Thứ Sáu, ngày 23 tháng 08 năm 2019

Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong những năm đổi mới

Ngày phát hành: 14/03/2019 Lượt xem 5253

I. Quan điểm chủ đạo về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 
1. Quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế qua các thời kỳ
Nhìn lại lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam thì tư tưởng mở cửa giao thương đã có từ khá lâu. Các nhà canh tân của Việt Nam như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ… cách đây nhiều thế kỷ đã nhìn thấy tầm quan trọng của việc mở cửa nền kinh tế, giao lưu buôn bán với nước ngoài. 
Sau Cách mạng tháng 8 (1945), tư tưởng mở cửa về kinh tế, hội nhập với kinh tế thế giới đã được thể hiện trong lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12 năm 1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có những điểm mà trong bối cảnh hiện nay vẫn rất đúng và thích hợp: 
- Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
- Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
- Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

 


Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, việc thực hiện tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế đó đã bị gián đoạn. Chỉ sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước (1975), Việt Nam mới thực hiện một phần tư tưởng quan trọng đó bằng việc tham gia liên kết kinh tế XHCN trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) do Liên Xô đứng đầu (1978). 
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chỉ thực sự được đẩy mạnh kể từ khi Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 cùng với việc bắt đầu công cuộc Đổi mới đất nước.
Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế đã trải qua một quá trình cụ thể hóa và hoàn thiện. Có thể chia thành 3 giai đoạn lớn:
Giai đoạn thứ nhất từ Đại hội Đảng VI (1986) đến đầu Đại hội Đảng VII (1991), lúc này Việt Nam chưa nói cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế mà mới đặt vấn đề là “mở cửa nền kinh tế”,“đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại”. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc phát triển hội nhập ở các giai đoạn tiếp theo. 
Giai đoạn thứ hai là từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được Đảng CSVN chỉ rõ: "đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế", “xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển".
Giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng CSVN đã đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Theo đó, Việt Nam chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện với hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là nội dung quan trọng nhất, như được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị ĐCSVN về hội nhập quốc tế:  “Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế”.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2015), Đảng CSVN tiếp tục khẳng định “Thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”.
Trong bối cảnh Việt Nam tích cực hội nhập toàn diện và đẩy mạnh tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nghị quyết 06 - NQ/TW khóa XII nêu rõ mục tiêu thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Vai trò trọng tâm của hội nhập kinh tế trong hội nhập toàn diện
Nghị quyết số 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế khẳng định: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước”.
 Quan điểm này khẳng định vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình hội nhập chung của đất nước, như trong kết luận của Thủ Tướng Chính phủ tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 08 của Ban Chấp hành Trung ương đã nêu rõ: “Hội nhập kinh tế quốc tế cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với hội nhập trong các lĩnh vực khác nhưng hội nhập kinh tế quốc tế phải là trọng tâm, là nội dung chính, quan trọng nhất của tiến trình hội nhập. Hội nhập kinh tế quốc tế cần đi trước một bước để tạo cơ sở, thúc đẩy hội nhập và hợp tác trong các lĩnh vực khác”. 
Về mối quan hệ của hội nhập quốc tế với các lĩnh vực hội nhập khác: ‘Hội nhập kinh tế phải là trọng tâm, các lĩnh vực khác phải tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế”.

 


Theo đó, hội nhập giờ đây không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác tuy nhiên hội nhập quốc tế vẫn được coi là nội dung quan trọng nhất. Tất cả các hoạt động hội nhập trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa... cần hỗ trợ, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển vì suy cho cùng mục tiêu cao nhất của hội nhập là vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một đất nước giàu mạnh, thịnh vượng. Xét theo thực tế khách quan, các hoạt động hội nhập chỉ có thể tiến hành dựa trên một nền tảng kinh tế tương đối vững chắc, khi đó mới có thể đảm bảo cho chúng ta tiến hành hội nhập mà vẫn có thể giữ vững độc lập tự chủ, không bị phụ thuộc vào bên ngoài. Nói cách khác, chỉ khi chúng ta đã hội nhập kinh tế quốc tế đến một mức độ nhất định mới có điều kiện để hội nhập trên các lĩnh vực khác, và hội nhập trên các lĩnh vực khác cũng không nằm ngoài mục tiêu phục vụ cho phát triển kinh tế.
3. Quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ quan điểm phát triển của đất nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn hiện nay là: "Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế". 
Trong bối cảnh hiện nay, khả năng chiến tranh và xâm lược về quân sự, lãnh thổ là ít xảy ra, cả thế giới đang trong xu thế toàn cầu hoá và không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Do đó, độc lập tự chủ trong bối cảnh hiện nay tập trung cao vào độc lập tự chủ về kinh tế. Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ.
Xây dựng kinh tế độc lập tự chủ trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh; có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó được với các tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế. 
Từ việc xác định khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ như trên, từ góc độ kinh tế có một số vấn đề liên hệ chặt chẽ như sau:
- Thứ nhất, nền kinh tế độc lập tự chủ hiện nay không tách rời khỏi tổng thể nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các nền kinh tế trên thế giới ngày càng tăng cường sự tương hỗ và phụ thuộc lẫn nhau, không một quốc gia nào có thể tách rời khỏi quá trình này và nền kinh tế độc lập tự chủ được hiểu theo nghĩa là độc lập tự chủ trong mối quan hệ gắn bó tổng thể với nền kinh tế khu vực và thế giới. Quá trình tăng cường mối liên hệ và tác động qua lại trong quan hệ kinh tế giữa các nước thể hiện cụ thể nhất thông qua việc hình thành ngày càng gia tăng các khu vực và hiệp định thương mại tự do. 
Xu thế hợp tác, liên kết kinh tế ở khu vực Châu Á và Châu Á - Thái Bình Dương được đẩy mạnh bằng các hiệp định tự do hoá thương mại song phương, hợp tác kinh tế tiểu khu vực và nhóm nước. 
- Thứ hai, xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi phải tập trung để nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, sản xuất và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung cũng như của doanh nghiệp và hàng hoá, dịch vụ nói riêng.
Nước ta xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, gần 3/4 dân số và lao động sống bằng nông nghiệp, công nghiệp hóa và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn chưa được chú trọng đúng mức. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, trình độ trang thiết bị lạc hậu từ 3 đến 4 thế hệ so với các nước khác trong khu vực. Trình độ kỹ thuật công nghệ thấp. Cơ sở hạ tầng và các ngành dịch vụ cơ bản phục vụ sản xuất kinh doanh như kho bãi, thông tin liên lạc, điện, nước, vận tải... đều kém phát triển và có chi phí cao hơn các nước khác trong khu vực. Những yếu tố này làm giảm nghiêm trọng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới.
Đánh giá chung, so với các nước, năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam còn thấp kém và chậm được cải thiện. Xét về các chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), so sánh với  quốc gia khu vực và trên thế giới Việt Nam  xếp ở vị trí tương đối thấp. Năm 2017, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam ở vị trí 74/135 quốc gia, năm 2018 đứng ở vị trí 77/140 quốc gia. So với các nước ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia. 
Từ thực tế đó, có thể khẳng định xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ là tiền đề đảm bảo để hội nhập kinh tế quốc tế thành công. Ngược lại, một quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tự động và tự phát sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn để phát triển và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của hàng hoá và dịch vụ nói riêng mang tính sống còn quyết định thành công của vấn đề này. 
II. Kết quả hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trên các kênh hội nhập chính 
1. Tổng quan về kết quả hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trên các kênh hội nhập đa phương, khu vực và song phương
Trên cơ sở đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, thời gian qua, Việt Nam đã tiến hành hội nhập dưới nhiều góc độ:
Về hội nhập đa phương, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. 
Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu một mốc mới trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của nước ta, mở ra một giai đoạn mới: nền kinh tế nước ta hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới. 
Về hội nhập khu vực, tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996. Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). 
Về hội nhập song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và 70 vùng lãnh thổ, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ , ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.  
Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam đã tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong bối cảnh hệ thống thương mại đa biên đang gặp phải những khó khăn nhất định, sự phát triển hợp tác kinh tế song phương và khu vực, thể hiện qua việc hình thành các FTA là một sự bổ trợ quan trọng cho mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư đa phương trên phạm vi toàn cầu hiện nay. Việc hình thành các FTA với mức độ tự do hoá sâu rộng đã và đang đem lại những cơ hội và cả thách thức không nhỏ đối với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc mà cần phải chủ động nắm bắt xu thế FTA, tham gia có lựa chọn để nắm bắt cơ hội tiếp cận thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác quan trọng. 
2. Một số kết quả cụ thể trên các kênh hội nhập chính
1) Hội nhập trong khuôn khổ WTO
Nhằm triển khai các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng ngày càng minh bạch và phù hợp hơn với các cam kết, thông lệ quốc tế. Các nỗ lực mạnh mẽ nhất đã được tiến hành để nội luật hóa cam kết hội nhập WTO, hình thành môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; phát triển các thị trường; giảm sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường thông qua các biện pháp kiểm soát giá cả, phân bổ nguồn lực, sở hữu, các biện pháp bảo hộ, trợ cấp, độc quyền, tạo ra môi trường kinh tế - xã hội đáp ứng các tiêu chí để Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường. Có thể thấy nỗ lực này qua việc chỉ trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xây dựng mới và hoàn thiện trên 30 bộ luật; có tới hơn 400 văn bản pháp luật liên quan đến 300 loại giấy phép kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau đã được rà soát, đánh giá và loại bỏ. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc lộ trình mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ theo cam kết của WTO. Cho đến nay, về cơ bản, các luật, pháp lệnh có liên quan tới việc thực thi các cam kết WTO về cơ bản đều đã được ban hành đầy đủ theo kiến nghị tại Báo cáo số 192/BC-BTP ngày 09 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát pháp luật thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP.  
Năm 2013, Việt Nam đã hoàn thành Phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu tiên trong WTO. Cộng đồng quốc tế đã hoan nghênh và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong quá trình cải cách, hoàn thiện chính sách và thực thi các cam kết để phù hợp với quy định của WTO. Hiện Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Phiên rà soát chính sách thương mại lần thứ hai tại WTO vào tháng 9 năm 2020.
Với tư cách thành viên WTO, Việt Nam đã tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ ... và đóng góp tiếng nói bảo vệ quyền và lợi ích của các nước đang phát triển. Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 9 (2013), Việt Nam cùng các thành viên WTO đã thông qua Gói cam kết thương mại Bali - một thỏa thuận lịch sử khai thông bế tắc trong đàm phán WTO, gồm 10 Hiệp định với 3 nhóm nội dung là nông nghiệp, thuận lợi hóa thương mại và thương mại và phát triển.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia vào các cuộc đàm phán song phương với các nước thành viên và các nước chưa là thành viên về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ trong WTO, trong đó có đàm phán với Liên bang Nga và một số đối tác kinh tế truyền thống của Việt Nam.
Việt Nam cũng đang tận dụng hiệu quả Chương trình hỗ trợ thương mại của WTO (AfT). Gần đây, OECD, tổ chức đồng triển khai AfT cùng với WTO đã lựa chọn Việt Nam là một trong số các quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về AfT và qua đó tiếp tục đưa ra các định hướng thúc đẩy hoạt động này cho Việt Nam.
2) Hội nhập trong khuôn khổ ASEAN
Trong bức tranh phát triển chung của ASEAN hơn 50 năm qua, hợp tác kinh tế là mảng sôi động với nhiều kết quả cụ thể và thiết thực. Thành tựu nổi bật nhất dưới trụ cột kinh tế là chúng ta đã tranh thủ được những cơ hội trong hội nhập kinh tế ASEAN để mở rộng thị trường xuất khẩu, bước đầu tham gia vào chuỗi giá trị khu vực, góp phần thức đẩy tăng trưởng kinh tế, cải cách chính sách trong nước, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu hội nhập. Về công tác nội khối có thể kể đến một số thành tựu quan trọng mà Việt Nam cùng các nước ASEAN đã đat được như sau:
Về thương mại hàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Việt Nam và các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan (đến năm 2018, các nước ASEAN-6 đã xóa bỏ khoảng 99,2% số dòng thuế và các nước gia nhập sau là Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam đã xóa bỏ khoảng 90,9% số dòng thuế; tỷ lệ tự do hóa thuế quan của Việt Nam trong nội khối ASEAN đạt 98% vào năm 2018, là tỷ lệ cao nhất trong 11 FTA mà Việt Nam đang thực hiện). Ngoài tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp như cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, cơ chế hải quan một cửa v.v... , các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về tiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao su, thực phẩm chế biến sẵn, dược phẩm và thiết bị y tế v.v. 
Về thương mại dịch vụ, tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những ưu tiên quan trọng trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Đến nay, các nước ASEAN đã ký kết xong Nghị định thư thực hiện Gói cam kết dịch vụ thứ 10 thuộc Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS-10) và kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA).
Về đầu tư, sau nhiều nỗ lực thực thi Khu vực đầu tư ASEAN và Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), trong năm 2017, các nước ASEAN đã hoàn tất việc ký kết Nghị định thư thứ hai và thứ ba sửa đổi ACIA và tiến tới sớm hoàn thành ký kết Nghị định thư thứ tư sửa đổi Hiệp định này vào năm 2019 để tăng cường luồng đầu tư trong khu vực Đông Nam Á.
Về các lĩnh vực khác, Việt Nam và các nước ASEAN đã đạt được những tiến bộ cụ thể hơn trong việc thực thi các lĩnh vực mới, như các hoạt động chuẩn bị cho cách mạng công nghiệp 4.0, thương mại điện tử và phát huy vai trò của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Trong năm 2018 vừa qua, có thể kể đến một số nội dung đã được thống nhất triển khai và hoàn thành như: ký kết Hiệp định ASEAN về Thương mại điện tử, thông qua Khung Hội nhập số ASEAN, xây dựng Quy tắc ứng xử về xây dựng xanh của ASEAN,v.v..
Không chỉ tham gia sâu rộng và toàn diện vào hợp tác nội khối, Việt Nam cùng ASEAN thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác quan trọng khác như Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Niu Di-lân, Ốt-xtrây-lia, Trung Quốc, v.v... thông qua ký kết một loạt hiệp định FTA giữa ASEAN với các đối tác này. Quan hệ hợp tác kinh tế với các các đối tác quan trọng khác như Hoa Kỳ, EU, Ca-na-đa, Liên bang Nga cũng được Việt Nam phối hợp với các nước thành viên ASEAN khác triển khai tích cực thông qua các sáng kiến, các chương trình hành động cụ thể, tập trung vào các nội dung các bên cùng quan tâm như kinh tế thương mại, đầu tư quốc tế, phát triển năng lực. Cụ thể, một số kết quả nổi bật về hợp tác ngoại khối trong thời gian gần đây có thể kể đến như:
- Việt Nam đã phối hợp với các nước thành viên ASEAN khác triển khai các thủ tục cần thiết và hoàn thành việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Hồng Công, Trung Quốc vào ngày 23 tháng 02 năm 2018, và đang triển khai các thủ tục phê chuẩn Hiệp định này, hướng tới việc đưa Hiệp định vào hiệu lực trong năm 2019. 
- Cùng với các nước ASEAN khác, Việt Nam đã ký kết “Biên bản ghi nhớ về Hợp tác Kinh tế giữa ASEAN và Liên minh Kinh tế Á - Âu” bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN - Nga, tháng 11 năm 2018. 

 


- Việt Nam cùng các nước ASEAN hoàn thành rà soát nâng cấp Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Ôtx-trây-lia – Niu Di-lân cũng như hoàn thành rà soát pháp lý và các thủ tục nội bộ để ký kết Nghị định thư thứ nhất sửa đổi Hiệp định Đối tác Kinh tế ASEAN – Nhật Bản, bổ sung các cam kết về thương mại dịch vụ, đầu tư và di chuyển thể nhân vào Hiệp định này. Nghị định thư này dự kiến sẽ được ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng RCEP giữa kỳ lần thứ 7, tháng 3 năm 2019.
- Về đàm phán thương mại với các đối tác, sau khi khởi động đàm phán từ tháng 5/2013, đến nay, Việt Nam cùng các nước thành viên Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã tham gia 12 đàm phán cấp Bộ trưởng nhiều phiên đàm phán chính thức giữa kỳ. Việt Nam đã tích cực phối hợp với các nước thành viên RCEP góp phần duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong đàm phán với các đối tác và thúc đẩy đàm phán RCEP đạt được tiến bộ quan trọng trong năm 2018, hướng tới kết thúc đàm phán trong thời gian tới đây.
- Đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN-EU, Việt Nam đã thể hiện sự tích cực trong việc điều phối với các nước ASEAN và EU nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu, thảo luận với EU về dự thảo khung khổ các yếu tố chính trong Hiệp định FTA ASEAN – EU trong tương lai.   
3) Hội nhập trong khuôn khổ APEC
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998. Thành tựu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của nước ta trong hơn 20 năm qua đã khẳng định chủ trương tham gia APEC là hoàn toàn đúng đắn và đúng thời điểm. 
Thứ nhất, là cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu tại Châu Á – Thái Bình Dương, nơi hội tụ các nền kinh tế, thương mại và công nghệ lớn toàn cầu, chiếm 39% dân số, đóng góp 59% GDP, hơn 49% thương mại của thế giới, APEC đã mang lại nhiều lợi ích về chiến lược, kinh tế, thương mại và đầu tư, góp phần thúc đẩy cải cách trong nước, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. APEC là diễn đàn quy tụ 14 trên 28 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và là các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta, chiếm 75% kim ngạch xuất nhập khẩu, 78% tổng vốn đầu tư trực tiếp và 79% lượng khách du lịch quốc tế của Việt Nam. 14 trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ta đã, đang đàm phán và ký kết là với 17 trên 20 thành viên APEC. Những con số này minh chứng rõ nét tầm quan trọng của APEC đối với phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Thứ hai, tham gia APEC góp phần quan trọng nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Là thành viên APEC, Việt Nam có vai trò, tiếng nói bình đẳng trước nền kinh tế hàng đầu thế giới trong tham gia định hình liên kết kinh tế khu vực. Bên cạnh đó, diễn đàn APEC cũng là kênh quan trọng để chúng ta thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu và thực chất. Điều này có ý nghĩa quan trọng để chúng ta đẩy mạnh triển khai chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương.
Thứ ba, nổi bật nhất trong 20 năm tham gia APEC phải kể đến việc Việt Nam là một trong số không nhiều thành viên đã hai lần đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC, vào các năm 2006 và 2017. Với vai trò chủ trì của Việt Nam, tại Tuần lễ Cấp cao tháng 11/2006 tại thủ đô Hà Nội, lần đầu tiên các nhà Lãnh đạo APEC đã xác định triển vọng hướng tới hình thành Khu vực Thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP). Đây là dấu ấn quan trọng, đặt nền móng cho tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế toàn khu vực. Cùng với đó, Chương trình Hành động Hà Nội nhằm thực hiện các Mục tiêu Bô-go, Gói biện pháp tổng thể cải cách APEC, các cam kết hợp tác về an ninh con người, phát triển nguồn nhân lực, cải cách cơ cấu, hỗ trợ các thành viên đang phát triển nâng cao năng lực hội nhập... cũng được đánh giá là những giải pháp kịp thời, hữu hiệu cho những vấn đề APEC phải đối mặt tại thời điểm đó. Sau 11 năm, chúng ta tiếp tục được các thành viên tín nhiệm lựa chọn đăng cai APEC lần thứ hai trong bối cảnh năm 2017 được đánh giá là một trong những thời điểm khó khăn nhất đối với Diễn đàn, với sự nổi lên mạnh mẽ của chủ nghĩa bảo hộ, dân túy, chống toàn cầu hóa cũng như các thách thức về biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội, già hóa dân số… Ta đã tổ chức thành công xuất sắc Năm APEC 2017 với đỉnh cao là Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 25 (TLCC APEC 25) tại thành phố Đà Nẵng. Tuyên bố Hội nghị Cấp cao APEC 25 (AELM 25) và Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế lần thứ 29 (AMM 29) cùng các văn kiện kèm theo đã góp phần giữ vững đà hợp tác, liên kết, duy trì giá trị cốt lõi APEC về thúc đẩy thương mại và đầu tư tự do và mở và ủng hộ hệ thống thương mại đa phương. Vai trò và đóng góp của Việt Nam được đặc biệt đề cao khi chúng ta đảm nhiệm vị trí Giám đốc điều hành Ban Thư ký APEC (năm 2005 - 2006), Chủ tịch/Phó Chủ tịch nhiều Ủy ban và nhiều Nhóm công tác chủ chốt, chủ trì khởi xướng thảo luận về xây dựng Tầm nhìn mới cho Diễn đàn APEC sau năm 2020. 
Thứ tư, tham gia APEC và thực hiện các sáng kiến về mở cửa thương mại, đầu tư, tạo điều kiện kinh doanh góp phần tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước, từng bước hoàn thiện thể chế chính sách, quy định phù hợp với các cam kết quốc tế. Tham gia sân chơi APEC tạo tiền đề để Việt Nam tham gia vào những sân chơi rộng lớn và có mức độ cam kết hơn hơn như WTO, các FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao. Việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng là đòn bẩy để hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm khiết, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Thứ năm, là thành viên đang phát triển trong APEC, Việt Nam đã đề xuất thực hiện cũng như hưởng lợi từ các chương trình xây dựng năng lực và hỗ trợ kỹ thuật. Một trong ba trụ cột chính của APEC là hợp tác kinh tế và kỹ thuật (ECOTECH), hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển nâng cao năng lực, cải cách kinh tế và hội nhập khu vực, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển. Việc triển khai các sáng kiến cùng các dự án hỗ trợ của APEC đã góp phần nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, tăng cường kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập. 
Cuối cùng, diễn đàn APEC mang đến những tiềm năng và cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đối thoại giữa các nhà Lãnh đạo APEC với Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC) và Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC hàng năm là dịp quan trọng để cộng đồng doanh nghiệp đề xuất khuyến nghị lên các nhà Lãnh đạo, chủ động tham gia đóng góp xây dựng chính sách liên kết kinh tế khu vực, đồng thời tạo khuôn khổ để doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các tập đoàn hàng đầu thế giới. APEC cũng hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong tiếp cận thị trường, hưởng môi trường đầu tư, kinh doanh và điều kiện đi lại thuận lợi, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược, tiếp cận công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến.
4) Hội nhập trong khuôn khổ ASEM
Được thành lập cách đây 22 năm (1996), ASEM đã phát triển vượt lên kỳ vọng ban đầu, khẳng định là cơ chế đối thoại và hợp tác quan trọng, có quy mô lớn nhất giữa hai châu lục, thúc đẩy xu thế hợp tác, liên kết đa tầng nấc vì hòa bình và phát triển. ASEM đã và đang là nhân tố quan trọng góp phần định hình cục diện thế giới trong thế kỷ 21. Thời gian qua, Diễn đàn đang chuyển mình với những nội hàm hợp tác và liên kết sâu rộng, từng bước mang lại lợi ích thiết thân cho các thành viên trong nỗ lực duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, phục hồi kinh tế, ứng phó các thách thức toàn cầu. Vượt qua nhiều rào cản và khác biệt, ASEM ngày nay trở thành đại gia đình với 53 thành viên.
Là một trong những thành viên sáng lập ASEM, Việt Nam luôn phát huy vai trò chủ động tham gia hợp tác Á-Âu trên cả 3 lĩnh vực: đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác khác. Việc tham gia ASEM tạo thêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, hỗ trợ cho quan hệ song phương, đẩy mạnh ngoại giao đa phương; tranh thủ khả năng hợp tác thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hóa, giáo dục - đào tạo phục vụ các yêu cầu phát triển đất nước:
Thứ nhất, ASEM là nơi hội tụ 19 trong số 26 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam, chiếm khoảng 70% đầu tư trực tiếp nước ngoài, 70% tổng giá trị thương mại quốc tế và 80% lượng khách du lịch quốc tế. 14 trong 16 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký hoặc đang đàm phán là với các đối tác ASEM (trong số 60 đối tác có 47 thành viên ASEM). Những con số này phản ánh phần nào ý nghĩa và vai trò của các thành viên ASEM đối với bức tranh tổng thể kinh tế Việt Nam, nhất là trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý cao, từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
Thứ hai, trong bối cảnh môi trường hòa bình, an ninh trên thế giới và khu vực đứng trước nhiều thách thức, cạnh tranh giữa các nước lớn phức tạp, chúng ta đã phối hợp chặt chẽ với các thành viên ASEAN để ngày càng có nhiều thành viên đề cao lợi ích chung trong duy trì hòa bình, an ninh và ổn định để phát triển, lên tiếng ủng hộ lập trường chính nghĩa của ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ…
Thứ ba, chiếm 24 trong số 25 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam, ASEM là diễn đàn quan trọng để Việt Nam đa phương hóa. Các thỏa thuận quan trọng mà ta đạt được nhân dịp các Hội nghị Cấp cao ASEM như thỏa thuận với EU về việc Việt Nam gia nhập WTO, ký tắt Hiệp định Đối tác và Hợp tác với EU tại Hội nghị ASEM 8, Tuyên bố định hướng kết thúc đàm phán FTA Việt Nam - EU bên lề Hội nghị Cấp cao ASEM 11 năm 2018 là một số ví dụ.
Thứ tư, thông qua các cơ chế hợp tác về quản lý và giảm thiểu rủi ro thiên tai, Đối thoại ASEM về phát triển bền vững với trọng tâm là hợp tác Mekong - Danube, các Bộ, ngành, địa phương đã tranh thủ kinh nghiệm và hỗ trợ thiết thực của các thành viên ASEM trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước gắn với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. EU khẳng định hỗ trợ các nước hạ nguồn Mekong, cam kết tài trợ 1,7 tỷ Euro cho các chương trình của Mekong trong giai đoạn 2014 - 2020, Trung Quốc cam kết hợp tác, ủng hộ các hình thức hỗ trợ phát triển cho các nước hạ lưu sông Mekong, các dự án hợp tác của Hungary, Hà Lan, Italy, Đức, ở ĐBSCL... là những minh chứng sinh động. Kênh hợp tác địa phương đầu tiên trong ASEM giữa Bến Tre và Tulcea (Romania), Cần Thơ và Ruse (Bulgaria) mở ra triển vọng tham gia hợp tác thực chất, hiệu quả của các địa phương trong hợp tác ASEM.
Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với ASEAN và các thành viên khác trao đổi tìm ra phương cách phù hợp làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác toàn diện Á - Âu; chủ động “đóng góp, xây dựng và định hình”, đề xuất giải pháp cho các vấn đề lớn của ASEM như vấn đề mở rộng thành viên, củng cố cơ chế hoạt động, thúc đẩy hiệu quả của Nhóm hợp tác chuyên ngành…; Tranh thủ các thành viên thúc đẩy các quan tâm chung của ASEM, đồng thời là lợi ích của Việt Nam như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, ứng phó thiên tai… Đồng thời, nâng cao nhận thức về vai trò ASEM, tăng cường phối hợp liên ngành, cải tiến, đổi mới cơ chế thông tin, phối hợp giữa các Bộ, ban ngành với địa phương, doanh nghiệp để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong chủ trương và triển khai các hoạt động ASEM.
5) Tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong bối cảnh hệ thống thương mại đa biên đang gặp phải những khó khăn nhất định, sự phát triển hợp tác kinh tế song phương và khu vực, thể hiện qua việc hình thành các FTA là một sự bổ trợ quan trọng cho mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư đa phương trên phạm vi toàn cầu hiện nay. Việc hình thành các FTA với mức độ tự do hoá sâu rộng đã và đang đem lại những cơ hội và cả thách thức không nhỏ đối với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc mà cần phải chủ động nắm bắt xu thế FTA, tham gia có lựa chọn để nắm bắt cơ hội tiếp cận thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác quan trọng. 
Cho tới thời điểm hiện nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 12 FTA gồm: 7 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN (CEPT/AFTA và FTA với các đối tác: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Niu Dilân, Hồng Kông); 5 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập (với các đối tác: Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu, và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP). Hiện chúng ta đang đàm phán 3 FTA, gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA với Khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA), FTA Việt Nam - I-xra-en. FTA với Liên minh Châu Âu (EU) đã hoàn tất rà soát pháp lý và chuẩn bị tiến tới ký kết.
Việc Việt Nam ký kết các FTA song phương và đa phương đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận được thị trường khu vực và thị trường toàn cầu,cũng như được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn. Bởi phần lớn các rào cản và điều kiện trong buôn bán đã được cam kết dỡ bỏ, chủ yếu là các hàng rào thuế quan (hầu hết về 0% hoặc dưới 5%) đã mang lại một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng sáng lạn cho nhiều ngành sản xuất hàng hóa của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động trong các Công ty có hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, các rào cản về thủ tục pháp lý đồng thời cũng được giảm thiểu và tối giản hơn, tạo điều kiện để Doanh nghiệp bước ra thị trường quốc tế. Ngoài ra, khi gia nhập và ký kết vào các Hiệp định về thương mại hàng hóa kể trên, Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường (đặc biệt đối với đầu tư từ các nước đối tác CPTPP) và bảo vệ quyền lợi cho người lao động nước nhà tốt hơn.
Việt Nam được hưởng ưu đãi theo các FTA, lượng vốn đầu tư vào Việt Nam sẽ gia tăng, thu hút được các lao động trí thức, có tay nghề cao từ nước ngoài tới Việt Nam làm việc, các doanh nghiệp cũng có cơ hội tiếp thu với khoa học công nghệ – kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển. Nói cách khác, nhờ tham gia các FTA mà doanh nghiệp có thêm cơ hội tranh thủ được vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ và các nguồn lực quan trọng khác từ nước ngoài để phát triển. Lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn là tiềm năng phát triển trong tương lai.
Tuy nhiên, khi tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA), Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn như:
Một là, khi thị trường mở rộng, các công ty của nước ngoài cũng sẽ có những cơ hội thuận lợi để thâm nhập thị trường trong nước. Đặt trên cán cân, rõ ràng các doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế nguồn lực như vốn, trình độ sản xuất và quản lý, kinh nghiệm thương trường lớn mạnh hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong nước. Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ không đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, dễ bị cạnh tranh, khó phát triển.
Hai là, về vấn đề rào cản kỹ thuật và yêu cầu về xuất xứ hàng hóa nghiêm ngặt. Đối với các FTA Việt Nam mới ký kết, gia nhập gần đây thì các quy tắc xuất xứ đều theo xu hướng là gia tăng giá trị tại Việt Nam trong khu vực các nước tham gia FTA. Đây là một bất lợi vì Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên phụ liệu về nước để gia công hàng xuất khẩu, cho nên nếu không chuyển vùng nguyên liệu từ nhập khẩu sang trong nước cung cấp, hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không được hưởng các ưu đãi thuế. Ngoài ra, các quy định kỹ thuật như bao gói, nhãn mác, dư lượng hóa chất tối đa trong sản phẩm xuất khẩu cũng là một rào cản cho hàng xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt là hàng nông sản của Việt Nam có thể bị mắc ở rào cản về các biện pháp vệ sinh dịch tễ. Việc quy định các tiêu chuẩn này thuộc quyền của nước nhập khẩu, do vậy khó lòng ngăn cản nước nhập khẩu lạm dụng các quy định về tiêu chuẩn này để làm rào cản ngăn hàng hóa Việt Nam xâm nhập vào thị trường nước họ.
Ba là, ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics ở Việt Nam chưa phát triển mạnh nên chi phí của nền kinh tế sẽ còn cao so với các quốc gia khác. Trước mắt, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải vượt qua những trở ngại về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng quản trị quốc gia của Chính phủ, về môi trường cạnh tranh quốc gia và một số vấn đề an sinh xã hội…



PV (Theo báo cáo của Bộ Công thương)


Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết