Thứ Hai, ngày 27 tháng 05 năm 2019

Một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Ngày phát hành: 02/05/2019 Lượt xem 52

 

 

I. Quá trình nhận thức lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế

Từ các văn kiện qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là trong 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và gần 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, có thể khái quát sự tiến triển quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế như sau:

Một là, quan điểm chủ đạo, xuyên suốt, bất biến là hội nhập kinh tế quốc tế luôn luôn dựa trên tiền đề,điều kiện: giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng và giữ vững nền kinh tế độc lập, tự chủ;hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghị quyết  06 HNTW4, khóa XII chỉ rõ “Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng”.

Hai là, sự tiến triển nhận thức từ chú trọng hội nhập kinh tế, đến hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nhưng hội nhập kinh tế vẫn là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội XI đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta. Nghị quyết số 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế khẳng định: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước”.

Sự tiến triển quan điểm này phản ánh và tương thích với sự tiến triển các quan điểm ,chủ trương trong đường lối đổi mới của Đảng ta:đổi mới kinh tế là trọng trọng tâm, là khởi đầu tiến đến đổi mới toàn diện và đồng bộ trên các lĩnh vực khác. Mặt khác sự tiến triển nhận thức này cũng phản ánh sự tiến triển của bối cảnh quốc tế: từ hợp tác kinh tế quốc tế sang toàn cầu hóa kinh tế, từ toàn cầu hóa kinh tế sang toàn cầu hóa trên các lĩnh vực khác, nhưng toàn cầu hóa vẫn là trọng tâm. Mặt khác, đặt hội nhập kinh tế quốc tế trong tổng thể hội nhập quốc tế là hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận về chính sách đối ngoại của một quốc gia, trong đó không thể tách biệt kinh tế đối ngoại với chính trị đối ngoại.

Ba là, sự tiến triển quan điểm từ hội nhập đơn tuyến sang đa tuyến, trên tất cả các cấp độ:song phương, khu vực và đa phương. Kết luận số 58-KL/TW ngày 2/4/2013 của Bộ Chính trị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới đã khẳng định quan điểm: ” chủ động xây dựng các quan hệ đối tác mới, tham gia vào các vòng đàm phán mới, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế song phương, khu vực và đa phương”.

 Bốn là, tiến triển từ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại thông qua mở cửa thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài sang hội nhập kinh tế toàn diện dựa trên ký kết các hiệp định quốc tế.Có thể nói nhận thức của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế được củng cố qua từng giai đoạn phát triển, đến Đại hội Đảng lần thứ VIII, khái niệm “hội nhập” được chính thức đề cập với chủ trương “xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”. Đại hội Đảng IX (năm 2001) đề ra chủ trương “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” và tháng 11/2011 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 07-NQ/TW "Về hội nhập kinh tế quốc tế". Đại hội khóa X tiếp tục khẳng định "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế", đồng thời "mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã nâng chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” lên thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước.”

Năm là, tiến triển từ việc coi mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế như một sự bổ sung cho phát triển kinh tế trong nước đến việc xem hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách trong nước là hai tiến trình phụ thuộc lẫn nhau, tạo tiền đề cho nhau. Kết luận số 58-KL/TW ngày 2/4/2013 của Bộ Chính trị  chỉ rõ:“Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Ðảng và Nhà nước. Nghị quyết  06 HNTW4, khóa XII nói rõ hơn: “ Bảo đảm đồng bộ giữa đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh; giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là trong những lĩnh vực, vấn đề liên quan đến ổn định chính trị - xã hội”.

Sáu là, từ chỗ xem mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là chính sách của Đảng và Nhà nước đến coi Hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân. Kết luận số 58-KL/TW ngày 2/4/2013 của Bộ Chính trị  chỉ rõ;”Nhân dân là chủ thể của hội nhập và được hưởng thành quả từ hội nhập. Mọi cơ chế, chính sách phải nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, khả năng sáng tạo và phát huy mọi nguồn lực của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận cao trong toàn xã hội; phát huy vai trò của đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài vào công cuộc phát triển đất nước và tăng thêm sự gắn bó của đồng bào với Tổ quốc”. Nghị quyết 06 HNTW4, khóa XII tiếp tục khẳng định: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu”.

II. Ưu điểm, hạn chế, bất cập của hội nhập kinh tế quốc tế

1. Ưu điểm

Trong gần 30 năm qua,hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được các kết quả quan trọng với các điểm ưu sau:

(1) Từ một nước bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước và các tổ chức quốc tế, tiến đến thiết lập quan hệ và ký kết các hiệp định, thỏa thuận hợp tác và hội nhập kinh tế ở tất cả các cấp độ song phương, khu vực và đa phương.

Sau hơn 30 năm đổi mới, đặc biệt là từ khi thực hiện Cương lĩnh 1991,Việt Nam đã tham gia tất cả các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực chủ chốt như WTO, ASEM,APEC, ASEAN, thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và 70 vùng lãnh thổ, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ[1], ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.[2] Với việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, vị thế của đất nước tiếp tục được cải thiện đáng kể. Ta đã có 3 đối tác chiến lược toàn diện, 15 đối tác chiến lược và 12 đối tác toàn diện – hầu hết đều được thiết lập trong giai đoạn 2007-2017.Tiếng nói và vị thế của ta được coi trọng, ghi nhận ở không ít tổ chức, diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, UNESCO, APEC, v.v.

(2) Trên cơ sở các cam kết hội nhập,hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo động lực thúc đẩy đổi mới thể chế kinh tế theo hướng ngày gần với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

  Cùng với quá trình thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có bước tiến lớn trong việc ban hành và sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm làm cho môi trường kinh doanh thông thoáng minh bạch, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đầu tư phát triển; đó là điều kiện bắt buộc và cũng là yêu cầu cấp thiết trong quá trình đổi mới đường lối và chính sách đối ngoại, tham gia ngày càng sâu và rộng vào sân chơi quốc tế. Việc thu hút và sử dụng ĐTNN trong những năm qua còn góp phần tích cực hoàn thiện thể kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường; nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây là thành tựu quan trọng và nổi bật của việc thực hiện đường lối và chính sách đối ngoại đổi mới, được cộng đồng doanh nghiệp thừa nhận. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là, khi thể chế trong nước được đổi mới càng sát với chuẩn mực và thông lệ quốc tế thì càng trở thành động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.

(3) Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm,của các  doanh nghiệp và của  toàn bộ nền kinh tế.

Nếu như trong giai đoạn 1986-1990, trước khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa, hội nhập toàn diện, tăng trưởng GDP bình quân chỉ đạt 4,4%/năm thì thời kỳ từ 1991-2011 tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 6 - 8%.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy vai trò của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất được nâng lên. Kết quả là nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và ra khỏi danh sách các nước kém phát triển sau 30 năm đổi mới.

(4) Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nền kinh tế mở, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại

Hội nhập kinh tế quốc tế là yếu tố quan trọng tạo điệu kiện thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường và tăng cường xuất khẩu, đưa xuất khẩu đã trở thành một động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Độ mở của nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP đạt 208,6%, điều này chứng tỏ Việt Nam khai thác được thế mạnh của kinh tế trong nước đồng thời tranh thủ được thị trường thế giới.

(5) Hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu vốn và công nghệ của đất nước trong giai đoạn đầu CNH, HĐH

Bắt đầu từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã  đóng vai trò như một “cú hích”, tạo sự đột phá, vừa bổ sung nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển, vừa khơi dậy các nguồn lực trong nước, để khai thác, tận dụng các tiềm năng, lợi thế, đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, khủng hoảng.

Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN ngày càng phát triển, đã trở thành một trong những khu vực năng động nhất của nền kinh tế. góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế, phát triển nhiều ngành dịch vụ chất lượng cao, tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, góp phần kích thích hoạt động thương mại nội địa; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu; hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế; góp phần cải thiện hệ thống cảng biển của Việt Nam; góp quan trọng cho thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và từng bước đưa Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực ĐTNN cũng đã thực hiện chuyển giao công nghệ ở một số ngành, lĩnh vực và có tác động lan tỏa công nghệ nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ...

(6) Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, nâng cao trình độ , kỹ năng của lực lượng lao động, góp phần giải  quyết nhiều vấn đề xã hội và phát triển bền vững.

Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn là kênh quan trọng góp phần tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã mang tới những cơ hội để tiếp cận các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục.Nhờ tăng cường hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa, chúng ta đã có thêm những nguồn lực, cơ hội mới giúp bảo vệ và phát huy có chất lượng, hiệu quả hơn di sản văn hóa Việt Nam. Với việc tham gia các Công ước và nỗ lực từ Trung ương tới địa phương, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của ta đã được UNESCO công nhận, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội. Mở cửa, đổi mới tạo điều kiện cho sự giao lưu của các luồng văn hóa, đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc phổ biến di sản văn hóa của nước ta ra nước ngoài.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra sự đan xen về lợi ích giữa Việt Nam và các nước, các trung tâm quyền lực, tạo thế và lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác trong khu vực, giúp ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh; làm cho sức mạnh kinh tế của đất nước từng bước được nâng lên là điều kiện quan trọng để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới.

 

 

2. Hạn chế và bất cập và nguyên nhân.

Bên cạnh những thành quả và ưu điểm nêu trên, hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế và bất câp. Những hạn chế và bất cập này đã được nêu lên trong nhiều văn kiện của Đảng, đặc biệt gần đây là Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, cũng như trong nhiều công trình nghiên cứu và trên các diễn đàn kinh tế. Những hạn chế, bất cập chủ yếu là:

(1) Hội nhập kinh tế quốc tế nhìn chung thể hiện chủ yếu trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà chưa biến thành yếu tố nội sinh trong hành động của các cấp, các ngành và doanh nghiệp.   

Các chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế chậm được lồng ghép, nhìn nhận đầy đủ trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chưa gắn kết chặt chẽ với công tác quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội, và thiếu nguồn lực để thực hiện.Tính gắn kết giữa các ngành, lĩnh vực chưa cao, nhiều vấn đề mang tính liên ngành chậm được xử lý hoặc xử lý cục bộ, ngắn hạn. Ở cấp độ vi mô, chủ trương, chính sách hội nhập chưa được cụ thể hóa dẫn đến tình trạng thụ động,các doanh nghiệp chưa nhận thức hết tính cấp thiết và lợi ích của hội nhập đối với hoạt động kinh doanh của mình.

   Cơ chế giám sát, theo dõi việc thực hiện các kế hoạch, đề án, chương trình về hội nhập kinh tế quốc tế chưa thực sự được chú trọng, gây khó khăn trong việc tổng hợp đầy đủ, kịp thời cũng như đánh giá kết quả của việc triển khai một cách xác đáng và toàn diện.

(2) Quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu hội nhập và  quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh. Mặt khác tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế bộc lộ nhiều bất cập so với yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Việc cải cách thể chế kinh tế trong nước vẫn chưa đáp ứng và theo kịp các yêu cầu của việc thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Việc đẩy mạnh quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế chưa tạo sức ép đổi mới trong nước, nhất là về thể chế kinh tế, cải cách hành chính. Tuy đã có nhiều chính sách, pháp luật để hội nhập và thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO và tham gia các FTA, song vẫn thiếu các chính sách cụ thể và hiệu quả để thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ lớn về phát huy nội lực, phát triển doanh nghiệp trong nước, nông nghiệp nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ... nhằm phát huy hiệu quả của hội nhập,thúc đẩy quá trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Việc điều chỉnh chính sách thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế trong nhiều trường hợp còn thiếu chủ động, chưa đồng bộ. Việc hoàn thiện khung pháp lý chưa chủ động đi trước một bước để người dân và doanh nghiệp tận dụng các cơ hội mới cũng như có các giải pháp hỗ trợ cụ thể toàn diện, tận dụng các điều khoản WTO và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế khác để tăng khả năng cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro và tác động tiêu cực.

(3) Việc phối hợp hội nhập kinh tế quốc tế với hội nhập trong các lĩnh vực khác chưa  chặt chẽ để phát huy tổng lực và hạn chế rủi ro. Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược, lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng. Việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.

Khả năng nhận định, đánh giá và dự báo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao. Các vấn đề về xây dựng cơ chế nhận biết, cảnh báo sớm tác động trong các lĩnh vực hội nhập kinh tế trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới nhìn chung còn yếu. Công tác tham mưu, tư vấn chính sách vẫn còn hạn chế trong việc phân tích, định hướng và dự báo những vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế phát sinh.

(4) Nền kinh tế vẫn mang tính gia công,chưa tạo ra các thương hiệu Việt Nam có uy tín trên thị trường thế giới. Xuất khẩu tăng nhanh nhưng chưa thực sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu còn thấp, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua phát triển chưa bền vững. Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu còn thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ; hàng hóa thô và sơ chế, bao gồm cả dầu thô, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của các mặt hàng dựa vào tài nguyên chiếm dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu, và tỷ lệ này gần như không thay đổi. Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu thấp. Hàng hóa xuất khẩu ngoài khoáng sản, nhiên liệu thô thì hàng hóa nông nghiệp 90% là sản phẩm thô và sơ chế. Hàng công nghiệp chế biến chủ yếu là gia công, lắp ráp dựa trên việc nhập khẩu nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện, chi tiết máy, bán thành phẩm, điều đó phản ánh một nền kinh tế trình độ thấp, chủ yếu khai thác tài nguyên và lao động rẻ.

Thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam được mở rộng, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu lớn,những mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn còn phụ thuộc vào một vài thị trường trọng điểm nên tiềm ẩn rủi ro lớn khi các thị trường này có biến động. (Cao su và rau quả phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, thủy sản phụ thuộc vào thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản, gạo phụ thuộc thị trường Đông Nam Á, dệt may chủ yếu xuất sang thị trường Hoa Kỳ, da giày phụ thuộc chủ yếu vào thị trường EU. Xuất khẩu cà phê nhân phụ thuộc vào vài tập đoàn đa quốc gia có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam). Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu mới chỉ chú trọng đến bề rộng, chưa chú trọng đến nâng cao khả năng cạnh tranh và thương hiệu sản phẩm, những ngành mang lại giá trị gia tăng lớn. Vẫn còn hạn chế trong việc đa dạng hóa các sản phẩm xuất khẩu và chuyển dịch lên trên chuỗi giá trị toàn cầu, chưa thực sự quan tâm đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quyền sở hữu trí tuệ;còn nhiều lúng túng và bị động trong ứng phó với các rào cản thương mại mới của nước ngoài (tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường, dư lượng kháng sinh, nhất là các vụ kiện chống bán phá giá).

(5) Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và các sản phẩm chủ lực còn thấp và chịu sức ép cạnh tranh với các doanh nghiệp và sản phẩm nước ngoài ngay trên thị trường nội địa

Tác động lan tỏa về công nghệ, kỹ năng của khu vực FDI ở Việt Nam còn yếu. Một số lĩnh vực sản xuất được bảo hộ quá lâu, hạn chế cạnh tranh và cả sự tham gia trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ phát triển chưa mạnh, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, vì vậy, khả năng tiếp nhận hiệu ứng lan tỏa tích cực từ FDI còn rất hạn chế.

 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên về khách quan là do nền kinh tế đang ở trong giai đoạn phát triển thấp xét cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vì vị thế, mức độ tham gia vào nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào thực lực của nền kinh tế của một quốc gia.Tuy nhiên,những nguyên nhân chủ quan có vai trò quyết định đối với những hạn chế, bất cập nêu trên nếu xét về phương diện thực thi và hiệu quả của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.Trong số các nguyên nhân chủ quan, trước hết phải nói đến việc đổi mới tư duy và nền tảng tri thức về kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta chưa theo kịp thực tiễn.Quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong hội nhập, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn có các cách hiểu khác nhau đã trở thành rào cản của nhiều chủ trương, quyết sách và chỉ đạo thực tiễn. Một nguyên nhân chủ quan khác là quy trình chính sách chưa được xây dựng và tổ chức thực hiện một cách khoa học dẫ đến tính khả thi thấp, trách nhiệm không rõ.Tổ chức bộ máy cồng kềnh, chồng chéo và công tác cán bộ chậm đổi mới, thực lực của đội ngũ cán bộ hoạch định và thực thi chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lợi ích cục bộ, tư duy nhiệm kỳ,tham nhũng là những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế, bất cập nêu trên.

 

 

III. Những vấn đề đặt ra đối với hội nhập kinh tế quốc tế

1. Bối cảnh quốc tế hiện nay đặt ra nhiều thách thức đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nền kinh tế thế giới và tiến trình toàn cầu hóa đang đứng trước  nhiều thách thức mới khi các diễn đàn đa phương có sự tham gia của một số siêu cường kinh tế (như WTO, Liên hợp quốc, APEC, G20, G7, v.v.) bộc lộ không ít bất đồng và gặp khó khăn trong việc tìm tiếng nói chung; vai trò của các thể chế đa phương và luật lệ, quy định thương mại quốc tế phổ cập (đặc biệt là WTO) có phần suy giảm trong khi xuất hiện các sáng kiến, định chế kinh tế - tài chính mới (như Sáng kiến Vành đai và Con đường, AIIB, v.v.). Bản thân WTO vẫn chưa xử lý được những vấn đề quan trọng liên quan đến thương mại như an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, hay những mất cân đối thương mại toàn cầu. Liên kết kinh tế khu vực, tiểu vùng và song phương có xu hướng được đẩy mạnh hơn so với liên kết kinh tế toàn cầu và liên khu vực.

Những bất ổn kinh tế vĩ mô ở các nền kinh tế chủ chốt và bất bình đẳng trong thương mại quốc tế làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc và xu hướng bảo hộ.Thống kê ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy có hàng chục nghìn biện pháp có tác động hạn chế thương mại, trong đó phổ biến nhất là yêu cầu hàm lượng nội địa trong mua sắm chính phủ. Nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) được thúc đẩy, đàm phán và ký kết (ở cả cấp độ song phương, đa phương) với quy mô ngày càng lớn. Mặc dù vậy, mất cân đối thương mại toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược, và cọ sát kinh tế, đặc biệt giữa các nền kinh tế chủ chốt. Điển hình là Mỹ - một nền kinh tế từng dẫn đầu trong thúc đẩy toàn cầu hóa - cũng sẵn sàng leo thang xung đột thương mại với các đối tác, áp dụng cách tiếp cận đơn phương, không tuân theo các quy tắc của WTO trong xử lý thâm hụt thương mại với các đối tác quan trọng (như với Trung Quốc, EU, Canada, v.v.). Phạm vi và lộ trình đàm phán Anh rời khỏi EU còn khá nhiều bất định, kéo theo những rủi ro không nhỏ đối với triển vọng đầu tư – thương mại liên quan đến các thị trường này.

Một yếu tố khác tác động đến bối cảnh kinh tế thế giới và toàn cầu hóa là  cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 đang có những diễn biến nhanh chưa từng có, với sự hội tụ của nhiều công nghệ đột phá. Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào công nghệ và đổi mới, sáng tạo. Kinh tế số là một lĩnh vực liên tục có những chuyển biến lớn làm xuất hiện các sản phẩm và dịch vụ mới, tăng hiệu quả sản xuất, thúc đẩy sáng tạo và phát triển của nhiều ngành kinh tế trong dài hạn có ảnh hưởng thực tế và tiềm năng không nhỏ đối với phương thức tăng trưởng và phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra những cách hoàn toàn mới để phục vụ cho nhu cầu trong hiện tại và thay đổi triệt để các chuỗi giá trị ngành công nghiệp đang hoạt động. Đồng thời, lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới cũng trở thành một vấn đề được các diễn đàn quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn. Tất cả những điều này có liên hệ chặt chẽ, tác động đến việc bố trí sản xuất và sắp xếp lực lượng lao động, qua đó ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định đầu tư, địa điểm đầu tư, nhân lực và công nghệ sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất.

Cách mạng Công nghiệp 4.0 với nền tảng số hóa đã và đang thay đổi diện mạo thương mại toàn cầu với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử. Thương mại thế giới quanh các sản phẩm hữu hình hiện không còn quan trọng như y trước. Do vậy, ưu tiên trong đàm phán tự do hóa thương mại thế giới đã dịch chuyển: từ mua bán hàng hóa vật chất chuyển sang mua bán dịch vụ xuyên biên giới; sẽ không chỉ giới hạn ở cắt giảm thuế, mà có sự quan tâm hơn đến các hàng rào kỹ thuật mới, liên quan đến công nghệ số, đến chủ quyền số và thông tin người dùng.

Những xu thế nêu trên cũng kéo theo không ít thách thức đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập, thể hiện ở:Thứ nhất, xử lý hài hòa yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thương mại thế giới có nhiều bất định là không dễ. Các nghiên cứu cho thấy chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc có thể làm tăng trưởng GDP toàn cầu suy giảm, dù ở mức độ khác nhau tùy theo kịch bản. Nếu chính sách ứng phó thiếu linh hoạt, Việt Nam có thể rơi vào suy giảm tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, thách thức đối với duy trì cải cách sẽ lớn hơn nếu quá tập trung hơn vào xử lý tác động bất lợi từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc nói riêng và sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ nói chung. Trong khi ấy, chậm trễ trong cải cách có thể ảnh hưởng đến động lực cho doanh nghiệp cũng như khả năng bắt kịp, đi cùng và vượt lên các nước trong Cách mạng Công nghiệp 4.0.Thứ ba, Việt Nam phải đối mặt với tác động chuyển hướng thương mại từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc. Xử lý thách thức này càng khó hơn khi thương mại điện tử xuyên biên giới đã phổ biến hơn, đi kèm với rủi ro tấn công an ninh mạng. Một số nhà đầu tư có thể chuyển địa điểm từ Trung Quốc sang Việt Nam. Khi ấy, việc sàng lọc các dự án phù hợp với yêu cầu trên cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường là một nhiệm vụ khó khăn.Thứ tư, cuộc chiến thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ ảnh hưởng sâu rộngtới tăng trưởng và thương mại toàn cầu, lan truyền làn sóng bảo hộ sang các thị trường khác. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào nhiều thị trường có thể gặp phải các biện pháp hạn chế thương mại. Bản thân việc USD lên giá và rủi ro các nước khác phá giá nội tệ cũng làm tăng thách thức đối với điều hành tỷ giá, thương mại và thị trường tài chính của Việt Nam.(Đỗ Thắng Hải- Diễn đàn Hội nhập kinh tế quốc tế 2018)

2. Thách thức từ các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết đòi hỏi có lộ trình tổng thể và tổ chức thực hiện

Với việc hoàn tất ký kết các hiệp định thương mại tự do và cam kết hội nhập ở tất cả các cấp độ, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn triển khai sâu rộng và toàn diện. Với việc triển khai và hoàn tất 16 Hiệp định FTA đã thực thi, đang đàm phán và chuẩn bị phê chuẩn, Việt Nam hứa hẹn sẽ trở thành tâm điểm của mạng lưới khu vực thương mại tự do rộng lớn chiếm 59% dân số thế giới, 61% GDP và 68% thương mại toàn cầu, góp phần gia tăng đan xen lợi ích của nước ta với hầu hết các đối tác hàng đầu khu vực và thế giới.Trong 5 - 10 năm tới sẽ là giai đoạn đi vào thực thi các cam kết kinh tế quốc tế trên nhiều tầng nấc, trong đó có những cam kết FTA thế hệ mới tiêu chuẩn cao. Năm 2018 là thời hạn Việt Nam hoàn thành lộ trình thực hiện nhiều cam kết trong Hiệp định hàng hóa ASEAN (ATIGA) và cam kết gia nhập WTO (thời hạn 31/12/2018). Giai đoạn từ 2020 đến 2025 sẽ lần lượt hoàn tất các cam kết của các FTA ASEAN với Trung Quốc, Australia và New Zealand, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản. Từ 2026 đến 2030 là giai đoạn hoàn tất các cam kết của FTA Việt Nam với Nhật Bản, Liên minh Kinh tế Á - Âu, Chile. Đây là thời điểm chúng ta bắt đầu thực thi nhiều cam kết cắt giảm sâu, tiêu chuẩn cao, trong khi thời hạn phải triển khai các cam kết FTA thế hệ mới đã rất gần. Điều đó sẽ tác động trực diện và sâu rộng đến kinh tế đất nước, các địa phương và doanh nghiệp, gia tăng sức ép cạnh tranh gay gắt hơn.

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tích hợp các cam kết nêu trên thành một kế hoạch thực thi tổng thể. So với giai đoạn đàm phán và ký kết, giai đoạn tổ chức thực thi sẽ khó khăn hơn nhiều, không chỉ đòi hỏi phải có bộ máy, nguồn nhân lực và năng lực thực thi mà toàn bộ nền kinh tế được đặt trong một khung cảnh phát triển mới với tất cả các tác động thuận nghịch

3. Thách thức của giai đoạn hội nhập theo chiều sâu: hài hòa hóa thể chế bên trong với cam kết hội nhập.Thực chất của hội nhập kinh tế quốc tế về phương diện thể chế là phát triển một nền kinh tế thị trường thực thụ

Việc ký kết các hiệp định thương mại tự do trên diện rộng và lộ trình cắt giảm thuế quan dù được thực hiện đúng tiến độ thì nền kinh tế cũng mới chỉ ở giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập. Giai đoạn hội nhập sâu hơn đòi hỏi phải hài hòa hóa chính sách và đặc biệt là tạo lập môt thể chế kinh té tương thích. Đó chính là phải tạo lập một nền kinh tế thị trường thực thụ. Cơ chế thị trường phải được xác lập và tác động có hiệu quả với nguyên tắc chủ yếu là: giá cả, lãi suất, tỷ giá do thị trường quy định; Nhà nước kiểm soát được lạm phát và duy trì được ở mức thấp hơn mức độ tăng trưởng; huy động và phân bổ được các nguồn vốn vào các lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả thông qua thị trường tiền tệ và vốn; xác lập được pháp luật cần thiết, thích hợp và thông thoáng hỗ trợ cho việc mở cửa...Nếu cơ chế thị trường chưa đạt tới mức độ đó, thì chính sách và các cam kết hội nhập vẫn còn bị hạn chế. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, hướng mở cửa chủ yếu của các quốc gia kém phát triển phải là nền kinh tế thị trường phát triển, do vậy cơ chế thị trường ở các nước kém phát triển được xác lập đủ mức thích ứng với các thị trường phát triển, đủ mức hấp dẫn các nhà đầu tư và kinh doanh của các nền kinh tế thị trường phát triển.

4. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do và các cam kết hội nhập đặt nền kinh tế và các doanh nghiệp nội địa trước sự cạnh tranh gay gắt

Nhiều nghiên cứu và ý kiến của các chuyên gia đều đi đến nhận định: sức ép cạnh tranh là vấn đề lớn, nhãn tiền đặt ra trong tiến trình hội nhập sâu rộng.Với 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế Việt Nam là rất lớn. Việc tự do hóa thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng nhập khẩu từ các nước đối tác FTA vào Việt Nam do giá thành rẻ hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ tác động đến lĩnh vực sản xuất trong nước. Ngoài ra, khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ nhưng các hàng rào kỹ thuật không hiệu quả, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chất lượng kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng trong khi lại không bảo vệ được sản xuất trong nước. 

Doanh nghiệp và hàng Việt Nam không chỉ phải cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu mà phải cạnh tranh ở cả thị trường nội địa. Việc mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa đến từ các nước đối tác FTA thông qua việc loại bỏ phần lớn thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu, trong khi các biện pháp phi thuế quan hợp pháp chưa được sử dụng hiệu quả, biên giới thị trường sẽ dần bị xóa nhòa. Thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam chính là áp lực cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ, chất lượng tốt từ các nước đối tác trên chính thị trường nội địa.

Việt Nam đã loại bỏ hoàn toàn tới 90% số dòng thuế cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN cũng như các đối tác ký kết FTA khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, Niu Di-lân… tự do vào Việt Nam không phải chịu thuế hoặc chịu thuế thấp hơn thời gian trước. Riêng đối với thị trường Trung Quốc, với nhiều điểm tương đồng về cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, trong khi hàng hóa có sức cạnh tranh cao hơn hàng hóa của Việt Nam, nhất là về giá, chắc chắn sẽ dẫn tới việc hàng hóa Trung Quốc xâm nhập ngày càng mạnh vào thị trường nước ta bằng cả con đường chính ngạch và tiểu ngạch. Thực tế này khiến một số ngành sản xuất của Việt Nam đang và sẽ đứng trước nguy cơ phải thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa vì không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc, nhất là trong điều kiện chúng ta chưa xây dựng đầy đủ và sử dụng hiệu quả hàng rào thương mại (TBT, SPS, các biện pháp phòng vệ thương mại tạm thời) để bảo vệ thị trường trong nước theo quy định của WTO.

5. Hội nhập KTQT giai đoạn tới đặt ra những vấn đề xã hội, môi trường, lao động và việc làm ngày càng bức thiết

Ngay từ năm 2007, khi Việt Nam vừa ra nhập tổ chức thương mại thế giới, Đảng ta đã nhận định “ Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế có thể làm tăng thêm sự phân phối lợi ích không đồng đều giữa các khu vực, các ngành, các vùng, miền đất nước; có những bộ phận dân cư ít được hưởng lợi, thậm chí còn bị tác động tiêu cực; một bộ phận doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp có thể tăng lên; khoảng cách giàu - nghèo, mức sống giữa nông thôn và thành thị có thể doãng ra hơn, từ đó có thể dẫn đến những yếu tố gây bất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước...” (Nghị quyết 08, TW khóa X ).Nhận định này đã được thực tế chứng minh và đến nay đây vẫn là vấn đề lớn đặt ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng.

Nội hàm của hội nhập, liên kết kinh tế trong các khuôn khổ đa phương được mở rộng mạnh mẽ, sâu rộng hơn, gắn với hầu hết các lĩnh vực, nhất là phát triển bền vững và ứng phó với các thách thức toàn cầu. Nhiều cơ chế tầm toàn cầu được hình thành và củng cố nhằm tăng cường phối hợp chính sách và nguồn lực ứng phó các thách thức chung, trong đó có các vấn đề biến đổi khí hậu, giảm nghèo, đối tác phát triển, mô hình tăng trưởng bền vững, kết nối, bình đẳng giới, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, dịch bệnh, thiên tai... 

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra thách thức đối với lĩnh vực lao động, việc làm của Việt Nam.Theo báo cáo của Bộ LĐ,TB&XH, điều đó thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau: (i)Việc tuân thủ và thực thi các cam kết quốc tế về lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn gặp nhiều thách thức, nhất là vấn đề liên quan đến lao động trẻ em, tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp doanh nghiệp, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm hiểm xã hội;(ii) Chất lượng lao động thấp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt về việc làm do sự di chuyển lao động giữa các quốc gia ngày càng thông thoáng, đặc biệt là trong nội khối ASEAN;(iii) Tốc độ tăng năng suất lao động hàng năm cao nhưng giá trị năng suất lao động còn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam thuộc nhóm 4 nước có năng suất lao động thấp nhất khu vực ASEAN;iv) Các dòng di cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, đặt ra thách thức cho công tác quản lý và hỗ trợ lao động di cư trong nước và quốc tế, gồm cả người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam và (v) Ứng dụng công nghệ số và tự động hóa vào sản xuất kinh doanh là xu hướng tất yếu để tăng năng suất và giảm chi phí lao động sẽ làm gia tăng áp lực đối với nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động,nhất là lao động không có hoặc có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, lao động trung niên và lao động lớn tuổi trong bối cảnhViệt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với qui mô lực lượng lao động lớn và hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển./.

 

PGS.TS  Lê Bộ Lĩnh

 



[1]  Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế

[2] Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết