Thứ Năm, ngày 02 tháng 02 năm 2023

Việt Nam và những trọng tâm của chính sách công nghiệp hóa mới

Ngày phát hành: 10/05/2022 Lượt xem 603


Theo tạp chí East Asia Forum, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu và đã trở thành một nền kinh tế có độ mở lên tới 200% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 150 quốc gia, song phần lớn thương mại tập trung vào các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Mỹ, tạo thành một Tam giác thương mại mới ở khu vực Thái Bình Dương.

Năm 2020, Mỹ và Trung Quốc chiếm đến 45% xuất khẩu của Việt Nam. Trong khi đó, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc tăng lên 50%, với 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu đến từ Trung Quốc.

Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu mặt hàng trung gian như các sản phẩm sơ chế và nguyên liệu sản xuất từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Năm 2020, Trung Quốc cung cấp 32% hàng công nghiệp sơ chế, 27% linh kiện và 38% hàng hóa tư bản nhập khẩu vào Việt Nam. Tỷ trọng của Hàn Quốc đối với các mặt hàng trên lần lượt là 16%, 36% và 21%.

Mô hình thương mại này giống như một Tam giác thương mại mới ở Thái Bình Dương, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và Mỹ, với Việt Nam là tâm điểm.

Tam giác của những năm 1980 đặc trưng cho các nền kinh tế châu Á đang công nghiệp hóa như Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), những nước đã nhập khẩu hàng hóa trung gian và vốn từ Nhật Bản và xuất khẩu hàng tiêu dùng cuối cùng sang Mỹ.

Điều này dẫn đến thâm hụt thương mại lớn với Nhật Bản và thặng dư thương mại với Mỹ, tạo ra xung đột thương mại với Mỹ. Các nền kinh tế công nghiệp hóa mới ở châu Á đã giải quyết vấn đề này bằng cách thay thế hàng nhập khẩu từ Nhật Bản để nâng cấp cơ cấu công nghiệp của chính họ.

Trong khi đó, tam giác thương mại mới ở khu vực Thái Bình Dương mà Việt Nam đang tham gia có nhiều rủi ro hơn. Một mặt, Mỹ có thể áp đặt biện pháp bảo hộ đối với các đối tác thương mại mà nước này có thâm hụt lớn. Mặt khác, việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu từ một quốc gia có thể gây ra bất ổn khi những thay đổi trong chính sách nội địa của quốc gia đó ảnh hưởng đến hoạt động thương mại với các nước láng giềng.

Trong thời gian qua, các biện pháp kiểm soát biên giới chặt chẽ của Trung Quốc theo chính sách "Không COVID-19" (Zero COVID) đã hạn chế nghiêm trọng hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam và việc giảm đột ngột nguồn cung đầu vào từ Trung Quốc sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất công nghiệp của Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể nâng cấp cơ cấu công nghiệp bằng cách thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Ngoài việc từng bước đa dạng hóa xuất khẩu khỏi Mỹ, chiến lược công nghiệp hóa này sẽ giúp ổn định cấu trúc thương mại của Việt Nam.

Một chính sách công nghiệp hóa mới nên tập trung vào hai khía cạnh. Thứ nhất, cần phải có chiến lược đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới. Chính phủ nên giới thiệu các dự án FDI mới theo từng trường hợp, cải thiện cơ sở hạ tầng và đưa ra các biện pháp khuyến khích để thúc đẩy thay thế nhập khẩu đối với các bộ phận cấu thành công nghệ cao và các sản phẩm công nghiệp trung gian khác.

Tháng 8/2019, Việt Nam đã ban hành nghị quyết kêu gọi một chính sách FDI mới. Nghị quyết nhấn mạnh việc thực hiện các dự án chất lượng cao (sản xuất các sản phẩm đòi hỏi kỹ năng cao, sử dụng công nghệ cao) ngay cả khi vẫn chưa thực hiện được một chính sách FDI rộng lớn hơn.

Mặc dù Việt Nam thiếu một khuôn khổ FDI mới, một phần là do đại dịch COVID-19, nhưng chính sách chủ động hơn và các sáng kiến cụ thể là cần thiết để đạt được các mục tiêu kinh tế và thương mại của Việt Nam.

Thứ hai, nguồn cung lao động có kỹ năng cần được mở rộng để nâng cấp cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Việc nâng cấp các trường cao đẳng kỹ thuật chuyên ngành và mở rộng các khoa khoa học và công nghệ trong các trường đại học lớn phải là trọng tâm của việc nâng cấp này.

Một giải pháp tức thì hơn là kết nối các thực tập sinh kỹ thuật của Việt Nam ở các nước tiên tiến, cụ thể là Nhật Bản, với các doanh nghiệp nước ngoài và địa phương đầu tư vào các sản phẩm công nghiệp chất lượng cao hơn tại Việt Nam.

Số lượng lao động có tay nghề Việt Nam đi thực tập tại Nhật Bản lên tới 220.000 người vào cuối năm 2019. Ngoài ra, tại Nhật Bản, số lượng lao động có tay nghề cao của Việt Nam đã vượt qua các kỳ thi trong các lĩnh vực kỹ thuật cụ thể và có trình độ tiếng Nhật trung cấp ngày càng tăng. Vào cuối năm 2020, số lượng công nhân lành nghề cụ thể này là 15.663 người.

Đầu tư vào thế hệ lao động trẻ có kỹ năng cao cuối cùng sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực công nghiệp. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong nhiều bản cập nhật đối với các chính sách công nghiệp và thương mại cần thiết để giúp Việt Nam điều chỉnh những bất ổn của Tam giác thương mại mới ở Thái Bình Dương./.

 

 

Theo TTXVN

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết