệu quốc gia là sự “gắn kết” có chủ đích các yếu tố này thành một câu chuyện, một thông điệp cốt lõi, một hình ảnh nhất quán, qua đó giúp thế giới dễ nhận diện và ghi nhớ Việt Nam.

 

Trong bối cảnh hiện nay, ngoại giao văn hóa giữ vai trò quan trọng trong việc kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ, hình thức và phương tiện hiện đại, giúp thế giới hiểu Việt Nam không chỉ là một đất nước từng trải qua chiến tranh, mà còn là một quốc gia đang đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế sâu rộng, giàu tiềm năng, thân thiện và tin cậy. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đã nhấn rõ: “Chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới”(1). 

 

Ngoại giao văn hóa là kênh triển khai trực tiếp sức mạnh mềm văn hóa của Việt Nam. Thông qua hoạt động ngoại giao văn hóa, giá trị Việt Nam được chuyển hóa thành hình ảnh, trải nghiệm và ấn tượng tích cực đối với công chúng quốc tế.
Ngoại giao văn hóa góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau, giảm thiểu định kiến và khoảng cách văn hóa; tạo môi trường thuận lợi cho ngoại giao chính trị, mở rộng quan hệ đối tác, đối thoại và hỗ trợ ngoại giao kinh tế, du lịch, thương mại, đầu tư, giáo dục... 

 

Ngoại giao văn hóa khẳng định tầm vóc, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đất nước tham gia ngày càng sâu vào cơ chế đa phương. Do đó, xây dựng và triển khai chiến lược ngoại giao văn hóa chính là một cấu phần quan trọng trong chiến lược tổng thể về tăng cường sức mạnh mềm, lan tỏa hơn nữa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

 

Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un thử chơi đàn bầu trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, tháng 3/2019. Ảnh: Trí Dũng-TTXVN

 

Chiến lược ngoại giao văn hóa và định vị hình ảnh Việt Nam

 

Tại Đại hội XI của Đảng, lần đầu tiên khái niệm ngoại giao văn hóa được đưa vào văn kiện. Văn kiện Đại hội XI khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà nước và ngoại giao nhân dân, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa, giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(2). Tiếp đó, trong các văn kiện của Đảng những nhiệm kỳ gần đây, ngoại giao văn hóa được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác đối ngoại gắn với phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia và khơi dậy khát vọng phát triển. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả của ngoại giao văn hóa, quốc phòng, an ninh;... chú trọng các hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam”(3). 

 

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế được triển khai đồng thời trên ba trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; trong đó, yếu tố văn hóa xuyên suốt, đan xen trong cả ba trụ cột.

 

Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa, con người Việt Nam với xây dựng thương hiệu quốc gia và quảng bá hình ảnh đất nước, coi đó không chỉ là nhiệm vụ của ngành ngoại giao hay văn hóa, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức xã hội và mỗi người dân.

 

Từ góc nhìn ngoại giao văn hóa, có thể định vị hình ảnh Việt Nam đang được xây dựng trên một số trụ cột sau:

 

Thứ nhất, Việt Nam - đất nước yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự chủ, trách nhiệm. Việc tham gia tích cực cơ chế khu vực và quốc tế, đóng góp vào hoạt động gìn giữ hòa bình, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững,... tạo nên hình ảnh một Việt Nam chủ động, tin cậy, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

 

Thứ hai, Việt Nam - nền văn hóa đậm đà bản sắc, giàu truyền thống. Hệ thống di sản vật thể và phi vật thể phong phú, nhiều giá trị được quốc tế ghi nhận, cùng với đời sống văn hóa cộng đồng đa dạng là nguồn tài nguyên lớn cho ngoại giao văn hóa.

 

Thứ ba, Việt Nam - điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, ẩm thực phong phú, con người cởi mở, mến khách, chi phí du lịch cạnh tranh đã góp phần tạo nên hình ảnh một điểm đến đáng trải nghiệm.

 

Thứ tư, Việt Nam - quốc gia năng động, đang vươn lên mạnh mẽ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế sáng tạo. Hình ảnh này ngày càng rõ nét hơn khi xuất hiện doanh nghiệp, sản phẩm, nghệ sĩ, vận động viên, nhà khoa học, nhà thiết kế người Việt Nam,... ghi dấu ấn ở tầm khu vực và thế giới.

 

Ngoại giao văn hóa có nhiệm vụ kết nối các trụ cột này thành một câu chuyện thống nhất, súc tích, giàu sức gợi cảm, giúp bạn bè quốc tế hình dung được bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong thế kỷ XXI.

 

Ngoại giao văn hóa không phải là hoạt động riêng rẽ, mà được lồng ghép trong hoạt động đối ngoại chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, du lịch, giáo dục, khoa học và công nghệ... Cơ quan quản lý nhà nước về đối ngoại và hội nhập quốc tế đóng vai trò “nhạc trưởng” trong kết nối, điều phối với sự tham gia đồng bộ của bộ, ngành liên quan (văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ...), chính quyền địa phương với sản phẩm, sự kiện văn hóa, du lịch, đặc sản địa phương và của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, giới nghệ sĩ, trí thức, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đặc biệt, sự tham gia của cơ quan báo chí, truyền thông, mạng xã hội trong và ngoài nước có vai trò rất quan trọng.

 

Sự kết nối này với một trung tâm điều phối của cơ quan ngoại giao, tạo ra cơ chế phối hợp hiệu quả, giúp tránh chồng chéo, phân tán nguồn lực, đồng thời tạo ra chiến dịch ngoại giao văn hóa mang tính tổng hợp, có chiều sâu và tầm ảnh hưởng rộng hơn.

 

Một số hoạt động tiêu biểu trong ngoại giao văn hóa Việt Nam

 

Thứ nhất, quảng bá di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

 

Một trong những hoạt động tiêu biểu, giàu hiệu quả của ngoại giao văn hóa Việt Nam là ngoại giao di sản thông qua việc quảng bá hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO ghi danh. Đến nay, Việt Nam có 9 di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới(4) (Quần thể di tích cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Thành nhà Hồ, Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Quần thể danh thắng Tràng An) và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận(5) (Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nghệ thuật ca trù, Nghệ thuật Hát Xoan, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ và trò chơi kéo co, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt,…). Mỗi hồ sơ di sản là kết quả của cả một quá trình vận động ngoại giao đa phương công phu, gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan trong nước, phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO và các nước thành viên Ủy ban Di sản. Hệ thống di sản phong phú này là kho nội dung quan trọng để tiếp tục triển khai ngoại giao văn hóa. Việc tổ chức các Tuần văn hóa Việt Nam, Ngày Việt Nam tại nước ngoài, lễ hội, triển lãm, chương trình nghệ thuật giới thiệu các di sản này đã góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến với công chúng quốc tế bằng trải nghiệm sống động, giàu cảm xúc. 

 

Thông qua hoạt động này, bạn bè quốc tế không chỉ nghe nói về Việt Nam, mà còn trực tiếp “chạm” vào Việt Nam qua âm nhạc, điệu múa, trang phục, ẩm thực, không gian trưng bày, câu chuyện về di sản và con người sau di sản. Đây là cách thức hiệu quả để di sản không chỉ được bảo tồn tốt hơn, mà còn trở thành “ngôn ngữ chung”, tạo dấu ấn lâu dài trong nhận thức và tình cảm của công chúng nước ngoài, khẳng định, lan tỏa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

 

Thứ hai, hoạt động ngoại giao văn hóa qua sự kiện quốc tế lớn

 

Một hoạt động tiêu biểu của ngoại giao văn hóa Việt Nam là tham gia và đăng cai sự kiện quốc tế lớn, qua đó “đưa Việt Nam ra thế giới” và “đưa thế giới đến với Việt Nam”. Tại các kỳ Triển lãm Thế giới (World Expo), như Expo Thượng Hải 2010, Milano 2015, Dubai 2020, Osaka 2025, Việt Nam đều xây dựng nhà hoặc gian triển lãm quốc gia với chủ đề riêng, trưng bày di sản, hình ảnh đất nước, sản phẩm sáng tạo và ẩm thực. Hoạt động này thường đón hàng chục triệu lượt khách mỗi kỳ. Đây là kênh trực tiếp để công chúng quốc tế “đến với” Việt Nam bằng giác quan, không chỉ qua thông tin chính trị - kinh tế trừu tượng. Ở chiều ngược lại, việc Việt Nam đăng cai Festival Huế, Liên hoan phim quốc tế Hà Nội, liên hoan nghệ thuật, nhiếp ảnh, mỹ thuật quốc tế..., cũng là điểm nhấn ngoại giao văn hóa. Mỗi kỳ Festival Huế gần đây thường thu hút khoảng từ 200 đến 300 nghìn lượt khách, trong đó có nhiều khách du lịch, đoàn nghệ thuật đến từ hàng chục quốc gia. Các sự kiện lớn gắn với đối ngoại như Năm APEC Việt Nam 2017, SEA Games 31..., đều được thiết kế chuỗi chương trình nghệ thuật, lễ hội đường phố, trình diễn ánh sáng, ẩm thực, qua đó truyền đi thông điệp về một Việt Nam hòa bình, thân thiện, đổi mới, giàu bản sắc - tạo “hiệu ứng mềm” trong việc nâng cao hình ảnh và vị thế đất nước. Có thể nói rằng, mỗi sự kiện là một cơ hội để Việt Nam giới thiệu hình ảnh đất nước, con người và văn hóa.

 

Việc kết hợp ngoại giao chính trị với hoạt động văn hóa - nghệ thuật trong khuôn khổ chuyến thăm cấp cao cũng tạo nên khoảnh khắc “ngoại giao mềm”, góp phần củng cố hình ảnh một Việt Nam thân thiện, chân thành, trọng nghĩa tình và coi trọng đối tác.

 

Thứ ba, hoạt động ngoại giao văn hóa thông qua chương trình, dự án nghệ thuật đương đại, điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực

 

Một hướng hoạt động ngày càng nổi bật của ngoại giao văn hóa Việt Nam là thông qua nghệ thuật đương đại, điện ảnh, âm nhạc và ẩm thực, tạo nên những “cửa ngõ mềm”, “chạm” trực tiếp vào công chúng quốc tế. Về nghệ thuật đương đại, nhiều họa sĩ, nghệ sĩ sắp đặt, nhiếp ảnh, trình diễn của Việt Nam tham gia biennale(6), festival nghệ thuật tại châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ với các triển lãm cá nhân, nhóm trưng bày ở bảo tàng, phòng trưng bày (gallery) uy tín, thu hút mỗi đợt hàng nghìn lượt khách tham quan, góp phần định vị Việt Nam như một không gian sáng tạo năng động chứ không chỉ là “xứ sở di sản”. Trong lĩnh vực điện ảnh, phim Việt ngày càng hiện diện thường xuyên tại liên hoan phim quốc tế, như Busan, Berlin, Locarno, Tokyo..., giành nhiều giải thưởng và được mua bản quyền phát hành, phát sóng tại nhiều thị trường. Các “Tuần phim Việt Nam” ở Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ... do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và đại sứ quán các nước phối hợp tổ chức, thường chiếu từ 5 đến 10 bộ phim với mỗi buổi chiếu thu hút hàng trăm khán giả, kèm giao lưu với đạo diễn, diễn viên. 

 

Thủ tướng Australia Anthony Albanese cùng uống bia và hô “1,2,3...dô” với những người dân Thủ đô đang có mặt tại một quán ăn đường phố ở Hà Nội nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam vào năm 2023. Ảnh: Lâm Khánh – TTXVN

 

Về âm nhạc và ẩm thực, các đoàn nghệ thuật Việt Nam (ca múa nhạc dân tộc, hòa nhạc, múa rối nước, nhạc trẻ...) lưu diễn ở nhiều nước, tham gia liên hoan âm nhạc quốc tế, biểu diễn trước hàng chục nghìn khán giả mỗi tour, được truyền thông nước sở tại đưa tin tích cực. Song song, lễ hội ẩm thực Việt Nam do cơ quan đại diện Việt Nam tổ chức ở châu Âu, khu vực Đông Á, khu vực Bắc Mỹ thường giới thiệu các món ăn, như phở, nem, bún chả, cà phê, bánh mì..., thu hút hàng nghìn lượt khách chỉ trong một vài ngày, nhiều món ăn Việt được báo chí nước ngoài bình chọn là “món phải thử”, nhiều nhà hàng Việt, lễ hội ẩm thực Việt Nam ở nước ngoài trở thành không gian gặp gỡ, giao lưu, “cầu nối mềm” giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Trải nghiệm trực tiếp này giúp hình ảnh Việt Nam hiện lên sinh động, hiện đại, gần gũi, góp phần gia tăng thiện cảm và củng cố “sức mạnh mềm” quốc gia.

 

Thứ tư, ngoại giao văn hóa qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

 

Một trụ cột rất quan trọng của ngoại giao văn hóa Việt Nam là vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Hiện nay, trên 6 triệu người Việt Nam sinh sống tại trên 130 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó trên 80% là các nước phát triển(7), với hàng nghìn hội đoàn, hội người Việt, hội sinh viên, hội doanh nhân. Đây là mạng lưới “đại sứ văn hóa nhân dân” rộng khắp, góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam một cách tự nhiên, bền bỉ và hiệu quả.

 

Hằng năm, cộng đồng người Việt ở Mỹ, Pháp, Đức, Séc, Nga, Ôx-trây-li-a, Hàn Quốc, Nhật Bản... tổ chức hàng trăm sự kiện Tết cộng đồng, Trung thu, Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày áo dài, thu hút từ vài trăm đến vài nghìn người/buổi, trong đó có rất nhiều bạn bè tại nước sở tại tham dự. Chương trình thường kết hợp múa hát dân tộc, trình diễn áo dài, giới thiệu ẩm thực, trò chơi dân gian, qua đó giúp công chúng nước ngoài tiếp xúc trực tiếp với văn hóa Việt Nam.

 

Song song, nhiều lớp dạy tiếng Việt cuối tuần cho thế hệ thứ hai, thứ ba được duy trì tại Mỹ, Pháp, Đức, Séc, Nga..., với hàng chục đến hàng trăm học sinh mỗi trung tâm, đi kèm các hoạt động tìm hiểu lịch sử, địa lý, văn hóa Việt Nam. Về kinh tế - văn hóa, hàng chục nghìn nhà hàng, quán ăn Việt trên thế giới với món phở, nem, bánh mì, cà phê... đã trở thành “điểm chạm” văn hóa hằng ngày với người bản xứ. Nhiều doanh nhân, trí thức, nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài còn chủ động tổ chức triển lãm, liên hoan phim, đêm nhạc, hội thảo về Việt Nam. Thông qua hoạt động đa dạng ấy, cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã và đang đóng góp thiết thực vào việc xây dựng hình ảnh một Việt Nam thân thiện, hiếu học, năng động và giàu bản sắc trên trường quốc tế.

 

Thứ năm, đẩy mạnh ngoại giao văn hóa qua ứng dụng truyền thông số và nền tảng trực tuyến

 

Một hoạt động ngày càng nổi bật trong ngoại giao văn hóa là ứng dụng truyền thông số và nền tảng trực tuyến để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Các cơ quan, như Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cụ thể là Cục Du lịch quốc gia Việt Nam (trước đây là Tổng cục Du lịch) cùng hệ thống Đại sứ quán, Tổng Lãnh sự quán đều vận hành hàng trăm trang web, fanpage, kênh YouTube, tài khoản Facebook, TikTok, Instagram đa ngữ, giới thiệu di sản, du lịch, ẩm thực, nghệ thuật, con người Việt Nam. Nhiều chiến dịch số về du lịch - văn hóa Việt Nam đạt hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu lượt tiếp cận và tương tác, giúp hình ảnh Việt Nam lan tỏa, vượt xa giới hạn hoạt động ngoại giao truyền thống.

 

Đặc biệt, trong giai đoạn COVID-19, các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài đã tổ chức “Tuần văn hóa Việt Nam trực tuyến”, triển lãm số, chiếu phim trực tuyến, hòa nhạc trực tuyến (online), giới thiệu ẩm thực và áo dài qua hình thức phát trực tiếp (livestream)... Mỗi sự kiện thu hút hàng nghìn lượt xem trực tiếp và còn lan tỏa mạnh mẽ dưới dạng nội dung lưu trữ. Một số bảo tàng, di tích như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, bảo tàng ở Huế, Thành phố Hồ Chí Minh,... triển khai tham quan 3D/360 độ, tour thực tế ảo, phục vụ hàng trăm nghìn lượt truy cập trong và ngoài nước. Nhờ đó, ngoại giao văn hóa Việt Nam từng bước ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển dịch sang môi trường số, thể hiện hiệu quả “sức mạnh mềm” quốc gia. Đây là xu hướng cần tiếp tục đẩy mạnh, chuyên nghiệp hóa trong thời gian tới.

 

Thực tế cho thấy, chúng ta đã triển khai ngoại giao văn hóa khá thành công. Thứ nhất, ngoại giao văn hóa đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức hấp dẫn của Việt Nam trên trường quốc tế. Hình ảnh Việt Nam đã được cộng đồng thế giới biết đến với giá trị tích cực, như đất nước hòa bình, ổn định, thân thiện, đang phát triển năng động, có bản sắc văn hóa độc đáo. Thứ hai, ngoại giao văn hóa đã hỗ trợ thiết thực cho ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và đối ngoại nhân dân. Thông qua hoạt động văn hóa, khoảng cách tâm lý được thu hẹp, môi trường đối thoại tin cậy được mở rộng, cơ hội hợp tác về thương mại, đầu tư, du lịch, giáo dục, khoa học - công nghệ được thúc đẩy. Thứ ba, ngoại giao văn hóa góp phần bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại một cách chọn lọc, qua đó làm giàu thêm vốn văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

Bên cạnh kết quả tích cực, ngoại giao văn hóa Việt Nam vẫn còn một số hạn chế. Chiến lược tổng thể và thông điệp thương hiệu quốc gia về mặt văn hóa đôi khi chưa được thể hiện thật sự sắc nét, cô đọng, dễ nhớ, dễ lan tỏa. Hình ảnh Việt Nam trong nhận thức quốc tế vẫn nghiêng nhiều về “một đất nước của chiến tranh và ký ức lịch sử”, chưa đủ mạnh ở khía cạnh là “một quốc gia sáng tạo, hiện đại, công nghiệp văn hóa phát triển”. Nguồn lực dành cho ngoại giao văn hóa còn hạn chế, phân tán; cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp đôi khi thiếu nhịp nhàng, nhất quán, dẫn đến hoạt động trùng lặp, thiếu chiều sâu. Năng lực nghiên cứu thị trường và công chúng quốc tế, khả năng ứng dụng truyền thông số, xây dựng sản phẩm nội dung sáng tạo phục vụ ngoại giao văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Thiếu sản phẩm văn hóa - nghệ thuật mang tính biểu tượng, có sức lan tỏa toàn cầu...

 

Một số giải pháp để lan tỏa hơn nữa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thông qua ngoại giao văn hóa

 

Thứ nhất, hoàn thiện chiến lược ngoại giao văn hóa gắn với chiến lược “sức mạnh mềm” và thương hiệu quốc gia. Cần xác định rõ tầm nhìn dài hạn về hình ảnh Việt Nam, xây dựng bộ thông điệp cốt lõi và hệ giá trị chủ đạo, từ đó định hướng cho hoạt động ngoại giao văn hóa ở Trung ương và địa phương, trong nước và ngoài nước.

 

Thứ hai, nâng cao năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động ngoại giao văn hóa. Đầu tư bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngoại giao, văn hóa, truyền thông theo hướng liên ngành; phát triển “nhà thiết kế chính sách” có khả năng tư duy chiến lược, am hiểu cả văn hóa dân tộc và xu hướng văn hóa, truyền thông quốc tế; khuyến khích sáng tạo sản phẩm văn hóa - nghệ thuật có thể trở thành biểu tượng nhận diện Việt Nam ở phạm vi khu vực và thế giới.

 

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong ngoại giao văn hóa. Xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu mở về văn hóa Việt Nam bằng nhiều ngôn ngữ; phát triển bảo tàng số, triển lãm ảo, tour du lịch ảo; đầu tư chiến dịch truyền thông số dài hơi, chuyên nghiệp, sử dụng hình thức kể chuyện mới, thu hút giới trẻ toàn cầu.

 

Thứ tư, phát huy vai trò cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và đối tác quốc tế. Có chính sách thúc đẩy, kết nối, tôn vinh cá nhân, tổ chức kiều bào có đóng góp tích cực cho ngoại giao văn hóa; thúc đẩy chương trình giao lưu nhân dân, trao đổi sinh viên, học giả, nghệ sĩ, nhà làm phim, nhà thiết kế..., qua đó tạo mạng lưới “đại sứ văn hóa” rộng khắp.

 

Thứ năm, gắn ngoại giao văn hóa với phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch. Lồng ghép ngoại giao văn hóa trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia, xây dựng sản phẩm, tuyến điểm, lễ hội mang tính đặc sắc, có “câu chuyện Việt Nam” rõ ràng; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp văn hóa, từ đó tạo ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và mang dấu ấn Việt Nam.

 

Thông qua việc sử dụng văn hóa như một “ngôn ngữ chung” của nhân loại, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để giới thiệu một hình ảnh quốc gia yêu chuộng hòa bình, giàu bản sắc, năng động, sáng tạo và tin cậy. Để nâng tầm giá trị Việt Nam trên trường quốc tế, cần tiếp tục hoàn thiện chiến lược ngoại giao văn hóa gắn với chiến lược sức mạnh mềm và thương hiệu quốc gia; đầu tư xứng đáng cho nguồn lực con người, nguồn lực tài chính và hạ tầng số; phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, của chủ thể đổi mới sáng tạo. Nếu được triển khai một cách chiến lược, đồng bộ, sáng tạo và hiện đại, ngoại giao văn hóa sẽ trở thành “cầu nối mềm” bền vững, góp phần xây dựng một Việt Nam có vị thế, tiếng nói trọng lượng hơn và sức hấp dẫn lớn hơn trong cộng đồng quốc tế./.

 

PGS.TS Vũ Văn Hà

nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Nguồn: Tạp chí Cộng sản, số 1.080 (tháng 2 năm 2026) tr. 49 - 56.

(1) Xem: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 1.078, tháng 1-2026, tr. 46.
(2) Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 139.
(3) Xem: “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Tlđd, tr. 53.
(4) Xem: “Những di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới tại Việt Nam”, Chính sách và cuộc sống, Chuyên trang thông tin của Thông tấn xã Việt Nam, ngày 15-7-2025, https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/ nhung-di-san-van-hoa-va-thien-nhien-the-gioi-tai-vietnam/64581.html
(5) Xem: “17 Di sản được UNESCO ghi danh: Nền văn hóa phong phú, đồ sộ của dân tộc”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngày 1212-2025, https://bvhttdl.gov.vn/17-di-san-duoc-unesco-ghi-danh-nen-van-hoa-phong-phu-do-so-cua-dan-toc-20251212150617854.htm
(6) Sự kiện văn hóa - nghệ thuật tổ chức hai năm 1 lần.
(7) Xem: Trung Hưng: “Phát huy vai trò cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài - nguồn lực chiến lược cho phát triển đất nước”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 11-9-2025, https://nhandan.vn/phat-huy-vai-tro-cong-dong-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-nguon-luc-chien-luoc-cho-phat-trien-dat-nuoc-post907424.html

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết