Việc nhận thức đúng đắn mục tiêu, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong điều kiện mới là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa mang tính lý luận cơ bản, vừa có ý nghĩa thực tiễn, chiến lược cấp thiết. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc không chỉ dừng lại ở việc ứng phó với các nguy cơ hiện hữu, mà đòi hỏi phải chủ động phòng ngừa, bảo vệ từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Điều đó đặt ra yêu cầu phải có sự thống nhất cao về nhận thức, làm rõ mục tiêu cần hướng tới và những yêu cầu phải đáp ứng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
Trên tinh thần đó, báo cáo này tiếp cận vấn đề theo định hướng của Văn kiện Đại hội XIV, bắt đầu từ việc làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xác định mục tiêu, yêu cầu; trên cơ sở đó, xác định rõ hệ mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; và cuối cùng là luận giải làm rõ những yêu cầu cơ bản cần thực hiện để hiện thực hóa các mục tiêu đó trong điều kiện mới.

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU, YÊU CẦU XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: bảo vệ Tổ quốc là một quy luật khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Trong xã hội có giai cấp, bảo vệ Tổ quốc thực chất là bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp cầm quyền và của toàn xã hội. Vì vậy, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ là sức mạnh quân sự thuần túy, mà là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, được tổ chức trên nền tảng liên minh giai cấp và sự đoàn kết của toàn dân tộc. V.I. Lê nin đã nêu một luận điểm nổi tiếng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”[1].
Kế thừa và phát triển sáng tạo những nguyên lý đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc thể hiện một cách toàn diện, sâu sắc và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Người khẳng định: “Dựng nước đi đôi với giữ nước” là quy luật tất yếu của dân tộc; bảo vệ Tổ quốc phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, tư tưởng về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân đã trở thành nền tảng lý luận và phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của cách mạng Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”[2]
Có thể nói, mọi xác định về mục tiêu và yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay đều phải xuất phát từ nguyên lý cốt lõi: lấy sức mạnh tổng hợp của toàn dân làm nền tảng, trong đó “thế trận lòng dân” giữ vai trò quyết định.
1.2. Bối cảnh trong nước và quốc tế
Tình hình thế giới và khu vực đang trải qua những biến động sâu sắc, nhanh chóng và khó dự báo, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa dạng, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh”[3]. Trước hết, không gian kinh tế toàn cầu biến động mạnh dưới tác động của cạnh tranh chiến lược, xung đột lợi ích và sự đứt gãy, tái cấu trúc các chuỗi cung ứng. Không gian chính trị quốc tế cũng có những thay đổi nhanh chóng, thậm chí bất ngờ, khi quan hệ giữa các nước lớn vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn. Các thể chế toàn cầu, các cơ chế hợp tác đa phương có xu hướng suy yếu, làm giảm hiệu lực điều phối và xử lý các vấn đề chung, trong khi chủ nghĩa dân tộc, bảo hộ và cạnh tranh quyền lực gia tăng.
Cùng với đó, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và cả phương thức tiến hành chiến tranh. Các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh phi tiếp xúc, chiến tranh mạng… ngày càng trở nên phổ biến, mở rộng không gian và phạm vi của hoạt động quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực… ngày càng gia tăng, tác động trực tiếp đến ổn định và phát triển của các quốc gia.
Ở trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, thế và lực, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo tiền đề quan trọng để củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, những yếu tố bất ổn và thách thức cũng gia tăng; các nguy cơ về “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn tiềm ẩn; các vấn đề xã hội mới nảy sinh trong quá trình phát triển, đặc biệt trong không gian số và kinh tế số, đặt ra những yêu cầu phức tạp hơn đối với nhiệm vụ quốc phòng.
Như vậy, bối cảnh đó đòi hỏi phải chuyển mạnh tư duy bảo vệ Tổ quốc từ ứng phó thụ động sang chủ động, dự báo, phòng ngừa từ sớm, từ xa, đồng thời mở rộng nội hàm bảo vệ Tổ quốc trên cả các không gian truyền thống và phi truyền thống, gắn chặt với yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước trong điều kiện mới.
1.3. Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng, mà phải phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, trong đó phải đảm bảo tăng trưởng hai con số, gắn với chuyển đổi mạnh mẽ mô hình phát triển và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, là yếu tố quyết định nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế. Điều này đồng thời làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và cả phương thức bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi quốc phòng phải thích ứng với những không gian phát triển mới, đặc biệt là không gian số, không gian công nghệ và các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Cùng với đó, yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng không chỉ dừng lại ở việc tham gia, mà còn phải từng bước đóng góp, tham gia xây dựng và định hình các thể chế, luật chơi quốc tế, qua đó bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc từ sớm, từ xa bằng các biện pháp hòa bình. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn, đòi hỏi phải nâng cao năng lực tổng hợp của quốc gia, trong đó có năng lực quốc phòng.
Mặt khác, phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, hướng tới mục tiêu cao nhất là hạnh phúc của con người. Chính yêu cầu này đặt ra nhiệm vụ phải củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, bởi đây không chỉ là nền tảng chính trị – xã hội, mà còn là nguồn sức mạnh nội sinh quyết định trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Tóm lại, trong điều kiện mới, xây dựng nền quốc phòng toàn dân không thể tách rời yêu cầu phát triển đất nước, mà phải được đặt trong chỉnh thể thống nhất: lấy phát triển để tăng cường tiềm lực quốc phòng, đồng thời lấy quốc phòng để bảo vệ vững chắc không gian và thành quả phát triển, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững và hạnh phúc của nhân dân.
II. MỤC TIÊU XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hoá dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước...”[4]. Từ mục tiêu khái quát đó có thể xác định những mục tiêu cụ thể của nền quốc phòng toàn dân theo những nội dung sau:
2.1. Bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc
Trong điều kiện mới, mục tiêu bao trùm, xuyên suốt của việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây không chỉ là nguyên tắc chỉ đạo cơ bản trong hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, mà còn là chuẩn mực cao nhất để đánh giá hiệu quả của mọi hoạt động bảo vệ Tổ quốc.
Lợi ích quốc gia – dân tộc trong giai đoạn hiện nay được thể hiện một cách toàn diện, bao gồm: giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; bảo vệ các lợi ích chiến lược lâu dài trong các không gian phát triển mới như không gian kinh tế, không gian số, không gian biển và các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân. Như vậy, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc không chỉ là bảo vệ những giá trị hiện hữu, mà còn là bảo vệ khả năng phát triển và tương lai của đất nước.
Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết đòi hỏi phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế; giữa bảo vệ và phát triển; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Trong đó, cần kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, an ninh để bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả, bền vững.
Có thể nói, việc xác định bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất có ý nghĩa định hướng toàn bộ nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm mọi hoạt động quốc phòng đều hướng tới một chuẩn mực chung, thống nhất, đồng thời tạo cơ sở để triển khai các mục tiêu cụ thể tiếp theo một cách logic và chặt chẽ.
2.2. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là mục tiêu cốt lõi, xuyên suốt của nền quốc phòng toàn dân. Trong điều kiện mới, mục tiêu này không chỉ đặt ra yêu cầu về ý chí kiên định, mà còn đòi hỏi sự chủ động chiến lược, năng lực dự báo và khả năng xử lý linh hoạt các tình huống phức tạp, không để bị động, bất ngờ trong mọi hoàn cảnh.
Kiên quyết và kiên trì là hai yêu cầu có tính nguyên tắc, thống nhất trong nhận thức và hành động. Kiên quyết thể hiện ở việc giữ vững lập trường, nguyên tắc, không nhân nhượng đối với các vấn đề liên quan đến độc lập, chủ quyền, lợi ích cốt lõi của quốc gia. Kiên trì thể hiện ở sự bền bỉ, linh hoạt trong phương thức đấu tranh, biết kết hợp nhiều hình thức, nhiều biện pháp để bảo vệ chủ quyền một cách hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thể, tránh rơi vào thế đối đầu không cần thiết.
Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ không chỉ diễn ra trên đất liền, trên biển, trên không, mà còn mở rộng sang các không gian mới như không gian mạng, không gian thông tin và các lĩnh vực liên quan đến chủ quyền kinh tế, chủ quyền công nghệ. Điều đó đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ các công cụ chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế với quốc phòng, an ninh, tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc một cách toàn diện, hiệu quả.
Như vậy, mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ là trục “cứng” của nền quốc phòng toàn dân, là cơ sở để xác định các nội dung, nhiệm vụ và phương thức bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, đồng thời gắn kết chặt chẽ với mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.
2.3. Bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng
Bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng là nội dung có ý nghĩa nền tảng, cốt lõi của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Nếu như bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là bảo vệ “hình hài vật chất” của Tổ quốc, thì bảo vệ Đảng, chế độ và Nhân dân chính là bảo vệ “linh hồn” và bản chất chính trị của quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tập trung vào làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Vì vậy, mục tiêu bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ không chỉ đặt ra trong không gian vật chất, mà ngày càng trở nên cấp thiết trên mặt trận tư tưởng, lý luận, truyền thông và không gian mạng.
Bảo vệ Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quốc phòng toàn dân. Đó không chỉ là bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, mà còn là bảo vệ niềm tin, sự đồng thuận xã hội, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, bảo vệ thành quả cách mạng chính là bảo vệ những giá trị đã được hun đúc qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, bảo vệ con đường phát triển mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Có thể nói, mục tiêu này khẳng định bản chất chính trị – xã hội sâu sắc của nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bảo vệ Tổ quốc với bảo vệ Đảng, chế độ và Nhân dân, qua đó tạo nền tảng vững chắc để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
2.4. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy – chuyển từ thế bị động sang chủ động phòng ngừa chiến lược
Trong điều kiện mới, bảo vệ Tổ quốc không thể chỉ đặt trọng tâm vào việc xử lý các tình huống khi nguy cơ đã hiện hữu, mà phải chuyển mạnh sang tư duy chủ động phòng ngừa, bảo vệ từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức chiến lược về quốc phòng, phản ánh yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh các mối đe dọa ngày càng đa dạng, phi truyền thống và khó nhận diện.
“Bảo vệ từ sớm, từ xa” trước hết là chủ động nắm chắc tình hình, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, phát hiện sớm các nguy cơ, thách thức có thể tác động đến an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia – dân tộc. Trên cơ sở đó, triển khai các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, không để hình thành điểm nóng, không để các mâu thuẫn, xung đột phát triển thành khủng hoảng hoặc xung đột vũ trang.
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa còn được thực hiện thông qua việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với đối ngoại, kinh tế và các lĩnh vực khác; chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng và duy trì các định chế khu vực và quốc tế, duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới; xử lý các vấn đề bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, qua đó giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Đồng thời, tư duy này cũng đòi hỏi phải xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng đủ mạnh, có khả năng răn đe, ngăn ngừa xung đột từ sớm; củng cố nội lực quốc gia, tăng cường “sức đề kháng” của xã hội trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài, đặc biệt trong không gian mạng và các lĩnh vực nhạy cảm.
Tóm lại, Việc xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy thể hiện bước chuyển căn bản từ tư duy bị động, ứng phó sang tư duy chủ động, phòng ngừa chiến lược, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, đồng thời tạo điều kiện giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
2.5. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững
Trong điều kiện mới, một trong những mục tiêu quan trọng của việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển, mà còn là biểu hiện tập trung của tư duy quốc phòng hiện đại: quốc phòng không chỉ nhằm chuẩn bị cho chiến tranh, mà trước hết là để ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hòa bình.
Giữ vững hòa bình, ổn định không đồng nghĩa với sự thụ động hay nhân nhượng, mà là kết quả của một nền quốc phòng đủ mạnh, có khả năng răn đe, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng tiềm lực quốc phòng vững chắc, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế; xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế, tranh thủ tối đa các điều kiện thuận lợi để phát triển, đồng thời kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định còn gắn với việc chủ động tham gia, đóng góp tích cực vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước; qua đó tạo “thế” và “lực” thuận lợi cho bảo vệ Tổ quốc bằng các biện pháp hòa bình, từ sớm, từ xa.
Như vậy, mục tiêu này khẳng định rõ bản chất của nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới: xây dựng quốc phòng không phải để tìm kiếm xung đột, mà để giữ vững hòa bình; không chỉ để chiến thắng trong chiến tranh, mà quan trọng hơn là để không phải tiến hành chiến tranh, tạo nền tảng ổn định cho phát triển bền vững đất nước.
2.6. Củng cố “thế trận lòng dân” – nền tảng vững chắc nhất của quốc phòng
Trong toàn bộ hệ mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, củng cố “thế trận lòng dân” giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là nền tảng bền vững nhất, nguồn sức mạnh nội sinh quyết định của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định: khi lòng dân được quy tụ, niềm tin được củng cố, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy, thì đó chính là “thành lũy” vững chắc nhất của quốc phòng.
“Thế trận lòng dân” không chỉ là sự ủng hộ về tinh thần, mà là sự gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là sự đồng thuận xã hội, niềm tin chính trị và ý chí chung của toàn dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện hiện nay, xây dựng “thế trận lòng dân” đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của người dân, qua đó củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.
Đồng thời, “thế trận lòng dân” còn được xây dựng thông qua việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Trong bối cảnh mới, việc bảo vệ “thế trận lòng dân” còn gắn với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, văn hóa của xã hội.
Tóm lại, “Thế trận lòng dân” là điểm hội tụ của mọi mục tiêu quốc phòng, vừa là nền tảng, vừa là điều kiện, vừa là nguồn sức mạnh quyết định để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
*
Hệ mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong điều kiện mới thể hiện một chỉnh thể thống nhất, trong đó bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu tối cao; bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ cốt lõi; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ là nội dung nền tảng; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là phương thức chủ đạo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện phát triển; và “thế trận lòng dân” là nền tảng quyết định. Sự kết hợp chặt chẽ các mục tiêu đó tạo nên định hướng chiến lược toàn diện, làm cơ sở để xác định những yêu cầu cụ thể trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
III. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN HIỆN NAY
3.1. Yêu cầu về nhận thức và tư duy chiến lược
Trong điều kiện mới, yêu cầu trước hết và có ý nghĩa quyết định là phải thống nhất cao về nhận thức và đổi mới mạnh mẽ tư duy chiến lược trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đây là tiền đề để định hướng đúng đắn mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Vì lẽ đó, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Quân đội và toàn quân cần quán triệt sâu sắc và triển khai thật hiệu quả quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; đặc biệt là đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, chính sách quốc phòng “bốn không” với tính chất hòa bình và tự vệ”[5].
Nhận thức về quốc phòng toàn dân cần được đặt trong chỉnh thể phát triển đất nước, quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác. Quốc phòng không phải là lĩnh vực tách biệt, mà là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển quốc gia, vừa phục vụ phát triển, vừa bảo vệ phát triển. Do đó, mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực đều phải có trách nhiệm tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng.
Đổi mới tư duy chiến lược trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải thể hiện rõ sự chuyển biến từ bị động, ứng phó sang chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa; từ chú trọng xử lý tình huống sang nâng cao năng lực dự báo chiến lược; từ tiếp cận truyền thống sang tiếp cận toàn diện trên cả các không gian mới như không gian số, không gian kinh tế và các lĩnh vực phi truyền thống. Đồng thời, cần nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nâng cao sức mạnh quốc phòng.
Việc thống nhất nhận thức không chỉ diễn ra trong đội ngũ cán bộ, lực lượng vũ trang, mà phải được quán triệt sâu rộng trong toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao về ý chí và hành động. Đây chính là cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
Có thể nói, đổi mới nhận thức và tư duy chiến lược là yêu cầu mở đầu, có tính định hướng và dẫn dắt, bảo đảm cho toàn bộ quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân được triển khai đúng hướng, hiệu quả và phù hợp với điều kiện mới.
3.2. Yêu cầu về xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn diện
Xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn diện là yêu cầu cơ bản, lâu dài và có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Trong điều kiện mới, tiềm lực quốc phòng không chỉ được hiểu theo nghĩa truyền thống, mà phải được phát triển một cách toàn diện, hiện đại, bao gồm các thành tố chủ yếu: tiềm lực chính trị – tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học – công nghệ và tiềm lực quân sự.
Trước hết, tiềm lực chính trị – tinh thần là nền tảng, giữ vai trò định hướng và chi phối các tiềm lực khác. Điều này đòi hỏi phải không ngừng củng cố bản lĩnh chính trị, niềm tin, ý chí và sự đồng thuận xã hội; giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, qua đó tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho quốc phòng.
Tiếp đó, tiềm lực kinh tế là cơ sở vật chất trực tiếp của quốc phòng. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt, bảo đảm khả năng huy động nguồn lực cho quốc phòng khi cần thiết; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng ngay trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển.
Đặc biệt, tiềm lực khoa học – công nghệ ngày càng trở thành yếu tố then chốt, có tính đột phá trong xây dựng sức mạnh quốc phòng. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi phải đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ các công nghệ mới, nhất là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ không gian mạng và các công nghệ quốc phòng hiện đại, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của toàn bộ tiềm lực quốc phòng.
Trên cơ sở đó, tiềm lực quân sự cần được xây dựng theo hướng vững mạnh, hiện đại, phù hợp với điều kiện của đất nước. Trong đó, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng; từng bước trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với yêu cầu tác chiến trong điều kiện mới; nâng cao khả năng bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, làm chủ trang bị, công nghệ; đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa phát triển tiềm lực quân sự với phát triển kinh tế – xã hội.
Tóm lại, xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn diện chính là tạo dựng nền tảng vật chất, tinh thần và công nghệ của sức mạnh quốc phòng, bảo đảm cho nền quốc phòng toàn dân có đủ “thế” và “lực” để thực hiện thắng lợi các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
3.3. Yêu cầu về xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân vững mạnh
Xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu trực tiếp nhằm hiện thực hóa sức mạnh quốc phòng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, còn Nhân dân là chủ thể quyết định của sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Trước hết, cần tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống.
Trên nền tảng đó, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức lực lượng theo mô hình ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Bộ đội chủ lực là lực lượng cơ động, có khả năng tác chiến trong các tình huống quan trọng; bộ đội địa phương giữ vai trò nòng cốt tại chỗ, gắn với địa bàn; dân quân tự vệ là lực lượng rộng khắp, trực tiếp bám dân, bám cơ sở. Sự kết hợp chặt chẽ giữa ba lực lượng này tạo thành thế trận quốc phòng rộng khắp, liên hoàn, có chiều sâu và khả năng ứng phó linh hoạt trong mọi tình huống.
Đặc biệt, trong nền quốc phòng toàn dân, Nhân dân không chỉ là hậu phương mà còn là chủ thể trực tiếp tạo nên sức mạnh quốc phòng. Vai trò quyết định của Nhân dân thể hiện ở việc tham gia xây dựng lực lượng, tham gia bảo vệ Tổ quốc, cung cấp nguồn lực và tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc. Do đó, xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân phải gắn chặt với việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, nâng cao ý thức quốc phòng, trách nhiệm công dân, qua đó biến sức mạnh tiềm tàng của Nhân dân thành sức mạnh hiện thực trong bảo vệ Tổ quốc.
Trong điều kiện mới, yêu cầu xây dựng lực lượng còn đòi hỏi phải chú trọng nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng hiệp đồng tác chiến, khả năng thích ứng với các hình thái chiến tranh mới, đặc biệt là trên không gian mạng và các lĩnh vực phi truyền thống, bảo đảm lực lượng vũ trang đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Có thể nói, xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân vững mạnh, với nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân và nền tảng là Nhân dân, chính là nhân tố trực tiếp quyết định khả năng tổ chức và phát huy sức mạnh quốc phòng, bảo đảm cho nền quốc phòng toàn dân thực sự vững mạnh trong thực tiễn.
3.4. Yêu cầu về kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác
Trong điều kiện mới, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác không chỉ là một quan điểm nhất quán, mà trở thành một yêu cầu mang tính nguyên tắc, bảo đảm cho việc phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Báo cáo Chính trị Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu: “Thực hiện có hiệu quả 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước”[6].
Trước hết, kết hợp quốc phòng với kinh tế phải được thực hiện ngay từ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, bảo đảm mỗi bước phát triển kinh tế đều góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng, đồng thời quốc phòng tạo điều kiện, bảo vệ vững chắc môi trường ổn định cho phát triển kinh tế. Điều này đòi hỏi phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển các vùng kinh tế với xây dựng khu vực phòng thủ; phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt với yêu cầu bảo đảm quốc phòng; chú trọng phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, phục vụ cả mục tiêu phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với đó, kết hợp quốc phòng với đối ngoại ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Quốc phòng không chỉ là công cụ bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh quân sự, mà còn là một trụ cột trong việc giữ vững hòa bình, ổn định thông qua các hoạt động đối ngoại quốc phòng, xây dựng lòng tin, tăng cường hợp tác, chủ động phòng ngừa xung đột từ sớm, từ xa. Việc xử lý các vấn đề quốc tế phải đặt trong tổng thể lợi ích quốc gia – dân tộc, kết hợp hài hòa giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược.
Ngoài ra, yêu cầu kết hợp còn phải được mở rộng sang các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, môi trường và không gian số. Mỗi lĩnh vực đều có vai trò nhất định trong việc tạo dựng “thế” và “lực” của quốc phòng. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và các hạ tầng số trở thành một nội dung mới, có ý nghĩa chiến lược của quốc phòng.
Như vậy, yêu cầu kết hợp quốc phòng với kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác chính là cơ chế vận hành tổng thể của nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ, giữa phát triển và an ninh, qua đó phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong điều kiện mới.
3.5. Yêu cầu về xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc
Trong điều kiện mới, xây dựng “thế trận lòng dân” không chỉ là một mục tiêu, mà trở thành một yêu cầu có tính nguyên tắc trong tổ chức xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đây là quá trình chủ động, thường xuyên, lâu dài nhằm tạo dựng sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, qua đó hình thành nền tảng chính trị – tinh thần vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, ngày 30/9/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu Quân đội nhân dân cần phải: “thực hiện thật tốt phương châm dựa vào dân, dân là gốc, là chủ thể, là trung tâm của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[7].
Trước hết, yêu cầu cốt lõi là phải gắn chặt phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Chỉ khi lợi ích thiết thực, chính đáng của người dân được bảo đảm, thì niềm tin xã hội mới được củng cố, “lòng dân” mới thực sự bền vững. Do đó, mọi chủ trương, chính sách phát triển phải hướng tới mục tiêu cao nhất là vì con người, vì hạnh phúc của Nhân dân.
Cùng với đó, cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Việc lắng nghe ý kiến Nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân chính là những yếu tố trực tiếp củng cố “thế trận lòng dân”.
Một yêu cầu quan trọng khác là phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, xây dựng bộ máy trong sạch, vững mạnh. Đây không chỉ là yêu cầu về xây dựng hệ thống chính trị, mà còn là điều kiện then chốt để củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Trong bối cảnh mới, xây dựng “thế trận lòng dân” còn gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng – văn hóa, đặc biệt trên không gian mạng; chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, không để các thông tin xấu, độc làm suy giảm niềm tin xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tóm lại, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc không chỉ là tạo dựng nền tảng chính trị – xã hội cho quốc phòng, mà còn là điều kiện tiên quyết để huy động, tổ chức và phát huy sức mạnh toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho nền quốc phòng toàn dân có gốc rễ sâu bền và sức sống lâu dài trong thực tiễn.
3.6. Yêu cầu về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ quốc phòng
Trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhân tố quyết định, bảo đảm cho toàn bộ hoạt động quốc phòng được định hướng đúng đắn, tổ chức chặt chẽ và triển khai hiệu quả. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc, mà còn là điều kiện tiên quyết để giữ vững bản chất chính trị của nền quốc phòng toàn dân. Hơn thế nữa, “Đây là vấn đề sống còn, quyết định bản chất và sức mạnh của Quân đội ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội cũng là điều kiện tiên quyết”[8].
Trước hết, cần tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng. Điều này đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện hiệu quả các quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự thống nhất giữa nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và toàn xã hội.
Cùng với đó, phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng; tăng cường năng lực điều hành, phối hợp giữa các cấp, các ngành; bảo đảm quản lý thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ các nguồn lực quốc phòng. Việc thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm minh là yếu tố quan trọng bảo đảm cho quốc phòng được triển khai một cách hiệu quả trong thực tiễn.
Đồng thời, cần phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, các cấp, các ngành, địa phương cùng tham gia, tạo sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân. Đây chính là biểu hiện sinh động của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ trong lĩnh vực quốc phòng.
Như vậy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước chính là yếu tố bảo đảm cho toàn bộ các yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân được triển khai thống nhất, hiệu quả, giữ vững định hướng chính trị và phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
*
Có thể nói, các yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong điều kiện mới được hình thành trên một chỉnh thể thống nhất, từ đổi mới nhận thức và tư duy chiến lược, xây dựng tiềm lực toàn diện, xây dựng lực lượng vững mạnh, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với các lĩnh vực, củng cố “thế trận lòng dân”, đến tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Sự kết nối chặt chẽ giữa các yêu cầu đó tạo thành cơ chế vận hành đồng bộ của nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm cho các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được hiện thực hóa một cách hiệu quả, bền vững trong điều kiện mới.
KẾT LUẬN
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong điều kiện mới là yêu cầu khách quan, mang tính chiến lược lâu dài của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn với bối cảnh quốc tế, trong nước và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, việc xác định đúng mục tiêu và những yêu cầu cơ bản của nền quốc phòng toàn dân có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả bảo vệ Tổ quốc.
Hệ mục tiêu được xác định rõ ràng, toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, với tư duy chủ động bảo vệ từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình và củng cố “thế trận lòng dân”. Trên cơ sở đó, các yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân được triển khai đồng bộ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất về nhận thức, tiềm lực, lực lượng và cơ chế vận hành.
Trong bối cảnh mới, chỉ khi quán triệt sâu sắc và thực hiện hiệu quả các mục tiêu, yêu cầu đó, chúng ta mới có thể phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững và hạnh phúc của Nhân dân.
GS,TS Tạ Ngọc Tấn
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, 2 tập, Nxb. CTQG Sự thật, HN, 2026.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, 2 tập, Nxb. CTQG Sự thật, HN, 2021.
- V.I. Lê-nin: Toàn tập, t.37, Nxb. Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, 1978.
- Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, HN, 2011.
- Tô Lâm: Quân đội nhân dân vững bước dưới cờ Đảng quang vinh; VOV.vn, ngày 21/12/2025.
- Tô Lâm: Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Hà Nội, ngày 30/9/2025.
[1] V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t.37, tr. 145.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 179.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t. 1, Nxb CTQG Sự thật, HN, 2026, tr.77.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t. 1, Sđd, tr. 113.
[5] Tô Lâm: Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, ngày 30/9/2025.
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t. 1, Sđd, tr. 114.
[7] Tô Lâm: Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, ngày 30/9/2025.
[8]. Tô Lâm: Quân đội nhân dân vững bước dưới cờ Đảng quang vinh; VOV.vn, ngày 21/12/2025.