Thứ Hai, ngày 30 tháng 03 năm 2026

Giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Ngày phát hành: 30/03/2026 Lượt xem 36

 

1. Đặt vấn đề

 

Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu, quản trị môi trường ngày càng cần sự tham gia của nhiều chủ thể, đặc biệt là cộng đồng. Các nghiên cứu về quản trị công cho thấy khi người dân được tham gia, chính sách sẽ hiệu quả hơn, chính quyền có trách nhiệm giải trình tốt hơn và các giải pháp cũng sát với nhu cầu thực tế của địa phương. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực môi trường, bởi phần lớn các hoạt động tác động đến môi trường diễn ra ngay tại cộng đồng và gắn chặt với đời sống, sinh kế của người dân.

 

 

Bài viết dựa trên kết quả khảo sát 1.636 người dân tại 16 xã, phường thuộc bốn tỉnh, thành phố Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Cần Thơ cho thấy nhận thức của cộng đồng về vai trò tham gia trong quản trị môi trường khá cao. Có tới 85,2% người được hỏi cho rằng người dân cần tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này cho thấy sự đồng thuận xã hội khá rõ ràng về vai trò của người dân trong chu trình chính sách môi trường. Tuy nhiên, nhận thức tích cực này chưa phải lúc nào cũng đi kèm với mức độ tham gia thực tế của người dân trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách[4].

 

Phân tích dữ liệu khảo sát cho thấy sự tham gia của người dân hiện nay chủ yếu tập trung ở các hoạt động mang tính cộng đồng trong giai đoạn thực thi chính sách, như tuyên truyền, vận động người thân thực hiện các quy định về môi trường hoặc tham gia khắc phục hậu quả thiên tai. Trong khi đó, các hình thức tham gia có tính chất chủ động và mang tính chính sách hơn, như hiến kế giải pháp, phản biện chính sách hoặc tham gia xây dựng các mô hình quản trị môi trường cộng đồng, lại có tần suất thấp hơn đáng kể. Giá trị trung bình của các hoạt động phản biện chính sách và đề xuất giải pháp chỉ dao động quanh mức “thỉnh thoảng” theo thang đo Likert, phản ánh khoảng cách đáng kể giữa tiềm năng tham gia của cộng đồng và các cơ chế thể chế hiện có.

 

Những phát hiện này tương đối phù hợp với cách tiếp cận của lý thuyết “thang bậc tham gia công dân” của  Arnstein. Theo khung phân tích này, sự tham gia của người dân có thể được phân thành nhiều cấp độ khác nhau, từ cung cấp thông tin và tham vấn cho đến đồng kiến tạo và kiểm soát chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các hình thức tham gia của người dân trong quản trị môi trường tại các địa phương khảo sát hiện vẫn chủ yếu dừng lại ở các nấc trung bình của thang tham gia, chủ yếu ở mức được cung cấp thông tin hoặc được huy động tham gia vào các hoạt động thực thi, trong khi các hình thức tham gia mang tính đồng quyết định hoặc giám sát chính sách vẫn còn tương đối hạn chế.

 

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt nhất định giữa các nhóm xã hội trong mức độ tham gia chính sách môi trường. Các nhóm nghề nghiệp có điều kiện tiếp cận thông tin chính sách tốt hơn, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức, có tỷ lệ đồng thuận và tham gia cao hơn so với các nhóm nghề nghiệp khác. Điều này cho thấy năng lực tiếp cận thông tin và hiểu biết chính sách là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tham gia của người dân trong chu trình chính sách môi trường.

 

Nhìn tổng thể, những kết quả nghiên cứu trên cho thấy quản trị môi trường tại cấp địa phương ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý tương đối phổ biến: trong khi nhận thức xã hội về vai trò của người dân trong bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao, thì các cơ chế thể chế và điều kiện thực tiễn để chuyển hóa nhận thức đó thành sự tham gia thực chất vẫn chưa được thiết lập đầy đủ. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải thiết kế các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm mở rộng không gian tham gia của người dân trong chu trình chính sách môi trường, từ giai đoạn hoạch định, thực thi cho đến giám sát và đánh giá chính sách.

 

Từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của nghiên cứu, cũng như các khung lý thuyết về quản trị có sự tham gia và dân chủ thảo luận, trong phạm vi bài viết sẽ tập trung đề xuất các nhóm giải pháp chính sách nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

 

2. Một số giải pháp

 

(1) Hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách để thúc đẩy sự tham gia của người dân trong quản trị môi trường

 

Thực tiễn cho thấy, để thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân trong quản trị môi trường một cách hiệu quả là xây dựng và hoàn thiện khung thể chế phù hợp. Trong cách tiếp cận của quản trị có sự tham gia (Participatory Governance), thể chế không chỉ đóng vai trò tạo ra các quy tắc chính thức cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách mà còn xác lập các điều kiện và cơ chế để các chủ thể xã hội, đặc biệt là cộng đồng dân cư, có thể tham gia vào các quyết định công có liên quan trực tiếp đến đời sống của họ. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, điều này càng có ý nghĩa quan trọng bởi các chính sách thường tác động trực tiếp đến sinh kế, sức khỏe và môi trường sống của cộng đồng.

 

Dữ liệu điều tra tại bốn địa phương nghiên cứu cho thấy, mặc dù nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sự tham gia trong quản trị môi trường khá cao, song các cơ chế thể chế hiện có vẫn chưa thực sự tạo điều kiện để người dân tham gia một cách chủ động và có ảnh hưởng thực chất đến các quyết định chính sách. Phần lớn các hình thức tham gia hiện nay vẫn mang tính huy động cộng đồng trong giai đoạn thực thi, trong khi sự tham gia ở các khâu hoạch định và phản biện chính sách còn khá hạn chế. Điều này cho thấy cần sớm hoàn thiện khung thể chế nhằm mở rộng không gian tham gia của người dân trong toàn bộ chu trình chính sách môi trường.

 

 

Một là, cần thể chế hóa rõ ràng hơn vai trò và quyền tham gia của người dân trong các giai đoạn của chu trình chính sách môi trường, bao gồm hoạch định, thực thi, giám sát và đánh giá chính sách. Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù các văn bản pháp luật của Việt Nam đã có những quy định nhất định về dân chủ cơ sở và tham vấn cộng đồng trong lĩnh vực môi trường, song các quy định này vẫn còn mang tính nguyên tắc và chưa được cụ thể hóa đầy đủ trong các quy trình xây dựng và thực thi chính sách ở cấp địa phương.

 

Với cách tiếp cận của Arnstein về “thang bậc tham gia”, sự tham gia của người dân không chỉ dừng ở việc được cung cấp thông tin hay được hỏi ý kiến mà cần tiến tới các mức cao hơn, nơi người dân có thể cùng thảo luận và tham gia xây dựng chính sách. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy dù 85,2% cho rằng người dân cần tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, nhưng sự tham gia thực tế vẫn chủ yếu tập trung ở các hoạt động cộng đồng trong giai đoạn thực thi, như tuyên truyền vận động (97,9%) và tham gia cùng cộng đồng khắc phục thiên tai (97,6%). Trong khi đó, các hoạt động mang tính chính sách hơn như phản biện hoặc đề xuất giải pháp chỉ diễn ra ở mức thỉnh thoảng, với điểm trung bình khoảng 2,9–3,0 trên thang đo 5 mức. Điều này cho thấy cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế minh bạch và thhaan thiện chính sách để mở rộng sự tham gia thực chất của người dân trong toàn bộ chu trình chính sách môi trường

 

Hai là, cần thiết lập các cơ chế tham vấn chính sách mang tính thường xuyên, định kỳ giữa chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư. Trong mô hình quản trị có sự tham gia, các cơ chế đối thoại này đóng vai trò là cầu nối giữa nhà nước và xã hội, giúp tạo ra các diễn đàn thảo luận công khai và minh bạch về các vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

 

Kết quả khảo sát cho thấy một rào cản lớn đối với sự tham gia của người dân là thiếu những kênh chính thức để họ bày tỏ ý kiến hoặc đề xuất sáng kiến chính sách. Trong nhiều trường hợp, người dân chỉ tham gia qua các phong trào hoặc hoạt động cộng đồng, trong khi các diễn đàn đối thoại chính sách thường xuyên giữa chính quyền và người dân vẫn còn khiêm tốn.

 

Để khắc phục tình trạng này, các địa phương nên chăng xây dựng các nội dung  thảo luận về môi trường ở cấp cộng đồng, nơi người dân, chính quyền và các tổ chức xã hội có thể cùng trao đổi về các vấn đề môi trường đang nổi lên. Đa dạng hóa các hình thức như hội nghị thảo luận cộng đồng, hội thảo tham vấn chính sách hoặc các nền tảng trao đổi trực tuyến. Việc duy trì các kênh đối thoại như vậy không chỉ giúp chính quyền minh bạch hơn và nâng cao trách nhiệm giải trình, mà còn tạo cơ hội để người dân nâng cao hiểu biết và khả năng tham gia vào quá trình xây dựng chính sách thông qua thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm.

 

 Ba là, các nghiên cứu đều chỉ ra yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong quản trị môi trường là mức độ minh bạch của thông tin chính sách và dữ liệu môi trường. Trong nhiều trường hợp, sự hạn chế trong tiếp cận thông tin khiến người dân gặp khó khăn trong việc hiểu rõ các vấn đề môi trường cũng như các chính sách liên quan, từ đó làm giảm khả năng tham gia của họ trong các quá trình ra quyết định.

 

Thực tế cho thấy minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự tham gia có ý nghĩa của công dân. Khi người dân có đầy đủ thông tin về các vấn đề môi trường, họ sẽ có cơ sở để đưa ra các ý kiến đóng góp và giám sát hiệu quả hơn việc thực thi chính sách.

 

Do đó, cần thiết lập các cơ chế công khai thông tin môi trường một cách minh bạch và dễ tiếp cận đối với cộng đồng. Điều này bao gồm việc công bố các dữ liệu về chất lượng môi trường, các báo cáo đánh giá tác động môi trường, cũng như các kế hoạch và chương trình hành động liên quan đến bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

 

Bên cạnh đó, cần tăng cường các cơ chế trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong quản trị môi trường. Các cơ quan quản lý cần xây dựng các kênh tiếp nhận phản ánh và kiến nghị của người dân về các vấn đề môi trường, đồng thời bảo đảm các phản ánh này được xử lý một cách minh bạch và kịp thời. Việc tăng cường trách nhiệm giải trình không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường mà còn củng cố niềm tin của người dân đối với các cơ quan công quyền.

 

(2) Đầu tư phát triển hạ tầng thông tin và công nghệ phục vụ quản trị môi trường có sự tham gia

 

Kết quả khảo sát 1.636 người dân tại 4 tỉnh (ILPA and RLS, 2025) cho thấy khả năng tiếp cận thông tin môi trường và thông tin chính sách có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tham gia của cộng đồng. Những nhóm người có khả năng tiếp cận thông tin tốt hơn thường thể hiện mức độ quan tâm và sẵn sàng tham gia cao hơn trong các hoạt động liên quan đến bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nhiều người dân vẫn cho rằng thông tin về môi trường và chính sách môi trường chưa được cung cấp đầy đủ hoặc chưa được truyền tải theo những hình thức dễ tiếp cận đối với cộng đồng. Điều này cho thấy việc tăng cường phát triển các hệ thống thông tin minh bạch và thân thiện với người dùng là một điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự tham gia của người dân.

 

 Một là, một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong quản trị môi trường là xây dựng các hệ thống thông tin môi trường minh bạch, dễ tiếp cận và có tính cập nhật cao. Trong nhiều trường hợp, người dân không tham gia vào các hoạt động giám sát hoặc phản biện chính sách không phải vì thiếu quan tâm mà vì họ thiếu thông tin hoặc không có điều kiện tiếp cận các dữ liệu cần thiết.

 

Do đó, các địa phương cần xây dựng và vận hành các cổng thông tin môi trường công khai, cung cấp các dữ liệu cơ bản về chất lượng môi trường, tình trạng ô nhiễm, các dự án có nguy cơ tác động đến môi trường cũng như các kế hoạch và chương trình hành động về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các hệ thống thông tin này cần được thiết kế theo hướng thân thiện với người dùng, sử dụng các hình thức trực quan như bản đồ môi trường, bảng dữ liệu trực tuyến hoặc các báo cáo tóm tắt dễ hiểu để giúp người dân có thể nhanh chóng nắm bắt các thông tin quan trọng.

 

Việc công khai dữ liệu môi trường không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch trong quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện để cộng đồng tham gia giám sát các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Khi người dân có thể tiếp cận các dữ liệu môi trường một cách dễ dàng, họ sẽ có cơ sở để đưa ra các phản ánh, kiến nghị hoặc sáng kiến chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương.

 

Hai là, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong các hoạt động giám sát môi trường dựa vào cộng đồng. Các nền tảng công nghệ nếu được sử dụng hiệu quả để kết nối người dân với các cơ quan quản lý môi trường, qua đó giúp phát hiện sớm các vấn đề ô nhiễm và nâng cao hiệu quả quản lý.

 

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng chính phủ số và xã hội số, các địa phương có thể phát triển các ứng dụng di động hoặc nền tảng trực tuyến cho phép người dân phản ánh các vấn đề môi trường như xả thải trái phép, ô nhiễm nguồn nước hoặc các hành vi vi phạm quy định bảo vệ môi trường. Các phản ánh của người dân có thể được tích hợp vào hệ thống quản lý của các cơ quan chức năng, giúp rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả giám sát môi trường.

 

Mô hình giám sát môi trường dựa vào cộng đồng thông qua công nghệ số cũng phù hợp với cách tiếp cận của quản trị có sự tham gia, trong đó người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là những chủ thể tích cực tham gia vào quá trình phát hiện và giải quyết các vấn đề môi trường. Việc kết hợp giữa công nghệ và sự tham gia của cộng đồng có thể tạo ra một mạng lưới giám sát rộng khắp, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường ở cấp địa phương.

 

Ba là, phát triển các nền tảng dữ liệu mở về môi trường. Dữ liệu mở cho phép người dân, các tổ chức xã hội và các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận và sử dụng các dữ liệu môi trường để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp chính sách.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường ngày càng phức tạp, việc chia sẻ dữ liệu một cách minh bạch và rộng rãi sẽ giúp thúc đẩy sự hợp tác giữa các chủ thể trong xã hội. Các tổ chức xã hội, các nhóm cộng đồng và các nhà khoa học có thể sử dụng các dữ liệu này để xây dựng các sáng kiến môi trường hoặc đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện địa phương.

 

Việc phát triển các nền tảng dữ liệu mở cũng giúp nâng cao chất lượng thảo luận chính sách trong xã hội. Khi người dân có quyền tiếp cận các dữ liệu môi trường đáng tin cậy, các cuộc thảo luận về chính sách môi trường sẽ trở nên dựa trên bằng chứng hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của quá trình hoạch định chính sách.

 

 

(3) Tăng cường nâng cao nhận thức và năng lực tham gia của người dân.

 

Sự tham gia của người dân trong các chính sách công, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, không chỉ phụ thuộc vào các cơ chế thể chế mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ nhận thức, kiến thức và kỹ năng tham gia chính sách của công dân.

 

Kết quả khảo sát 1.636 người dân trong nghiên cứu cho thấy phần lớn người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tỷ lệ người được hỏi đồng ý rằng người dân cần tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách môi trường đạt trên 85%. Tuy nhiên, mức độ tham gia thực tế của người dân trong các hoạt động mang tính chính sách, như góp ý xây dựng chính sách hoặc phản biện các quyết định quản lý môi trường, vẫn còn tương đối hạn chế. Điều này cho thấy mặc dù nhận thức chung về vai trò tham gia của cộng đồng đã được nâng cao, song năng lực và điều kiện để người dân tham gia một cách chủ động và hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức và năng lực tham gia của cộng đồng cần được xem là một trong những nhóm giải pháp trọng tâm trong chiến lược thúc đẩy quản trị môi trường có sự tham gia.

 

Một là, giải pháp đầu tiên là đẩy mạnh các hoạt động giáo dục và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh các thách thức môi trường ngày càng phức tạp và có tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, việc nâng cao hiểu biết của người dân về các vấn đề môi trường không chỉ giúp thay đổi hành vi cá nhân mà còn tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực hơn vào các hoạt động quản trị môi trường.

Các chương trình truyền thông môi trường cần được thiết kế theo hướng đa dạng hóa hình thức và nội dung, phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội. Bên cạnh các kênh truyền thông truyền thống như báo chí và truyền hình, cần tận dụng mạnh mẽ các nền tảng truyền thông số và mạng xã hội để truyền tải các thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Ngoài ra, giáo dục môi trường cần được lồng ghép một cách hệ thống trong các chương trình giáo dục ở các cấp học, nhằm hình thành nhận thức và trách nhiệm môi trường cho thế hệ trẻ. Việc xây dựng văn hóa môi trường trong xã hội không chỉ góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng mà còn tạo nền tảng cho sự tham gia bền vững của người dân trong các hoạt động quản trị môi trường.

 

Hai là, chú trọng phát triển các chương trình đào tạo và nâng cao năng lực tham gia chính sách cho cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, người dân có thể nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia nhưng lại thiếu các kỹ năng cần thiết để tham gia hiệu quả vào các quá trình thảo luận và phản biện chính sách.

 

Do đó, các địa phương cần tổ chức các chương trình tập huấn và đào tạo cho cộng đồng về các kỹ năng tham gia chính sách, như kỹ năng phân tích vấn đề môi trường, kỹ năng thảo luận và đối thoại chính sách, cũng như kỹ năng giám sát việc thực thi các quy định bảo vệ môi trường. Các chương trình đào tạo này có thể được triển khai thông qua sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và các cơ sở nghiên cứu.

 

Việc nâng cao năng lực tham gia chính sách của cộng đồng không chỉ giúp người dân đóng góp hiệu quả hơn vào quá trình hoạch định chính sách mà còn góp phần hình thành một cộng đồng công dân tích cực, có khả năng tham gia vào các hoạt động quản trị công ở cấp địa phương.

 

Ba là, Một khía cạnh quan trọng khác cần được chú trọng là xây dựng văn hóa tham gia trong xã hội. Trong nhiều trường hợp, sự tham gia của người dân trong các chính sách công không chỉ phụ thuộc vào các cơ chế thể chế hoặc năng lực cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng từ các chuẩn mực xã hội và văn hóa cộng đồng.

 

Việc phát triển văn hóa tham gia cần được thúc đẩy thông qua các hoạt động cộng đồng và các phong trào xã hội nhằm khuyến khích người dân chủ động tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Các mô hình cộng đồng như tổ tự quản môi trường, khu dân cư xanh – sạch – đẹp hoặc các sáng kiến cộng đồng về bảo vệ môi trường có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố các chuẩn mực xã hội tích cực liên quan đến trách nhiệm môi trường.

 

Trong dài hạn, việc xây dựng văn hóa tham gia không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của các chính sách bảo vệ môi trường mà còn góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trong quản trị công, trong đó người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là những chủ thể tích cực tham gia vào quá trình ra quyết định công.

 

(4) Huy động nguồn lực xã hội và phát triển các mô hình cộng đồng

 

Kết quả khảo sát trong nghiên cứu cũng cho thấy người dân có xu hướng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động bảo vệ môi trường khi các hoạt động này được tổ chức thông qua các tổ chức cộng đồng hoặc các phong trào xã hội ở cấp cơ sở. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các thiết chế xã hội và các mô hình cộng đồng trong việc tạo điều kiện và động lực cho sự tham gia của người dân trong quản trị môi trường.

 

Một là, một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong các chính sách bảo vệ môi trường là phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội và các thiết chế tự quản cộng đồng ở cấp cơ sở. Trong hệ thống quản trị ở Việt Nam, các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân và các tổ chức đoàn thể khác có mạng lưới rộng khắp và có khả năng tiếp cận trực tiếp với các nhóm dân cư.

 

Các tổ chức này có thể đóng vai trò là cầu nối giữa chính quyền và cộng đồng trong việc truyền tải thông tin chính sách, vận động người dân tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và giám sát việc thực thi các quy định về môi trường ở địa phương. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động và tổ chức các phong trào cộng đồng, các tổ chức chính trị – xã hội có thể góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành vi bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

 

Bên cạnh đó, cần khuyến khích và hỗ trợ sự phát triển của các thiết chế tự quản cộng đồng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, như các tổ tự quản môi trường, các nhóm cộng đồng giám sát môi trường hoặc các mạng lưới cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu. Các thiết chế này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc huy động sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở và tạo ra các cơ chế giám sát xã hội đối với các hoạt động có nguy cơ gây tác động đến môi trường.

 

Hai là, Phát triển các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Một hướng đi quan trọng khác nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân là phát triển và nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Trong nhiều địa phương, các mô hình cộng đồng như khu dân cư xanh – sạch – đẹp, các nhóm tự quản về thu gom rác thải hoặc các sáng kiến cộng đồng về bảo vệ nguồn nước đã cho thấy hiệu quả trong việc huy động sự tham gia của người dân.

 

Các mô hình cộng đồng này có ưu điểm là gắn trực tiếp với nhu cầu và điều kiện cụ thể của địa phương, đồng thời tạo ra không gian để người dân cùng nhau thảo luận và tìm kiếm các giải pháp phù hợp đối với các vấn đề môi trường ở cấp cơ sở. Thông qua các hoạt động cộng đồng, người dân không chỉ đóng vai trò là người thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường mà còn có cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến quản lý môi trường ở địa phương.

Để phát huy hiệu quả của các mô hình cộng đồng, chính quyền địa phương cần có các cơ chế hỗ trợ phù hợp, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp thông tin và tạo điều kiện để các mô hình này có thể kết nối với các chương trình và chính sách môi trường ở cấp địa phương.

 

Ba là, Ngoài việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và các mô hình cộng đồng, cần thúc đẩy việc huy động các nguồn lực xã hội cho các sáng kiến bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở cấp địa phương. Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách cho các hoạt động môi trường còn hạn chế, việc huy động sự tham gia của khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội và cộng đồng có thể tạo ra những nguồn lực bổ sung quan trọng cho các chương trình môi trường.

 

Một trong những hướng đi khả thi là khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp trong các sáng kiến bảo vệ môi trường thông qua các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoặc các mô hình hợp tác công – tư trong quản lý môi trường. Các doanh nghiệp có thể đóng góp nguồn lực tài chính, công nghệ hoặc kinh nghiệm quản lý để hỗ trợ các sáng kiến môi trường ở địa phương.

 

Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ và các nhóm cộng đồng trong việc triển khai các dự án môi trường quy mô nhỏ ở cấp địa phương. Các sáng kiến này có thể tập trung vào các lĩnh vực như quản lý rác thải, bảo vệ nguồn nước, phục hồi hệ sinh thái hoặc thích ứng với các rủi ro thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu.

 

Việc huy động nguồn lực xã hội không chỉ giúp tăng cường nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ môi trường mà còn góp phần tạo ra các mạng lưới hợp tác đa chủ thể trong quản trị môi trường. Thông qua các mạng lưới này, người dân, chính quyền và các tổ chức xã hội có thể cùng nhau chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề môi trường một cách hiệu quả và bền vững.

 

(5) Tăng cường phối hợp đa chủ thể trong quản trị môi trường

 

Trong bối cảnh các thách thức môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp và mang tính liên ngành, quản trị môi trường không thể chỉ dựa vào vai trò của nhà nước mà cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Cách tiếp cận quản trị có sự tham gia (Participatory Governance) nhấn mạnh rằng hiệu quả của các chính sách môi trường phụ thuộc lớn vào khả năng thiết lập các cơ chế hợp tác giữa chính quyền, cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.

 

Kết quả khảo sát 1.636 người dân tại bốn địa phương nghiên cứu cho thấy người dân không chỉ mong muốn được tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường mà còn kỳ vọng vào sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể trong xã hội để giải quyết các vấn đề môi trường. Điều này cho thấy nhu cầu hình thành các mô hình quản trị đa chủ thể, trong đó các bên liên quan cùng tham gia vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách môi trường.

 

Một là, một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy quản trị môi trường có sự tham gia là tăng cường cơ chế phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, các vấn đề môi trường phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, trong khi cộng đồng địa phương là nhóm chịu tác động trực tiếp từ các vấn đề này. Do đó, việc thiết lập các cơ chế đối thoại và hợp tác giữa các bên liên quan là điều cần thiết để bảo đảm các quyết định quản lý môi trường được xây dựng trên cơ sở cân nhắc đầy đủ các lợi ích và nhu cầu của các nhóm khác nhau.

 

Các địa phương cần thiết lập các cơ chế đối thoại ba bên giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng nhằm thảo luận và tìm kiếm các giải pháp đối với các vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Các cơ chế đối thoại này có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, như các hội nghị tham vấn cộng đồng, các diễn đàn đối thoại chính sách hoặc các nhóm công tác liên ngành về môi trường. Việc tăng cường phối hợp giữa các chủ thể không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý môi trường mà còn góp phần tạo ra sự đồng thuận xã hội đối với các quyết định chính sách.

 

Hai là,  Bên cạnh các cơ chế phối hợp đa chủ thể, cần thúc đẩy việc phát triển các mô hình quản trị môi trường dựa vào cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, cộng đồng địa phương có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn phong phú về các vấn đề môi trường tại địa phương, đặc biệt là trong các lĩnh vực như quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ nguồn nước hoặc thích ứng với các rủi ro thiên tai.

 

Việc phát triển các mô hình quản trị môi trường dựa vào cộng đồng cho phép người dân tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định và thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường ở địa phương. Các mô hình này có thể bao gồm các nhóm cộng đồng giám sát môi trường, các tổ chức cộng đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các sáng kiến cộng đồng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Các mô hình quản trị dựa vào cộng đồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của các chính sách môi trường mà còn góp phần tăng cường sự gắn kết xã hội và trách nhiệm của cộng đồng đối với việc bảo vệ môi trường.

 

Ba là, Một yếu tố quan trọng khác trong quản trị môi trường đa chủ thể là sự tham gia của các tổ chức nghiên cứu và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng và triển khai chính sách. Các tổ chức nghiên cứu có thể cung cấp các bằng chứng khoa học và các phân tích chính sách nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định, trong khi các tổ chức xã hội có thể đóng vai trò trung gian trong việc kết nối chính quyền với cộng đồng.

 

Việc thúc đẩy hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức xã hội và cộng đồng có thể góp phần nâng cao chất lượng của các chính sách môi trường thông qua việc tích hợp tri thức khoa học với tri thức địa phương. Đồng thời, sự hợp tác này cũng giúp tăng cường năng lực tham gia của cộng đồng trong các quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

 

Kết luận

 

Trong bối cảnh các thách thức môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, việc tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trở thành một yêu cầu quan trọng đối với quản trị công hiện đại. Kết quả khảo sát 1.636 người dân tại bốn địa phương nghiên cứu cho thấy mặc dù nhận thức của cộng đồng về vai trò tham gia trong quản trị môi trường tương đối cao, song các cơ chế thể chế và điều kiện thực tiễn để thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân vẫn còn nhiều hạn chế.

 

Trên cơ sở các phát hiện thực nghiệm của nghiên cứu và các khung lý thuyết về quản trị có sự tham gia, chương này đã đề xuất một hệ thống các nhóm giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong quản trị môi trường. Các nhóm giải pháp này bao gồm hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách, phát triển hạ tầng thông tin và công nghệ phục vụ quản trị môi trường, nâng cao nhận thức và năng lực tham gia của cộng đồng, huy động nguồn lực xã hội và phát triển các mô hình cộng đồng, cũng như tăng cường phối hợp đa chủ thể trong quản trị môi trường.

 

Việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trong quản trị công, trong đó người dân đóng vai trò là những chủ thể tích cực tham gia vào quá trình ra quyết định công. Trong dài hạn, quản trị môi trường có sự tham gia của cộng đồng có thể trở thành một trong những nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển bền vững tại Việt Nam.

 

Đặng Thị Ánh Tuyết[1], Đinh Quang Hà[2] và TS Nguyễn Thị Hiên[3]

 

Tài liệu tham khảo

  1. Viện Lãnh đạo học và Hành chính công (2025). Thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Báo cáo nghiên cứu thuộc dự án được hỗ trợ bởi Quỹ Rosa-Luxemburg (Rosa-Luxemburg-Stiftung – RLS) tại Việt Nam. Hà Nội.
  2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Quyết định số 383/QĐ-BTNMT ngày 10/02/2025 về việc ban hành Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hà Nội.
  3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2023). Kết quả thực hiện Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) năm 2021–2023. Hà Nội.
  4. Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) (2023). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023. Hà Nội.
  5. Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), VFF-CRT và UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI). Hà Nội.
  6. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2023,2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
  7. Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (2023, 2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
  8. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2023,2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
  9. Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ (2023.2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trườn.
  10. Nhóm nghiên cứu (2024). Biên bản tọa đàm chuyên sâu và phỏng vấn sâu với lãnh đạo địa phương, đại diện thiết chế tự quản và người dân tại Bắc Ninh, Tây Ninh, Quảng Ninh và Thành phố Cần Thơ. Tài liệu lưu hành nội bộ.
  11. Fung, A. (2015). Putting the public back into governance: The challenges of citizen participation and its future. Public Administration Review, 75(4), 513–522.
  12. General Statistics Office of Vietnam. (2021). Statistical Yearbook of Vietnam 2020. Hanoi: Statistical Publishing House.
  13. OECD. (2020). Innovative Citizen Participation and New Democratic Institutions: Catching the Deliberative Wave. Paris: OECD Publishing.
  14. UNDP. (2021). Governance for People and Planet. New York: United Nations Development Programme.
  15. World Bank. (2018). Enhancing Public Participation in Environmental Governance. Washington, DC: World Bank.

[1] PGS,TS. Học viện CTQG Hồ Chí Minh

[2] Học viện Cảnh sát Nhân dân, Bộ Công an

[3] Học viện An Ninh, Bộ Công an

[4] Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, 2025; Báo cáo nghiên cứu thuộc dự án do Quỹ Rosa-Luxemburg-Stiftung (RLS) tại Việt Nam hỗ trợ, Hà Nội

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết