Thứ Sáu, ngày 27 tháng 11 năm 2020

Kiến nghị của đề tài "Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc: Những vấn đề đặt ra và định hướng chính sách"

Ngày phát hành: 27/10/2020 Lượt xem 126

 

1. Những vấn đề về quan điểm, nhận thức

Trong bối cảnh đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, CNH, HĐH  cần tiếp tục đổi mới, quán triệt nhận thức tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc:

Mt là, xây dựng quan hệ dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng phát triển là phát huy vai trò của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, tạo nên một động lực cho sự phát triển của đất nước. Sự cố kết và thống nhất dân tộc là quy luật, là một hằng số văn hóa của sự phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thống nhất dân tộc là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát triển bền vững; vì vậy, xây dựng khối đoàn kết các dân tộc luôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đảm bảo sự ổn định và phát triển đất nước.

 

Hai là, bo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là bình đẳng về kinh tế và cơ hội phát triển và quyền tham chính của các DTTS là hai vấn đề cơ bản để xây dựng quan hệ dân tộc, thực hiện đoàn kết các dân tộc một cách lâu dài, bền vững. Bình đẳng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng con người để mọi người đều được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bình đẳng và đoàn kết dân tộc gắn liền với tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc. 

Giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc; phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mọi chủ trương chính sách phát triển dân tộc thiểu số đều hướng tới là phát triển một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế mang tính toàn diện, bền vững, hài hòa giữa phát triển nông nghiệp (cả chăn nuôi, lâm nghiệp), công nghiệp, dịch vụ, du lịch;  gắn phát triển kinh tế thị trường với giữ gìn môi  trường sinh thái và bảo tồn văn hóa; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực lao động gắn với tạo việc làm, phát huy năng lực lao động; tạo cơ chế, chính sách gắn với trách nhiệm của các địa phương, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội đối với sự phát triển mang tính bền vững của vùng dân tộc và miền núi.

Xây dựng quan hệ dân tộc đoàn kết trên cơ sở bình đẳng là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách trước mắt. Vì vậy, cần phải có thời gian, lộ trình qua nhiều giai đoạn với những bước đi thích hợp để từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch trên từng vấn đề cụ thể giữa các dân tộc.

 

Ba là, xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, đoàn kết và tương trợ nhau cùng phát triển là giải pháp để giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

 

Bốn là, y dựng quan hệ dân tộc ở Việt Nam phải đặt trong bối cảnh quốc tế, đặc biệt là xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc của các nước; quá trình  phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Chính sách phát triển cộng đồng các dân tộc Việt Nam tính đến xu hướng

phát triển của thế giới, của đất nước, đồng thời phù hợp với đặc điểm lịch sử văn hóa của từng dân tộc, tiếp thu thu những thành tựu của văn minh nhân loại để vươn lên thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc nhằm củng cố và tăng cường quan hệ dân tộc đoàn kết trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng phát triển.

 

Năm là, quá trình giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc hài hòa, bình đẳng, đòi hỏi đấu tranh chống lại chống lại tư tưởng dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc; tôn trọng quyền dân chủ trong khuôn khổ pháp luật quốc gia quy định. Kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn chia rẽ dân tộc của các thế lực phản động từ bên ngoài.

 

Sáu là, thực hiện chính sách dân tộc và giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc không chỉ là vấn đề mang tính chính trị - xã hội sâu sắc mà còn mang tính liên ngành, tính toàn diện, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó, cơ quan công tác dân tộc các cấp là cơ quan tham mưu và tổ chức phối hợp với các ban ngành, các cấp, các tổ chức trong hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc; còn cơ quan công tác dân vận là tham mưu và tổ chức làm công tác dân vận.

 

2. Những vấn đề về chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc thiểu số phải kết hợp đồng bộ cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh, thật sự gắn bó với nhân dân. Các chính sách cần phải tôn trọng những yếu tố lịch sử truyền thống của các tộc người thiểu số. Chăm lo phát triển văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ các tộc người tại chỗ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú. Phát triển nhà văn hóa cộng đồng, bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số.

 

2.1. Về kinh tế

Đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng vùng, từng dân tộc/tộc người, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác thế mạnh của địa phương làm giàu cho mình và đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là sự thể hiện trong thực tiễn nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đõ nhau cùng phát triển. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là tạo điều kiện cho các dân tộc cùng phát triển.

Để tạo môi trường cho kinh tế hàng hóa phát triển, đòi hỏi tập trung giải quyết hai vấn đề, đó là:

- Thứ nhất, giải quyết vấn đề đất đai (đất sản xuất, đất ở và đất rừng) cho đồng bào các tộc người thiểu số trên cơ sở nhận thức đầy đủ vấn đề sở hữu truyền thống ở vùng DTTS. Bảo đảm các quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với đất đai; khôi phục lại quyền làm chủ đối với núi rừng của đồng bào các DTTS trên cơ sở phân định ranh giới đất đai rõ ràng và cấp giấy tờ đất cho dân cư góp phần giảm bớt các xung đột có liên quan đến đất đai; trao quyền quản lý đất cho các cộng đồng địa phương là tạo cơ sở xã hội sâu xa cho việc xây dựng khối đoàn kết các DTTS thực sự vững mạnh, lâu dài.

Điều tiết việc sử dụng đất và quy hoạch; cải tiến chính sách thuế đối với đất đai; gắn chính sách đất đai vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; hoàn thiện việc giao đất, giao rừng, nâng cao ý thức trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai và tài nguyên rừng không chỉ góp phần giảm bớt các xung đột, tránh được nguy cơ tiềm ẩn ngòi nổ về các cuộc gây rối, biểu tình, bạo loạn, mà còn tạo ra cơ hội xoá đói giảm nghèo bền vững trong đồng bào DTTS

Thứ hai, đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả cộng đồng như: hệ thống thuỷ lợi; phát triển giao thông, năng lượng;  xây dựng mạng lưới chợ, cửa hàng, đại lý, trường học, bệnh xá ở nông thôn, khu dân cư mới nhằm thúc đẩy sản xuất và kinh tế hàng hóa phát triển, tạo môi trường sống thuận lợi ở vùng dân tộc và miền núi.

Đây chính là sự thể hiện quan điểm trang bị cho người dân “cần câu cá”, chứ không phải là cho “họ con cá”

 

2.2. Về bảo vệ tài nguyên và môi trường nhằm phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi.

- Giải pháp bảo vệ tài nguyên rừng. Rà soát, đánh giá, kiểm soát chặt chẽ

các quy hoạch, dự án phát triển kinh tế, xã hội có tác động tiêu cực đến diện tích, chất lượng rừng, đặc biệt là đối với rừng tự nhiên, rừng phòng hộ; quản lý, giám sát chặt chẽ các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, nhất là đối với các dự án phát triển thủy điện, khai thác khoáng sản, xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ du lịch...

Đánh giá kết quả thực hiện và hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đối với các dự án cải tạo rừng tự nhiên; dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su, sản xuất nông nghiệp. Kiên quyết đình chỉ, thu hồi đất đối với dự án có nguy cơ gây thiệt hại lớn về rừng, môi trường sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống người dân.

Tổ chức xây dựng nghề rừng, quản lý nghề rừng và thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng nhằm phủ xanh đất trống, đồi trọc, nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, tạo lá phổi xanh cho vùng nông thôn, miền núi. Thúc đẩy phát triển nông - lâm nghiệp sinh thái, khuyến khích trồng rừng dược liệu ở những vùng có lợi thế so sánh; thực hiện triệt để giao rừng, đất rừng cho cộng đồng làng, bản quản lý, khai thác.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng. Gắn mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng với hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, bảo đảm đời sống, việc làm, an sinh xã hội cho người dân địa phương, đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, nhất là cho người  dân làm nghề rừng. Đẩy mạnh xã hội hóa, có cơ chế khuyến khích, tạo thuận lợi cho người dân và các thành phần kinh tế cùng tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

- Sử dụng tiết kiệm tài nguyên, khoáng sản. Khai thác, quản lý và bảo vệ tốt các nguồn tài nguyên, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt động bảo vệ tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản, nhất là các mỏ nhỏ, phân tán. Sử dụng các chế tài pháp luật, các chính sách, công cụ kinh tế và biện pháp hành chính nhằm thực hiện tốt các qui định pháp luật về tài nguyên, khoáng sản. Tăng đầu tư cho khâu phục hồi, tái tạo và cải thiện môi trường sinh thái ở địa bàn khai thác mỏ.

Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.

Tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường; tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, tài nguyên nước, thực hiện tốt chính sách đất đai, bảo đảm việc sử dụng đất phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế- xã hội và nhiệm vụ quốc phòng an ninh, đồng thời bảo đảm không gian sinh tồn của đồng bào DTTS tại chỗ. Hoàn thiện hệ thống các chế tài phù hợp về quản lý môi trường trên địa bàn theo hướng quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm bảo vệ môi trường, quản lý đô thị của các tổ chức, cá nhân.

Thực hiện tốt việc đánh giá tác động môi trường và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong lập, triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án. Cụ thể hóa và đưa chính sách bảo vệ môi trường vào chương trình hành động, phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư, tăng cường sự tham gia của cả cộng đồng vào quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Chú trọng việc mở rộng sự hợp tác với các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trong việc giải quyết vấn đề môi trường và nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, hoạt động phòng chống, giảm nhẹ thiên tai.

 

 

2.3. Về xã hội

Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội (chính sách an sinh xã hội như xóa đói giảm nghèo, việc làm, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe) phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế từng thời kỳ, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, các dân tộc có số dân ít.

- Về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc và miền núi.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho người dân về xóa đói, giảm nghèo. Tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức của người dân và tạo động lực cả về vật chất và tinh thần để họ phấn đấu vươn lên thoát nghèo.

Thứ hai, chú trọng việc tiếp cận địa bàn để nắm bắt chính xác tình hình đói nghèo. Tập trung xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng nhóm hộ nghèo để tư vấn, giúp đỡ về mọi mặt, đến từng hộ để khảo sát, tìm hiểu kỹ về gia cảnh, động viên, thuyết phục họ nỗ lực phấn đấu vươn lên. Tăng cường kiểm tra, giám sát, nắm bắt thông tin đối với các hộ mới thoát nghèo  để giảm thiểu tái nghèo.

Thứ ba, có giải pháp cụ thể với từng loại hộ nghèo.

Thứ tư, cần xây dựng các chính sách đặc thù cho từng địa phương. Rà soát lại các chính sách hỗ trợ người nghèo vùng DTTS, xây dựng các chính sách đặc thù phù hợp với từng địa phương trên cơ sở chính sách của chính phủ. Chuyển dần từ việc hỗ trợ trực tiếp thành việc hỗ trợ sinh kế là chủ yếu, gắn trách nhiệm của người được hưởng lợi vào hiệu quả của các chương trình hỗ trợ và cần có chế tài đối với những hộ gia đình thực hiện tốt và không tốt chính sách.

Cần quan tâm hơn đến vấn đề phối hợp ngay từ khâu thiết kế chính sách để tạo cơ sở phối kết hợp, lồng ghép trong tổ chức thực hiện, nhưng không làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như khả năng gọi vốn đầu tư nước ngoài của mỗi chương trình.

Thứ năm, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, nhiệt tình, am hiểu về đồng bào DTTS để thuyết phục, hướng dẫn đồng bào thoát nghèo. Đây là giải pháp quan trọng để thực hiện có hiệu qủa công tác xóa đói, giảm nghèo.

Thứ sáu, hỗ trợ sinh kế, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo. Thực hiện các biện pháp phát triển rừng, nghề rừng, nông – lâm kết hợp và các hoạt động kinh tế khác để thực hiện đanh canh, định cư, ngăn chặn nạn đốt phá rừng. trong những rủi ro đột xuất do thiên tai, dịch bệnh…, hỗ trợ một phần giúp người nghèo tham gia các hoạt động kinh tế, cùng với những hỗ trợ về vật chất cho người nghèo trên cơ sở hướng dẫn họ sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế tùy theo điều kiện gia đình. Xây dựng các mô hình xóa đói, giảm nghèo để áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật và lựa chọn được giống cây, con và mô hình sản xuất thích hợp, hướng dẫn người nghèo sản xuất được hàng hóa tập trung và tiếp cận thị trường để có những sản phẩm có giá trị cao trên thị trường.

- Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với vùng dân tộc và miền núi. Giúp người dân hiểu, nắm rõ bản chất, vai trò, ý nghĩa và tính ưu việt cũng như các quy định cơ bản của pháp luật về chính sách bảo hiểm xã hội. Mở rộng đối tượng tham gia, về cơ chế, chính sách cần nâng mức hỗ trợ mức đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, mở rộng đối tượng không thuộc hộ nghèo, cận nghèo; linh hoạt hơn về mức hỗ trợ, cần quy định mức hỗ trợ tối thiểu để địa phương có

điều kiện kinh tế phát triển thì có cơ chế hỗ trợ một phần mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.

- Quan tâm phát triển đối với các DTTS có số dân ít

Phải có chính sách đặc thù mang tính đột phá tạo điều kiện và cơ hội phát triển cho các dân tộc rất ít người. Đầu tư về cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu, đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất, đầu tư phát triển giáo dục, hỗ trợ các hoạt động phát triển y tế, văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với từng dân tộc.

Thực hiện giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số nhằm mục tiêu là phấn đấu ngăn chặn, đẩy lùi cơ bản tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số.

- Về thực hiện chính sách y tế ở vùng dân tộc, miền núi góp phần nâng cao chất lượng dân số các dân tộc thiểu số.

+ Rà soát các chính sách y tế chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe của người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; Tăng cường khả năng tiếp cận cũng như cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng phục vụ đồng bào; Giảm gánh nặng chi phí chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.

+ Xây dựng một số chính sách đặc thù trong chăm sóc sức khỏe, dân số và kế hoạch hóa gia đình vùng miền núi, dân tộc như:

+ Xây dựng hệ thống chính sách phát triển y tế vùng dân tộc miền núi.

+ Mở rộng chính sách bảo hiểm y tế góp phần hỗ trợ khám chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với đồng bào DTTS thông qua việc cấp thẻ bảo hiểm y tế đúng đối tượng, khắc phục bất cập trong quản lý bảo hiểm y tế. 

Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bằng cách đầu tư các trang thiết bị, đội ngũ y, bác sĩ được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; thực hiện được nhiều dịch vụ kỹ thuật, tạo niềm tin cho người dân; đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tốt quyền lợi khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế của đồng bào dân tộc thiểu số.

Tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo sinh sống ở khu vực có điều kinh tế - xã hội khó khăn (vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn) trong khám chữa bệnh, đặc biệt là tiếp cận với kỹ thuật khám chữa bệnh hiện đại.

+ Xây dựng mô hình y tế chăm sóc sức khỏe phù hợp với điều kiện vùng dân tộc và miền núi

Trước hết, ưu tiên chính sách và nguồn lực cho y tế vùng khó khăn. Có chính sách ưu tiên đầu thư các nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện, kể cả một số bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, chẳng hạn như các bệnh viện đa khoa tỉnh. 

Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống y tế phục vụ chăm sóc sức khỏe người dân các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

hỗ trợ phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản tại các vùng khó khăn.

Tạo sự chuyển biến trong công tác y tế chăm sóc sức khỏe người dân tại các vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tăng tỷ lệ bác sĩ/vạn dân cao hơn mức trung bình cả nước; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, chuyển giao công nghệ cho bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh để họ làm chủ các kỹ thuật hiện đại. Hỗ trợ cho các bệnh viện tuyến tỉnh vươn lên tự xử lý các tình huống phức tạp.

Tăng cường năng lực và cơ sở vật chất cho các bệnh viện tuyến dưới, đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện, cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; đưa bác sỹ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn.

Thứ hai, tạo điều kiện để người dân vùng núi được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao. Đào tạo đội ngũ y, bác sỹ của các địa phương làm chủ được kỹ thuật, điều trị bệnh nhân trên địa bàn huyện; tạo điều kiện để người bệnh trên địa bàn miền núi có cơ hội được điều trị bằng các kỹ thuật cao, giảm chi phí và thời gian đi lại, đồng thời góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên.

Thứ ba, xây dựng mô hình y tế thôn, bản giúp thay đổi nhận thức của người dân các dân tộc thiểu số về chăm sóc sức khỏe. Xây dựng mạng lưới y tế thôn bản trở thành “chân rết” cho các cán bộ y tế xã, tư vấn cho phụ nữ mang thai, quá trình chăm sóc trong và sau đẻ tại nhà, được trang bị kiến thức về sức khỏe sinh sản cho người dân.

Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ y tế xã, thôn, bản là người tại chỗ đảm bảo đủ trình độ, năng lực chuyên môn để chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, tăng cường dinh

dưỡng cho bà mẹ mang thai và trẻ em dưới 5 tuổi.

 

 

2.4 Về phát triển văn hóa, giáo dục

Chính sách phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào các tộc người thiểu số, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Mt là, kết hợp đồng bộ giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển văn hoá, vừa cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào các các tộc người thiểu số. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở từng vùng dân tộc thiểu số cần tính toán đầy đủ yếu tố lịch sử, văn hóa của vùng này, phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần.

Hai là, có những giải pháp tích cực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá của các tộc người thiểu số.

Ba là, phải xây dựng và phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hoá cơ sở trên cơ sở lồng ghép các hoạt động về chính trị, xã hội... Phải phát huy tối đa chức năng cộng đồng trong các thiết chế văn hoá, tín ngưỡng vốn nhạy cảm như nhà văn hóa cộng đồng, nhà sàn, nhà rông, nhà dài.

Bn là, có chính sách và phương thức phù hợp để phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, từng bước nâng cao dân trí, xây dựng đội ngũ trí thức đại diện cho quyền lợi của các tộc người thiểu số. Phát triển giáo dục và đào tạo, một mặt góp phần định hướng phát triển các giá trị cho mỗi cá nhân và tất cả cộng đồng trong quá trình phát triển của tộc người vì sự hiểu biết luôn luôn mang lại cho con người sự tự tin và khả năng sáng tạo cũng như lưu giữ. Mặt khác, giáo dục và đào tạo luôn luôn là chìa khóa để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hoá mới.

Mở rộng và củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường vừa học vừa làm, các trung tâm dạy nghề, các lớp dự bị cho các em dân tộc có số dân ít và nguy cơ suy giảm. Có chính sách ưu tiên với con em đồng bào dân tộc, với đội ngũ giáo viên, cán bộ giáo dục tại các địa bàn dân tộc và miền núi. 

 

2.5. Về xây dựng hệ thống chính trị và đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc

Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh trên cơ sở đổi mới nội dung và phương thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện, tình hình mới, đòi hỏi thực hiện tốt các nội dung sau đây:

- Xây dựng mô hình, thiết chế của HTCT phù hợp với điều kiện miền núi có nhiều các tộc người thiểu số sinh sống, trên cơ sở tính toán đầy đủ các yếu tố địa - chính trị và các điều kiện đặc thù trong quản lý xã hội của các dân tộc tộc thiểu số là sự tồn tại các thiết chế chính trị, xã hội truyền thống. Coi trọng vai trò của bản, buôn, ấp trong hệ thống chính quyền cơ sở. Tập trung xây dựng bản (buôn, ấp) vững mạnh vì đây là cấp cuối cùng, là cấp trực tiếp với dân. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền; đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện các phong trào của Mặt trận và các đoàn thể; phát huy vai trò của chi bộ, trưởng buôn, làng, tranh thủ những người có uy tín và xây dựng đội ngũ cốt cán nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo sự chuyển biến từ cơ sở, chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch từ bản (buôn, ấp).

-  Từng bước đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT vùng dân tộc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận cấu thành của HTCT (tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân),

Đối với tổ chức đảng: Tăng cường hiệu lực lãnh đạo và hiệu quả tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên ở cơ sở.

Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, khả năng tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án cụ thể ở địa phương. Các cấp, các ngành phải cử cán bộ về cơ sở, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, nhất là thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Đối với đồng bào các tộc người thiểu số thì tổ chức thực hiện, hướng dẫn cách làm cụ thể là quan trọng nhất để thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

- Đào tạo, bồi dưỡng, không ngừng nâng cao trình độ, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp; xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị.

Xây dựng chiến lược về đào tạo, tạo ra đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học và quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài trên tất cả các lĩnh vực. Xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở và cán bộ cốt cán buôn làng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực và trình độ, tâm huyết với công việc, sát dân, miệng nói tay làm, vững vàng trước khó khăn, thử thách.

- Xây dựng quy chế dân chủ phù hợp với đặc điểm quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của các thiết chế xã hội truyền thống trong quản lý xã hội hiện nay ở cơ sở.

Việc xây dựng quy chế dân chủ cơ sở cần tính đến và phát huy những mặt tích cực của luật tục trong quản lý xã hội, hạn chế những mặt tiêu cực trái với luật pháp. Việc quản lý bằng luật tục của buôn, làng nhằm phát huy nội lực, tinh thần làm chủ ngay ở cơ sở, đó là biện pháp cần thiết hỗ trợ cho việc quản lý bằng pháp luật của Nhà nước. 

Phát huy vai trò của cộng đông bản, buôn, làng trong xây dựng luật tục mới sẽ góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, hình thành nếp sống văn minh, tiến bộ trong cộng đồng dân cư, tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

- Tăng cường các mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể với nhân dân các dân tộc trên cơ sở thực hiện tốt quy chế dân chủ trực tiếp ở cơ sở, thực hiện tốt hơn nữa công khai hóa, dân chủ hóa, tạo không khí cởi mở trong cộng đồng; phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân các dân tộc; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước để củng cố và nâng cao niềm tin với Đảng và chính quyền các cấp trong nhân dân các dân tộc.

 

2.6. Đối với công tác tôn giáo trong các dân tộc thiểu số

Tập trung nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tộc người, thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc. Tập trung giải quyết những tồn đọng trong vấn đề tôn giáo (các kiến nghị, khiếu nại về đất đai, cơ sở thờ tự...) càng sớm càng tốt trên cơ sở đảm bảo đúng chính sách, pháp luật. Quan tâm xây dựng lực lượng cốt cán trong vùng đồng bào các tộc người, đồng bào có đạo, phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáoThực hiện được phương châm: “Dùng quần chúng giáo dục, thuyết phục quần chúng”, “Dùng đạo để giải quyết việc đạo”. Thông qua lực lượng cốt cán trong linh mục, mục sư, và tín đồ để từng bước định hướng, chuyển hoá, đưa các tôn giáo gắn bó mật thiết với dân tộc, với sự nghiệp mà toàn dân tộc đang phấn đấu, thực hiện đúng phương châm “tốt đời, đẹp đạo”.

Coi trọng vận động các đối tượng cá biệt, các chức sắc tôn giáo để họ đồng tình với chủ trương, chính sách của ta và có trách nhiệm vận động quần chúng làm theo điều tốt, có lợi cho gia đình và xã hội; đấu tranh vạch mặt những phần tử xấu lợi dụng vấn đề tộc người, tôn giáo; góp phần giữ gìn an ninh trật tự tại  buôn, làng Làm tốt công tác tranh thủ chức sắc là chủ động làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Công tác tôn giáo phải kiên trì, khôn khéo, len lỏi vận động, giáo dục, kéo nắm các chức sắc theo phương  châm: “gần, hiểu, cảm hóa”. Trong chức sắc phải phân hóa từng đối tượng để có đối sách phù hợp: đối với những chức sắc tiến bộ, thích nghi, chấp hành tốt pháp luật thì phải nắm, khuyến khích phát huy vai trò của họ; đối với loại lưng chừng thì phải tìm cách lôi kéo, giáo dục, thuyết phục để họ đi với dân tộc và với Hội thánh, Giáo hội, không để cho các thế lực phản động nắm và chi phối họ; đối với loại cực đoan, bảo thủ thì phải có biện pháp đấu tranh cô lập, hạn chế ảnh hưởng của số này đối với quần chúng tín đồ.

Đối với vấn đề Tin lành, phải có sự nhận thức đúng đắn và phân biệt rạch ròi giữa Tin lành thuần tuý và Tin lành Đề ga, Tin lành Vàng Chứ, Thìn Hùng; giữa hoạt động truyền đạo bình thường với hoạt động truyền đạo trái phép; giữa những tín đồ Tin lành chính đáng và những kẻ núp bóng Tin lành để hoạt động chính trị. Phải xem xét, phân biệt rõ từng loại đối tượng và những mục đích hoạt động, trên cơ sở đó có thái độ, phương pháp xử lý đúng mực, có hình thức đấu tranh phù hợp cho từng loại.

 

2.7. Đối với công tác an ninh, quốc phòng, đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hòa bình”, chia rẽ dân tộc

- Củng cố và tăng cường an ninh, quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh biên giới.

+ Đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân thực sự vững chắc, xây dựng lực lượng quân đội vững mạnh, không ngừng nâng cao tiềm lực quốc phòng và khả năng sẵn sàng chiến đấu.

+ Tiếp tục xây dựng các tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc,

+ Tập trung xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam; đẩy mạnh xây dựng “thế trận lòng dân” trọng tâm là xây dựng cơ sở xã, phường vững mạnh về an ninh, quốc phòng, nhất là các vùng trọng

điểm trên địa bàn; xây dựng phương án bảo vệ vững chắc biên giới; tổ chức diễn tập phương án phòng thủ, chống bạo loạn gây rối từ cơ sở đến tỉnh.

+ Tăng cường củng cố an ninh, quốc phòng các xã biên giới và chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

+ Xây dựng các công trình phòng thủ, kho tàng, chốt chiến dịch, đường cơ động, công sự chiến đấu (tập trung cho biên giới), bảo quản và bảo dưỡng các công trình đã xây dựng. Tổ chức huấn luyện, diễn tập sát với tình hình thực tế, đáp ứng kịp thời cho yêu cầu nhiệm vụ.

+ Tăng cường công tác quản lý biên giới, đối ngoại, nhanh chóng có biện pháp giải quyết tình hình người các tộc người thiểu số vượt biên trái phép, làm thất bại âm mưu kích động, tiếp tay lôi kéo vượt biên ồ ạt. 

+ Đẩy mạnh xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng do quân đội đảm nhiệm trên địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc để kết hợp tốt việc phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng các khu quốc phòng - an ninh trên các địa bàn, thực hiện các dự án định canh, định cư, giúp dân phát triển kinh tế trên các địa bàn xung yếu, dọc biên giới để thu hút dân tham gia sản xuất phù hợp với phương hướng phát triển sản xuất và an ninh, quốc phòng góp phần bảo vệ vững chắc biên giới.

- Đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Đấu tranh ngăn chặn hoạt động xâm nhập của bọn phản động, làm thất bại âm mưu thành lập “Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên; “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc; nhà nước Khmer Crôm ở Tây Nam Bộ.

 

3. Đổi mới nội dung và phương thức xây dựng khối đoàn kết các dân tộc

- Đổi mới và nâng cao nhận thức, tư tưởng về xây dựng khối đoàn kết các dân tộc

+ Thực hiện đoàn kết các dân tộc dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, đòi hỏi công tác tư tưởng phải thường xuyên làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân nâng cao nhận thức và quán triệt các quan điểm sau:

* Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều là anh em, có truyền thống đoàn kết để xây dựng đất nước

* Quán triệt chủ trương, chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nướclà nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên và trọng tâm của HTCT từ Trung ương đến cơ sở.

* Công tác truyên truyền, giáo dục vận động đồng bào tham gia xây dựng đoàn kết các dân tộc phải theo phương châm nói đi đôi với làm; nói phải đúng điều đồng bào cần nghe, không nói suông, hứa suông.

+ Làm cho cán bộ và nhân dân nhận thức đúng vị trí chiến lược quan trọng của vùng dân tộc và miền núi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quán triệt sâu sắc đường lối chỉ đạo của Đảng là quyết tâm xây dựng vùng dân tộc và miền núi thành một khu vực giàu về kinh tế, vững về chính trị, mạnh về quốc phòng.

Tuyên truyền các quan điểm của Đảng ta về xây dựng quan hệ dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Chống tư tưởng phân biệt dân tộc đông- ít dân, tự ti, hẹp hòi dân tộc.

Chú trọng công tác giáo dục, tuyên truyền trong các ngành, các cấp của HTCT về chính sách dân tộc, chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước

Tập trung tuyên truyền các chính sách đảm bảo lợi ích cho đồng bào các tộc người, nhất là vấn đề nhà ở, đất đai, hướng dẫn đồng bào sản xuất, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt; tuyên truyền, vận động quần chúng nâng cao cảnh giác với âm mưu của kẻ địch; không tin, không nghe theo luận điệu tuyên truyền của bọn phản động và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.

Khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, tự vươn lên trong đồng bào các DTTS, phát huy tinh thần nỗ lực phấn đấu của họ, tạo ra sức mạnh tổng hợp; khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại trong một bộ phận đồng bào DTTS hiện nay. Việc tuyên truyền, học tập các nghị quyết, chỉ thị phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và sâu rộng với nhiều hình thức phong phú.

Chủ động, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nâng cao tinh thần cảnh giác của đồng bào các DTTS, xoá bỏ tư tưởng đòi ly khai, tự trị còn tồn tại trong một bộ phận đồng bào các DTTS. Làm tốt công tác tập hợp, vận động, tuyên truyền, giáo dục thanh, thiếu niên các DTTS về ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Đổi mới hình thức tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm tâm lý, tập quán, điều kiện của từng vùng đồng bào các DTTS, vùng có đạo và từng đối tượng; huy động đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên, già làng, trưởng buôn làng tích cực tham gia làm công tác tư tưởng; chú trọng đến các biện pháp tuyên truyền trực quan sinh động, tuyên truyền thông qua gương người tốt, việc tốt, thông qua hình thức lễ hội, giao lưu văn hoá, nghệ thuật quần chúng; tăng cường thời lượng và chất lượng các bản tin tiếng dân tộc trên sóng phát thanh, truyền hình và báo địa phương. Tăng cường các hoạt động văn hoá, nghệ thuật và thông tin, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

+ Quán triệt cho cán bộ và nhân dân về quan điểm xây dựng khối đoàn kết dân tộc và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, thế trận lòng dân trên từng địa bàn là nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi. Thường xuyên đề cao cảnh giác, chủ động và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn diễn biến hòa bình, chia rẽ khối đại đoàn kết các tộc người giữa tộc người Kinh và các DTTS, giữa lương và giáo của các thế lực thù địch.

- Phải gắn chính sách xây dựng khối đoàn kết dân tộc với chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi.

+ Xây dựng khối đoàn kết dân tộc phải được thể hiện qua chính sách phát triển kinh tế - xã hội và mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội đều hướng đến nhiệm vụ thực hiện đoàn kết các dân tộc. Trong đó, chăm lo phát triển kinh tế nhằm cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và đồng bào các dân tộc có số dân ít đang còn nhiều khó khăn là nền tảng bền vũng để xây dựng khối đoàn kết các dân tộc.

+ Quan tâm xây dựng lực lượng chính trị trong vùng đồng bào các DTTS để họ tự đảm nhận công việc tại cơ sở, đưa dân tộc họ tiến lên kịp các dân tộc khác mới là giải pháp quan trọng.

+ Phát huy vai trò của những người có uy tín (già làng, trí thức DTTS) trong quá trình củng cố và tăng cường khối đoàn kết các dân tộc. Quan tâm đến việc bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao hiểu biết về mọi mặt cho đội ngũ người có uy tín phù hợp với yêu cầu công tác quản lý ở địa phương như: chính sách dân tộc của Đảng; hệ thống luật pháp của nhà nước; kết hợp giữa luật pháp và luật tục trong quản lý xã hội ở cơ sở.

Có chế độ chính sách và có định hướng chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp uỷ, chính quyền địa phương trong việc sử dụng những người có uy tín thì hiệu quả của việc xây dựng khối đoàn kết các DTTS là rất cao.

- Đổi mới phương thức công tác dân vận

+ Nhận thức đúng đắn về vai trò đặc biệt quan trọng và yêu cầu bức xúc của công tác vận động quần chúng trong tình hình mới; từ đó toàn tâm, toàn ý và thực sự chăm lo, quan tâm công tác vận động quần chúng, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân; tạo nên sự chuyển biến rõ ràng về nhận thức công tác vận động quần chúng là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng.

Vận dụng sáng tạo các quan điểm định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nướcvề công tác dân vận vào hoàn cảnh thực tế địa phương, kịp thời đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp để lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận.

+ Phải thường xuyên khảo sát, đánh giá, nắm chắc tình hình các tầng lớp nhân dân, những vấn đề mới phát sinh; định kỳ tiếp xúc với đại diện mặt trận và các địa phương;  ghi nhận và phản ánh đúng những ý kiến của mọi thành phần trong xã hội; xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cụ thể; phân công nhiệm vụ rõ ràng, có chỉ đạo sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đề xuất với cấp uỷ chỉ đạo kịp thời công tác mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội.

+ Công tác vận động quần chúng phải thật sự hướng về cơ sở, nhất là các thôn, buôn vùng đồng bào các DTTS, đồng bào có đạo. Nội dung, phương pháp vận động phải cụ thể, thiết thực, phù hợp với trình độ nhận thức và tâm lý của đồng bào.

Mặt trận và các đoàn thể các cấp phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp, hoạt động thông qua quy chế phối hợp, hướng hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đến từng tôn giáo, từng tộc người, đến từng hộ gia đình, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, vùng đồng bào có đạo.

+ Công tác phát động quần chúng phải được coi là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm, thường  xuyên của hệ thống chính trị các cấp, trong đó, cấp cơ sở có trách nhiệm chủ động, tự lực trực tiếp thực hiện công tác này, còn cấp huyện, tỉnh là hỗ trợ. Khắc phục tính ỷ lại, làm theo “thời vụ”, còn “phát” thì còn “động”, khi đoàn công tác rút về thì không giữ được phong trào, tình hình vẫn như cũ. Các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp đẩy mạnh các phong trào hoạt động của quần chúng và cử cán bộ tham gia các đội công tác phát động quần chúng.

+ Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng có tâm huyết, biết nghe dân nói, nói dân nghe, làm dân tin

Phải tăng cường xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác quần chúng thật sự vững mạnh. Cán bộ, đảng viên được phân công làm công tác quần chúng trong vùng đồng bào các tộc người thiểu số ngoài phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, thật thà, trung thực, đi sâu, đi sát cơ sở, cần phải biết tiếng nói của đồng bào; am hiểu tâm tư, nguyện vọng, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các tộc người.

 

4 Công tác quản lý nhà nước về dân tộc

- Ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Để thực hiện quản lý nhà nướcvề phát triển dân tộc thiểu số, cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương của Đảng trong lĩnh vực dân tộc được nêu tại Cương

lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đảng; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính sách dân tộc, về quyền con người, quyền công dân của các dân tộc; khắc phục những bất cập về thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi; luật hóa công tác quản lý phát triển vùng dân tộc và miền núi ở tầm vĩ mô.

Việc ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân của các dân tộc thiểu số, và sẽ là luật khung, quy định các vấn đề về nguyên tắc hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện quá trình phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc và miền núi.

- Đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc và các cơ quan có liên quan

Tc hết, hoàn thiện hơn nữa nhằm nâng cao năng lực hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương trên cơ sở bảo đảm số lượng, chất lượng, qui định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm (có quy định trách nhiệm đối với người đứng đầu) của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng và tổ chức thực hiện, giám sát thực hiện chính sách dân tộc.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp và vai trò, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan: chủ trì quản lý Nhà nướcvề công tác dân tộc; cơ quan quản lý chuyên ngành liên quan trực tiếp nội dung, nhiệm vụ thực hiện chính sách và các cấp chính quyền địa phương. Các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị - xã hội, tăng cường công tác giám sát việc tổ chức thực hiện các chính sách còn hiệu lực thi hành.

Thứ tư, tăng cường năng lực cho cơ quan hoạch định chính sách, đội ngũ cán bộ cơ sở, vùng dân tộc, kiện toàn hệ thống cơ quan công tác dân tộc

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các ngành, các cấp liên quan để đủ khả năng và kiến thức phục vụ cho việc hoạch định, quản lý và thực thi những chương trình phát triển ở vùng dân tộc thiểu số. Xây dựng chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực qui mô và đồng bộ hơn nữa ở tất cả các cấp từ trung ương đến tỉnh, huyện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cũng như sự chuyển biến của cơ chế quản lý.

 

5. Công tác nghiên cứu khoa học

- Tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn như dân tộc học, văn hóa học, tâm lý học, lịch sử, tôn giáo học,... về các tộc người thiểu số để có chính sách phù hợp với từng vùng, từng tộc người.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận về quan hệ dân tộc, biến đổi quan hệ dân tộc để dự báo các xu hướng phát triển của quan hệ dân tộc từng giai đoạn, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, từ đó có những quyết sách kịp thời và phù hợp.

- Coi trọng tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện chính sách dân tộc, nhanh chóng phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh do những yếu tố chủ quan gây ra để có những giải pháp khắc phục kịp thời và từng bước hoàn chỉnh chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tất cả những vấn đề nêu đòi hỏi phải tìm cơ sở khoa học cho những quyết sách tốt nhất, phù hợp nhất của Đảng và Nhà nước nhằm kịp thời giải quyết mối quan hệ dân tộc ở nước ta, bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc anh em trong đại gia đình dân

tộc Việt Nam cùng nhau phát triển, phồn vinh.

 

PV (nguồn: Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.04.21/16-20 )

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết